tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Lý luận phê bình văn học
16.08.2010
Hoàng Sỹ Nguyên
Thơ Mới nhìn từ sự vận động thể loại (5)

 


Có nỗi buồn đau, sự “ra đi” trong Thơ mới, ngoài âm vọng của lịch sử còn là sự dồn nén bi kịch của con người cá nhân: không có sự hòa hợp giữa cá nhân với cộng đồng, giữa lí tưởng và hiện thực. Cái tôi trữ tình sầu buồn này cũng thể hiện tâm thế của nhà thơ thời đại lúc bấy giờ. Đành rằng đây là cái tôi cô đơn, bế tắc, nhưng phê phán gay gắt đến độ cho nó là “suy đồi, bạc nhược, phản động” như quan niệm trong Sách giáo khoa Văn học lớp 11 cũ (Nxb Giáo dục, H, 1984) thì chưa phù hợp. Sống trong cảnh nước mất, nhà tan, cái tôi bơ vơ còn hoài nghi về tương lai, quá khứ thì lùi xa nên họ không có chỗ bấu víu. Vui thì lạc điệu nên buồn là đúng. Buồn cũng là một động thái tích cực phủ nhận xã hội. Mà có yêu đời thì mới đau nỗi sầu đau, mới buồn cho thân phận, và muốn “ra đi” để xóa bỏ buồn đau. Hơn nữa, quan điểm mĩ học của các thi sĩ lãng mạn là thích nói về nỗi cô đơn, sầu buồn. Họ quan niệm: " Không rên xiết là thơ vô nghĩa lí ” (Hàn Mặc Tử). Càng gợi được nỗi u sầu, điệu buồn thương thì thơ càng đạt đến sự "huyền nhiệm" giao tiếp của cái tôi cá nhân đơn nhất, cá biệt. Theo họ, chỉ có bến sầu, đau khổ dở dang thì tình mới đẹp:


            - Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề,


            Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở


            Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,


            Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...


                                     (Ngập ngừng - Hồ Dzếnh)


            - Thuyền yêu không ghé bến sầu


            Như đêm thiếu phụ lên lầu không trăng.


                                 (Một mùa trăng - Lưu Trọng Lư)


Điều đáng qúy là buồn thương nhưng chưa bao giờ các nhà Thơ mới mất đi tinh thần dân tộc. Cái tôi trữ tình Thơ mới đã biết lấy "bi kịch" cuộc đời để "gửi cả vào Tiếng Việt". "Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu Tiếng Việt" (Hoài Thanh). Sự phân hóa của cái tôi trữ tình giai đoạn cuối đã đẩy thơ Việt bước vào địa hạt tượng trưng, siêu thực - một con đường phát triển của quá trình thơ Việt Nam gia nhập vào qũy đạo chung của văn học thế giới.


*


*        *


Nhìn tổng thể, bước vận động của cái tôi trữ tình trong Thơ mới 1932-194 là một bước đi không ngưng nghỉ, một bước đi mau lẹ và biến chuyển liên tục. Kiểu nhà thơ của Thơ mới 1932- 1945 vừa ra đời đã vụt lớn, khẳng định, và phân hóa. Cái tôi trữ tình buổi đầu (trong vai trò kiểu nhà Thơ mới) có công phá vỡ thành trì của hệ thống thi pháp trung đại, tiếp thu phương Tây, mở ra những hình thức biểu đạt cảm xúc mới của con người cá nhân tự do. Cái tôi trữ tình giai đoạn trưởng thành có công gạn đục khơi trong, vừa khẳng định mình vừa chuyên môn hóa cao hơn "nghề thi sĩ", đưa thơ đến đỉnh viên mãn của phong trào Thơ mới.  Cái tôi trữ tình thời kì phân hóa đã tìm đến các lối rẽ ngôn ngữ mới, đưa thơ Việt Nam hiện đại bước vào tượng trưng, siêu thực - kết thúc một chặng đường lịch sử thi ca độc đáo trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.


 


 


Chương II


SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THỂ THƠ, CÂU THƠ


           


            Thể thơ, câu thơ, các dạng thức của khổ thơ, bài thơ là hình thức tồn tại của cái tôi trữ tình. Tùy theo nhu cầu thẩm mĩ và cơ tầng văn hóa tình cảm của con người thời đại mà hình thức thể thơ, câu thơ biến đổi. Trong thơ cổ, cảm xúc được gợi lên bằng thuộc tính khách thể nên thể thơ, câu thơ tuân theo sự quy định nghiêm ngặt của các thể thơ định sẵn. Sự lựa chọn cũng chỉ khoanh vùng trong một số rất ít các thể thơ Đường luật, tuân thủ những quy phạm nghiêm ngặt. Các hình thức thơ quy phạm dường như đã phải bất lực trước những tâm trạng ngổn ngang, nhiều chiều, nhiều biến động của con người thời mới. Trong thơ hiện đại, tính chủ quan của cảm xúc đã mách bảo nhà thơ lựa chọn các thể thơ và câu thơ. Đó là sự lựa chọn phù hợp điệu thức tâm hồn, phù hợp cảm xúc cần bộc lộ của kiểu nhà Thơ mới.  Trong sự vận động của các thể thơ, câu thơ, sự dao động, biến hóa cũng rất lớn. Ở Tìm hiểu thơ, Mã Giang Lân giới thiệu 12 thể thơ: thơ hai chữ(*), thơ ba chữ, thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, truyện thơ - thơ dài và trường ca, một số bài thơ có dạng đặc biệt. Trong Thơ mới,  12 thể thơ này hầu như đều có mặt.




            (*)khi nói về thể thơ, các nhà nghiên cứu thường có những các viết khác nhau, dùng: “ngôn”, “từ”, “chữ”, “tiếng”. Chúng tôi trích chính văn nên giữ nguyên cách gọi đó của các tác giả. Riêng chuyên luận dùng một cách gọi thống nhất là “tiếng”. Dùng “ngôn” như ngũ ngôn, thất ngôn thường để chỉ     Khảo luận luật thơ trong Thơ mới, Lam Giang đi vào luật vận của thể thơ tám chữ, thơ hai chữ và một số thể thơ “theo khuynh hướng phục cổ” [45]. Bùi Đức Tịnh khái quát về Thơ mới nhận xét: “Các nhà Thơ mới đã dọ dẫm từ những câu thơ 2 chữ đến những câu 12 chữ (mà có người mô phỏng thơ Pháp đã gọi là “vế”, dịch âm tiếng Pháp pied). Nhưng rốt cuộc các thể câu đặc dụng nhứt là những câu 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ (và đôi khi 9 chữ) [160,322]. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cũng cho rằng những thể thơ thất ngôn (7 tiếng), ngũ ngôn (5 tiếng), 8 tiếng là những thể thơ phát triển của Thơ mới: “Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh. Không hẳn là cổ phong. Cổ phong ngày xưa đã thúc lại thành Đường luật. Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do luật Đường giãn và nới ra cho nên êm tai hơn. Cũng có lẽ vì nó ưa vần bằng hơn vần trắc.


            Ca trù biến thành thơ tám chữ. Thể thơ này ra đời từ trước 1936, nghĩa là trước khi ông Thao Thao đề xướng. Yêu vận mất. Phần nhiều vần liên chân. Lục bát vẫn được trân trọng: ảnh hưởng chuyện Kiều và ca dao. Song thất lục bát cơ hồ chết, không hiểu vì sao. Lục ngôn thể trước chỉ thấy trong Bạch vân thi tập thỉnh thoảng cũng được dùng.


            Từ khúc mà hồi đầu người ta toan đưa làm thể chính thức của Thơ mới cũng đã chết dần cùng với thể thơ tự do”[138,43].


            Tác giả Thơ ca Việt Nam- hình thức và thể loại cũng sớm nhận ra điều này: “Thơ mới đã vận dụng nhiều hình thức nhưng phổ biến hơn cả là thể thơ 5 từ, 7 từ và 8 từ” [112,289]


 




thể thơ cổ; dùng “từ” rất khó xác định bởi từ có khi trùng, có khi không trùng với “tiếng”; dùng “chữ” gần với “tiếng”, nhưng đặc điểm cơ bản của thơ là âm vang nên dùng “tiếng” hợp lí hơn.


            Qua thống kê, khảo sát Thơ mới 1932-1945, ở góc nhìn sự vận động của thể thơ, câu thơ, chúng tôi thống nhất theo các ý kiến trên, đi vào một  số thể thơ tiêu biểu mang tính đại diện, chủ lực của từng giai đoạn.


 


            1. SỰ CÁCH TÂN VỀ THỂ THƠ, CÂU THƠ


1.1. Bước khởi đầu của sự lựa chọn thể thơ, câu thơ


Cái tôi trữ tình cá nhân ra đời đã đưa đến những tư tưởng, tình cảm mới. Thơ cũ với những niêm luật khắt khe không phù hợp và cũng không thể chuyên chở được những tâm hồn mới nên tất yếu phải có sự thay đổi. Sự đổi mới hình thức thơ của phong trào Thơ mới là một nhu cầu bức thiết, phù hợp với cơ tầng văn hóa tình cảm  của con người thời hiện đại.


Nói về hình thức của Thơ mới, Bùi Đức Tịnh lis giải: “Thơ mới chỉ chung các loại thơ không áp dụng những quy tắc cố định của thơ cổ điển. Ban đầu, khi phong trào mới phát khởi, Thơ mới là thơ không hạn định số chữ trong mỗi câu, số câu trong mỗi bài, tiết điệu không nhứt định, gieo vần theo các lối được áp dụng trong thơ Pháp. Nhưng về sau, các nhà làm Thơ mới vẫn giữ những thể 5 chữ, 8 chữ và làm cả thơ lục bát; tính cách mới về hình thức chỉ còn trong lối phô diễn (tự nhiên như văn xuôi), trong ngôn ngữ được áp dụng và trong cách ngắt câu (ở tất cả các phương diện này, đều biểu hiện ảnh hưởng của tiếng Pháp và thơ Pháp)” [160,319]. Cũng theo Bùi Đức Tịnh, bài thơ được coi nguồn gốc của Thơ mới là bài Con ve và con kiến (La Cigale et la Fourmi) được Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ thơ của La Fontaine theo lối gieo vần của thơ Pháp:


            Ve sầu kêu ve ve


            Suốt mùa hè.


            Đến kì gió bấc thổi,


            Nguồn cơn thực bối rối;


            Một miếng cũng chẳng còn;


            Ruồi bọ không một con


            Vác miệng chịu khúm núm


            Sang chị kiến hàng xóm,


            Xin cùng chị cho vay


            Dăm ba hạt qua ngày...


So với thơ cũ, bài dịch thơ này không có sự gò bó trong khuôn phép. Chín câu 5 tiếng, có 1 câu 3 tiếng xen vào tự do. Vần được gieo là vần liền của thơ Pháp. Thời kì này cũng có một số bài thơ được làm theo lối mới - gọi là “thơ buông” nhưng chưa rõ nét, chưa gây được sự chú ý của dư luận. Mãi đến năm 1932, sau sự khởi phát của Phan Khôi, Thơ mới mới được “sinh hạ” và “khôn lớn”.


Dấu hiệu đầu tiên của sự đổi mới, sự tự do lựa chọn là việc bừng nở về thể loại thơ. Vừa ra đời, các nhà Thơ mới đã làm cuộc thử nghiệm với tất cả các thể thơ đối với loại hình đơn âm tiết, đa thanh của Tiếng Việt. Bảng thống kê thể thơ qua một số tuyển tập Thơ mới dưới đây cho thấy rõ điều đó:


 


 


 


























































3



Thi nhân Việt Nam tiền chiến (Nguyễn Tấn Long)



 



7



90



481



497



135



22



277



1509



Text Box: * Bảng 1  2



Tuyển tập Tác giả -Tác phẩm Thơ mới 32 - 45


(Nxb NV,H, 2001)



 



8



54



450



241



154



8



169



1084



1



Thi nhân Việt Nam


(Hoài Thanh -Hoài Chân)



1



1



15



66



43



25



9



8



168



TT



 


Thể thơ


 


 


                    Tuyển tập



2



4



5



7



8



Lục bát



Song thất lục bát



Hợp thể và tự do



Tổng số



 


 


 

















































































Tổng số



23



28



51



 



Hợp thể và tự do



9



11



20



39,2



Song thất lục bát



3



1



4



7,8



Lục bát



2



2



4



7,8



8



4



5



9



17,7



Text Box: * Bảng 2  7



5



8



13



26



5



 



1



1



2



4



 



 



 



 



2



 



 



 



 



Thể thơ


 


Tập thơ



Tiếng sóng


Yêu đương (1934)



Mấy vần thơ (1935)



Cộng



Tỷ lệ (%)



TT



1



2



 


 


 






































































































































































































































































Tổng số



21



36



46



52



50



34



239



 



Hợp thể và tự do



1



 



3



18



 



 



22



9,2



Song thất lục bát



 



 



 



 



 



 



 



 



Lục bát



1



 



4



6



8



9



28



11,7



8



 



32



11



 



17



 



60



25



Text Box: * Bảng 3  7



16



4



22



25



18



23



108



45,1



5



3



 



4



2



5



2



16



6,9



4



 



 



2



1



2



 



5



2,1



2



 



 



 



 



 



 



 



 



Thể thơ


 


Tập thơ



Gái quê (1936)



Điêu tàn (1937)



Thơ thơ (1938)



Tiếng thu (1939)



Lửa thiêng (1940)



Lỡ bước sang ngang (1940)



Tổng cộng



Tỷ lệ (%)



TT



1



2



3



4



5



6



 



Tổng số



45



36



40



51



172



 



 



 



Hợp thể và tự do



1



8



 



1



10



5,8



 



 



Song thất lục bát



 



 



 



 



 



 



 



 



Lục bát



 



1



5



3



9



5,2



 



 



Text Box: * Bảng 4  8



44



3



10



21



78



45,4



 



 



7



 



24



21



25



70



40,7



 



 



5



 



 



3



1



4



2,3



 



 



4



 



 



1



 



1



0,6



 



 



2



 



 



 



 



 



 



 



 



Thể thơ


 


Tập thơ



Bức tranh quê (1941)



Mây (1943)



Hoa niên (1945)



Gửi hương cho gió (1945)



Tổng cộng



Tỷ lệ



 



 



TT



1



2



3



4



 


                               

 


            Thời kì này, người làm thơ hầu như không chú ý đến thể thơ, câu thơ như trong thơ cổ. Trong Phong hóa số 36, tháng 3 năm 1933, Nhất Linh viết, người làm thơ chỉ cần điệu thơ, "muốn có điệu thơ, muốn cho câu văn "lướt theo ý tưởng", nếu câu thơ bảy chữ không diễn đạt được thì dùng sáu hay năm, hay mười hai chữ, bất cứ, miễn là sao cho tả được cái cảm của nhà viết thơ" (Phong Hóa  số 36, tháng 3 năm 1933). Bởi vậy, trong giai đoạn đầu (1932-1935), chúng ta gặp cuộc thí nghiệm táo bạo các thể thơ với câu thơ dài ngắn tùy ý. Ví dụ:


Câu 1, 2, 3 tiếng:          


            Lá bàng


            Như lá vàng


            Rụng.


            Ôi! Đìu hiu


            Cánh chiều


            Đông!


                        (Mùa đông - Nam Trân)


Câu thơ 3, 4 tiếng:        


            Gió lọt phòng không


            Tạt hơi đồng


            Lạnh như đồng


            Ngồi tơ tưởng...


 


            Tình xưa phất phưởng


            Ấm dịu cõi lòng


                  (Viếng phòng không - Nguyễn Thị Manh Manh)


Có khi 9, 10 đến 27 tiếng như bài Bà Lafugie nhà thám hiểm và họa sĩ:


            Người từng lướt đi chẳng kể nắng nung, tuyết lạnh, đất nghiêng, đá vỡ.


            Người ăn vận như bạn trai, ngồi lưng tựa long chong


            Mà qua đèo, xuống hố, lên dốc, lội hào


            Cùng một bọn tùy tùng dân lạ, sấn đi giữa non núi chình chòng...                                          


            Các anh ơi, đó là nhà thám hiểm, lại là giống đàn bà đem cái trí, cái tài, cái gan của mình để phục vụ khoa học...


                                    (Nguyễn Thị Manh Manh)


Trong thơ cổ, thể loại không nhiều, cấu trúc của nó là những bài thơ của từng thể thơ cụ thể. Đến Thơ mới, sự phá vỡ các luật lệ khắt khe trong cuộc thử nghiệm ban đầu đã đưa đến sự xuất hiện các bài thơ tự do, hợp thể, thơ văn xuôi... Mục đích chính của thơ là xóa đi khuôn phép cũ, ghi lại kịp thời những biến thái phức tạp, tế vi thoắt biến thoắt hiện của cái tôi trữ tình cá nhân.


Lúc đầu nhiều người vẫn tưởng đổi mới thơ là đổi mới vần, luật, thể. Có những "bài thơ" không làm theo niêm luật nào nên cho là Thơ mới nhưng thực ra chẳng đáng là thơ. Ví dụ:


                        Sai con


            Mặt bẩn sao không lau.


            Con ra lấy cái thau.


            Đổ nước, mang khăn mặt.


            Mau!


( Phương Lan - Phong hóa số 26, tháng 12 năm 1932).


                        Thơ Tết.


            ... Cuối năm đẻ con gái


            Tăng phúc và tăng thọ.


 


            Quanh năm vất vả nhiều,


            Tết ăn chơi cho bõ.


            Mấy ngày tuyệt phong lưu


            Rồi kéo cày giả nợ.


 ( Nguyễn Lê Bông - Phong hóa số 31, tháng 1 năm 1933).


            Đức Thánh đồng đen


                    ... Tôi chưa hề thấy vị thánh thần nào to lớn như ngài!


                    Ngài ngồi giữa gian chùa chật, cao nghiêm chễm chệ trên ngai!


                    Trong cung vàng mờ tối ấy! Không ẩn hình một con muỗi!!


                    Da thịt ngài đều bằng đồng. Ngài trạc năm sáu mươi tuổi.


      ( Nguyễn Vỹ - Phong hóa số 127, tháng 12 năm 1934).


            Hoài Thanh tâm sự rằng: "Tôi đã đọc tất cả một vạn bài thơ và trong số ấy có non một vạn bài dở" [138,365]. Thực ra thì ở thời nào sáng tác văn học cũng có những bài hay, bài dở. Song trong giai đoạn đầu này, nhiều người lầm tưởng giữa cách nói nôm na với Thơ mới nên thơ dở có dấu ấn của sự thử nghiệm.


Phái Thơ mới hô hào đổi mới, "thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng" (Lưu Trọng Lư, Phong Hóa số 31, tháng 1 năm 1933). Giọng điệu thơ là giọng điệu của tiếng nói đời sống hàng ngày, không hoàn toàn bị bó buộc bởi niêm luật cổ, song vẫn còn bóng dáng thơ truyền thống. Sự hồn nhiên, chân thành của cái tôi mới được giải phóng lại đưa nó về gần với thơ ca dân gian.  Mã Giang Lân [74] cho rằng Lưu Trọng Lư có mối quan hệ về giọng điệu giữa thơ ông với bài ca dân gian:


            Rồi ngày lại ngày


            Sắc màu: phai


            Lá cành: rụng


            Ba gian: trống.


            Xuân đi.


            Chàng cũng đi.


            Năm nay xuân còn trở lại


            Người xưa không thấy tới.


                              (Vắng khách thơ -  Lưu Trọng Lư)


                 … Còn ba cái trứng nở ra ba con


            Con - diều tha


            Con - quạ bắt


            Con - cắt lôi.


            Chớ than phận khó ai ơi


            Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây.


                         ( Ca dao Bình Trị Thiên).


Nguyễn Thị Manh Manh (Nguyễn Thị Kiêm) cũng tạo ra những câu thơ giọng điệu dân ca, giọng điệu đồng dao:


            Hai cô thiếu nữ đi ra đồng


            (Một cô ở chợ, một cô ở đồng)


            Hai cô thiếu nữ đi ra đồng


            Một mảnh lụa hồng, một vốc vải đen.


( Nguyễn Thị Manh Manh - Phụ nữ Tân văn, 1933).


Lối câu văn xuôi nhịp điệu, biền ngẫu cũng được sử dụng khá nhiều:


             Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.


            Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh,


            Kề nhau than thở:


            Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn là không đặng.


            Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau?


                                                      (Tình già -  Phan Khôi)


- Lần bước tiếng gieo thầm, bóng ai kia lủi thủi


            Lẳng lặng với sương gieo, im lìm cùng gió thổi,


 Không tiếng, không tăm, không thưa, không hỏi.


            Không hát, không cười, không than, không tủi.


                            (Trên đường đời -  Lưu Trọng Lư)


Tình già và Trên đường đời là ghi lại giọng điệu của dòng cảm xúc. Nó cũng thể hiện rõ sự tương tác thể loại giữa thơ và văn xuôi. Đến những năm 1934 - 1935, học tập lối thơ Pháp, một số nhà thơ thể nghiệm thể thơ 12 chân (Nguyễn Vỹ, Mộng Sơn, Trương Tửu). Bài Viếng mồ lữ khách của Mộng Sơn sử dụng câu thơ Alexandrin, 12 chữ:


        Tôi đến đây, lữ khách ơi, lòng quạnh hiu như bóng xế.


        Tôi sẽ còn đến đây với những cánh hoa đượm lệ.


        Để tôi nghe khóc hồn anh lâm li suối chảy bên đồi


        Để tôi nghe khóc hồn anh những giọt lệ suối lòng tôi


                                          (Viếng mồ lữ khách - Mộng Sơn)


Có ý kiến cho rằng, thể loại của Thơ mới không có gì mới so với thể loại thơ cũ, bởi vì các thể thơ Thơ mới dùng đều đã có trong thơ cũ. Thực ra, đúng là ngoài những bài thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ từ 9 tiếng trở lên, Thơ mới đã sử dụng hầu hết các thể thơ truyền thống trong thơ ca dân gian, thơ ca bác học, nhưng không phải là những thể thơ đi kèm với niêm luật khắt khe nữa mà chỉ còn là những  khuôn hình lỏng lẻo để ghi lại dòng cảm xúc, tâm trạng. Điều này càng được biểu hiện rõ hơn trong sự vận động đổi mới của dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ.


1.2. Sự năng động của dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, bài thơ


Trong thơ cổ, dòng thơ có số tiếng cố định theo từng thể thơ. Phổ biến là dòng 7 tiếng (thơ Đường luật), dòng 5 tiếng (thơ Ngũ ngôn), dòng 6, 8 (trong thơ Lục bát). Ở Thơ mới, dòng thơ bị phá vỡ về số lượng tiếng, thành những phát ngôn dài ngắn tùy hứng.


 


THỐNG KÊ THỂ LOẠI DÒNG THƠ (SỐ TIẾNG/DÒNG)


 



























































































































































































































































































Tổng số



1043



1016



2059



 



12



13



1



14



0,7



11



5



3



8



0,3



10



21



25



46



2,2



9



108



79



187



9,1



Text Box: *Bảng 5  8



467



480



947



46



7



280



339



619



30,1



6



102



62



164



8



5



7



24



31



1,5



4



12



1



13



0,6



3



28



2



30



1,5



2



 



 



 



 



Tiếng


 


 


Tập thơ



Tiếng sóng yêu đương (1934)



Mấy vần thơ (1935)



Tổng cộng



Tỷ lệ



TT



1



2



Tổng số



313



726



882



844



958



955


 



4678



 



 



12



 



 



 



 



 



 



 



 



 



11



 



 



 



 



 



 



 



 



 



10



 



 



 



 



 



 



 



 



 



9



 



3



 



 



 



 



3



 



 



Text Box: *Bảng 6  8



4



664



347



69



478



152



1714



36,6



 



7



210



59



403



446



300



610



2028



43,4



 



6



7



 



26



83



47



152



315



6,7



 



5



81



 



62



138



89



40



410



8,8



 



4



7



 



42



89



42



1



181



3,9



 



3



2



 



2



17



2



 



23



0,5



 



2



2



 



 



2



 



 



4



 



 



Tiếng


Tập thơ



Gái quê (1936)



Điêu tàn (1937)



Thơ thơ (1938)



Tiếng thu (1939)



Lửa thiêng (1940)



Lỡ bước sang ngang (1940)



Tổng cộng



Tỷ lệ



 



TT



1



2



3



4



5



6



 


                         

 


 


































































































































Tổng số



644



791



682



1195



3312



 



12



 



 



 



 



 



 



11



 



3



 



 



3



0,1



10



1



22



 



 



23



0,7



9



 



30



1



 



31



0,9



Text Box: *Bảng 7  8



638



172



251



660



1721



52



7



5



440



337



487



1269



38,3



6



 



36



25



22



83



2,5



5



 



46



44



20



110



3,3



4



 



35



24



6



65



2



3



 



7



 



 



7



0,2



2



 



 



 



 



 



 



Tiếng


Tập thơ



Bức tranh quê (1941)



Mây (1943)



Hoa niên (1945)



Gửi hương cho gió (1945



Tổng cộng



Tỷ lệ



TT



1



2



3



4



 


            Xem thống kê bảng 5, 6, 7 ở trên ta thấy có đủ các loại dòng thơ có số tiếng từ 2, 3, 4 đến 10, 11, 12, thậm chí có dòng dài 24, 27 tiếng (thơ Phan Khôi, Nguyễn Thị Manh Manh). Việc đổi mới dòng thơ với những chuỗi phát ngôn kéo dài hay thu ngắn cho phép nhà thơ diễn tả các trạng thái cảm xúc một cách dễ dàng hơn.


Đơn vị dòng thơ trong thơ cổ thường trùng với đơn vị câu thơ, nhịp thơ vì thế cũng trung thành với khuôn sẵn có. Sang Thơ mới, nhìn tổng thể, số dòng thơ tăng lên, số câu thơ giảm xuống và câu thơ trở nên phức tạp hơn, nhịp thơ cũng từ đó mà linh hoạt, sống động hơn. Cái tôi trữ tình cũng thất thường trong Thơ mới không có công ráp chữ, tỉa tót câu thơ như các cụ đồ nho ngày xưa mà dựa vào quy luật "hơi" để tạo ra độ dài ngắn của câu thơ, bài thơ. Chúng ta gặp ở Thơ mới trường hợp dòng lớn hơn câu:


            Đường nắng. Trong đâu tiếng nói cười


            Bay ra rộn rã ghẹo bên tai   


                                   (Trưa - Thế Lữ)


            Đã lâu ngày. Ngõ um! Lá vàng rơi


             Đón ai vào mà ngõ kia em phải xới


                                  (Lòng cô phụ -  Lưu Trọng Lư)


Hoặc câu lớn hơn dòng, câu thơ bắc cầu mà thơ cổ không có :


            Tiếng vi vút như khuyên van, như dìu dặt


            Như hắt hiu cùng hơi gió heo may


                                  (Tiếng trúc tuyệt vời - Thế Lữ)


            Vì tình duyên, ân nghĩa ở đời.


            Cho cả nỗi sầu tư đau xót nữa,


            Cho đến cả chân tình, than ôi! Tôi cũng sợ


            Là những trò giả dối của lòng ta


                                              (Lời mỉa mai - Thế Lữ)     


Việc đổi mới kiểu ngắt câu, linh hoạt dòng thơ phần nào làm tăng tính gợi cảm và màu sắc tự nhiên của thơ. Hình thức này ở các giai đoạn sau của phong trào Thơ mới và thơ sau 1945 được dùng  nhiều.


Cùng với sự biến hóa của câu thơ là sự biến đổi của khổ thơ. Thơ trung đại không có khổ thơ tồn tại như một đơn vị cấu trúc của bài thơ mà theo từng phần bố cục quy định sẵn của từng thể thơ cụ thể. Hễ thơ Đường luật thất ngôn bát cú thì cứ 8 câu chia ra Đề - Thực - Luận - Kết. Song thất lục bát thì cứ hai câu thất và một câu lục, một câu bát làm thành khổ. Bài thơ hát nói thì có 11 câu không kể mưỡu đầu và mưỡu cuối. Đến Thơ mới khổ thơ đã được tồn tại như một đơn vị cấu trúc ngôn ngữ. Một bài thơ có thể có nhiều khổ. Mỗi khổ có số câu có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau. Bài thơ sau đây của Lưu Trọng Lư có 6 câu được chia làm 2 khổ không đều: 4 - 2.


            Hoa lan quên nở trên giàn:


            Nhớ ai em để tiếng đàn ngừng đưa?


            Tiếc gì em nửa đường tơ!


            Cho hoa quên nở, trăng mờ quên soi...


                                                                                                                     


            Chờ em đêm đã khuya rồi!


            Rộn ràng lá đổ, vàng rơi đầy thềm.


                                      (Đã khuya rồi - Lưu Trọng Lư)


Cấu trúc bài thơ của Thơ mới cũng không gắn với kiểu bài thơ tứ tuyệt, bài thơ song thất lục bát... mà nó cũng đã là một đơn vị cấu trúc ngôn ngữ loại thể nói chung. Bài thơ bây giờ cũng dài ngắn tùy "hơi'' thơ của tác giả, tạo điều kiện cho cái tôi trữ tình bộc lộ mọi cung bậc tình cảm, mọi trạng thái tâm trạng, mọi nhịp rung ngân tơ lòng lúc dài, lúc ngắn khác nhau.


Giai đoạn đầu là giai đoạn thử nghiệm, định hình của phong trào Thơ mới. Theo quy luật vận động biện chứng, giai đoạn này là giai đoạn cái mới ra đời và đấu tranh cho cái mới thắng lợi, để từ đó tạo ra thành tựu.  Rõ ràng, chúng ta không đòi hỏi gì hơn ở sự “chiến thắng” của Thơ mới.  Song rất may mắn là giai đoạn này đã định hình được một số gương mặt nổi bật như Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J. LeiBa, Thái Can, Vũ Đình Liên... và đặc biệt là Thế Lữ. Trên Phong hóa số 54 (tháng 7 năm 1933), Nhất Linh đã giành cả một trang trân trọng giới thiệu "Nguyễn Thế Lữ - một nhà văn mới trong làng Thơ mới": "Ông (Thế Lữ) còn ở trong cái thời kỳ "tìm tòi", những thơ ông làm ra tuy chưa được là bao, nhưng rất có nhiều hy vọng. Có cái linh - hồn thơ như ông, thêm được cái tài đặt câu, dùng chữ, lại đi vào con đường Thơ mới rộng - rãi, phong - quang thì lo gì sau này ông không có cái tương - lai - rực - rỡ;  và làng Thơ mới cũng mừng rằng được một người tiên - phong có giá - trị". Quả thật, bằng sáng tác của mình, Thế Lữ đã được coi là người "xây nền đắp móng", người mang lại sự toàn thắng cho Thơ Mới. 


(còn tiếp)


Nguồn: Thơ  Mới 1930-1945 – Nhìn từ sự vận động thể loại.  Khảo luận của Hoàng Sỹ Nguyên. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sống và Viết đến cùng với văn chương - Nguyễn Bích Thu 26.03.2020
Sao lòng ta chưa nguôi- Đọc "Thơ ngắn" Đỗ Nghê - Nguyễn Thị Tịnh Thy 26.03.2020
“Sống và Viết” của Triệu Xuân: "Một ánh đèn trong với vạn tấm lòng” - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình sinh thái hay chuyện "hãy lễ độ với thiên nhiên" - Phạm Xuân Dũng 25.03.2020
"Kẻ sỹ thời loạn" hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Phê bình từ chủ nghĩa nữ quyền sinh thái: sự kết hợp giữa “cách mạng giới” và “cách mạng xanh” trong nghiên cứu văn học - Nguyễn Thị Tịnh Thy 25.03.2020
Khánh Chi: Thơ của niềm khao khát giao cảm - Nguyễn Văn Hòa 24.03.2020
Ông “Tái thiết ngôn ngữ” Lã Nguyên - Văn Giá 19.03.2020
Đọc Thơ Trần Trung Đạo - Lương Thư Trung 17.03.2020
Lưu Hiểu Ba – Người giải phẫu chế độ Trung Quốc - Tạ Duy Anh 16.03.2020
xem thêm »