Cuộc đời và sự nghiệp của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) nhiều người đã biết, hầu hết các tác phẩm của ông cũng đã được xuất bản. Như thế, tưởng chẳng còn gì là “mới lạ” khi nói đến bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (BSNKV) nữa.
Vậy mà sau dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh BSNKV (5/2/1913 - 5/2/2013), trong lúc tìm soạn những Di cảo của ông để trao cho Cục Lưu trữ quốc gia bảo quản lâu dài, chúng tôi phát hiện một tập gồm hơn hai mươi lá thư tình hết sức… lãng mạn của BSNKV, cùng một cuốn sổ tay chép lại 78 giấc mơ trong những ngày cuối đời của ông.
Thực ra, những gì chúng ta đã biết về BSNKV hầu hết là các hoạt động bên ngoài, còn chiều sâu tâm hồn ông với những “ẩn ức”, “vô thức” cùng những tình cảm riêng tư thì còn đầy bí ẩn, không dễ khai thác và nhìn thấu hết được; cũng có thể nói, chúng ta chỉ mới thấy phần nổi của “tảng băng”. Do đó, những lá thư riêng và những giấc mơ cuối đời của BSNKV, có thể giúp chúng ta nhìn thấy phần chìm của “tảng băng” đó. Mặt khác, có thể nói đây là những bằng chứng cụ thể và phong phú để bạn đọc có thể hiểu thêm kết luận của nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy về BSNKV: “Càng về già càng trở về với chữ tâm: Từ duy lý đến đạo lý, từ đạo lý đến tâm lý (thành lập Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý trẻ em N-T) và cuối cùng từ tâm lý đến tâm linh. Đó là một hướng thượng” (Bài “Nguyễn Khắc Viện hành trình đến chữ Tâm”, Sách Nguyễn Khắc Viện chân dung & kỷ niệm, NXB Khoa học Xã hội, 2007).
Trước khi công bố cuốn sách về những lá thư tình vừa được phát hiện của BSNKV cùng với 78 giấc mơ cuối đời của ông (“Nguyễn Khắc Viện - Mơ và Yêu”), xin được giới thiệu trước với độc giả Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An một số trích đoạn từ phần 2 bản thảo cuốn sách đó (Những giấc mơ cuối đời của BSNKV).
*
Mộng mị cũng như những giấc mơ của con người, mối liên hệ giữa “mơ” và “thực” vẫn đang là một vấn đề khoa học chưa giải thích được rõ ngọn ngành. Hẳn là muốn đóng góp vào đề tài khoa học còn nhiều bí ẩn đó, tuy còn chút hơi tàn của 2/3 lá phổi teo tóp sắp đến lúc suy kiệt, mỗi sáng tỉnh dậy, BSNKV lại gọi chúng tôi lại gần để nghe ông kể lại những giấc mơ của mình. Hơn 4 tháng nằm liệt giường, 78 giấc mơ đã được ghi lại.
“Những giấc mơ cuối đời” (GMNKV) của BSNKV được chép lại trong một cuốn lịch - sổ tay “Nhân dân”. Công việc bắt đầu từ cuối năm 1996, khi BSNKV biết mình đang đi tới chặng cuối của cuộc đời. Không phải là thường xuyên, nhưng mỗi sáng thức dậy, khi nhớ lại được giấc mơ hồi đêm, BSNKV đọc cho vợ là bà Nguyễn Thị Nhất ghi lại. Thỉnh thoảng, ông có đọc thêm “lời bình” - phân tích nguồn gốc, ý nghĩa giấc mơ. Trong giai đoạn này, tôi ra Hà Nội 2 lần để chăm sóc ông, nên biết rõ việc này, nhiều trang trong cuốn sổ do tôi ghi lại. Cuốn sổ ghi chép GMNKV dừng lại ngày 9/5/1997. Mờ sáng hôm sau, 10/5/1997, tức 4 tháng 4 năm Đinh Sửu, BSNKV trút hơi thở cuối cùng. Trước đó khoảng một giờ, tôi nói với bà Nhất: “Thôi, chị nằm nghỉ đi, để em trực cho...”. Một lúc sau, tôi cầm tay BSNKV thấy mạch không đập nữa, mũi cũng ngừng thở. Chúng tôi đã chờ đợi giây phút này nhiều ngày rồi, nên chỉ hơi giật mình một chút, chứ không hề hoảng hốt hay khóc lóc. Tôi liền gọi bà Nhất dậy. Đúng là BSNKV đã “an giấc ngàn thu”, sau khi dâng cho đời trải nghiệm cuối cùng từ bản thân mình, những mong giúp cho các nhà nghiên cứu tâm lý con người một cứ liệu xác thực để tìm hiểu về các giấc mơ…
Chúng ta từng biết có những phát minh khoa học, những tác phẩm văn học nghệ thuật được hình thành từ mộng mơ và cũng đã có giấc mơ trở thành tiên tri về một thảm họa... Trong một bài giảng về tâm lý, BSNKV đã viết: “... Chỉ cần ngồi hay nằm yên trong một căn phòng yên tĩnh, hơi tối, nhắm mắt lại, buông mình thiu thiu thì một loạt hình ảnh, cảm nghĩ hiện ra, rất xa lạ với thực tế, rất vô lý và nhiều khi trái với đạo đức. Đó là lúc MƠ MÀNG, nửa tỉnh nửa thức, vẫn còn nhận thức được phần nào, nhưng không kiềm chế được.
Rồi ngủ say, lại bước vào GIẤC MỘNG, giấc chiêm bao, hình tượng hiện ra không còn gì là có nghĩa, có lý nữa: con người có thể bay lên trời, gặp người ở xa nghìn dặm, đã mất bao nhiêu năm rồi... Còn câu chuyện thì không có đầu đuôi nào cả, các tình huống nối tiếp nhau không theo một mạch lạc nào cả...
Mơ mộng là một hoạt động thường xuyên của loài người, song song với thế giới thực tế... Tâm lý học xác định là có 2 “cõi lòng”- một bên là có ý thức, hữu thức, một bên là vô thức. Nói vô thức không có nghĩa là không có, nói đúng hơn là ẩn thức... Qua những hình tượng mơ mộng có thể hiểu con người theo chiều sâu, hiểu cái “thâm tâm” của con người, và dự đoán về con người sâu sắc hơn là dựa vào những cách ứng xử có ý thức. Nhiều học giả ví cái tâm của con người như hòn núi băng, chỉ 1/10 nổi lên - đó là ý thức; còn 9/10 chìm trong nước không thấy được - đó là vô thức, ẩn thức...”.
Sau khi dẫn ra cách lý giải của Freud (phân tâm học) và Jung về vô thức, về những tình tiết và câu chuyện trong mơ mộng, ông viết:
“... Tóm lại, không thể lấy lý do “khoa học” mà gạt ra ngoài thế giới mơ mộng, cõi lòng vô thức; còn chấp nhận học thuyết này, hay học thuyết khác... cho đến nay chưa có gì cho phép thuyết nào là đúng hơn thuyết khác...”.
Trước khi trích giới thiệu một số GMNKV, xin được lưu ý: Những giấc mơ bà Nhất ghi lại vội vàng bên giường bệnh trong khi bà còn lo nhiều việc đối với bệnh nhân, BSNKV lại không còn mấy hơi sức, nên thường nói ngắn gọn, có khi không trọn câu, chữ viết không rõ, nhất là những từ tiếng Pháp, nên khi “vi tính hóa”, tôi có bổ sung một số từ hoặc viết lại câu văn. Cũng để giúp bạn đọc dễ hiểu, ngoài một số ít lời “tự bình” của BSNKV (được viết tắt là BSNKV tự bình), tôi xin được bình giải thêm (được viết tắt là NKP bình giải) một số tên người, sự việc… mà BSNKV nhắc đến trong các giấc mơ, được ghi theo kiểu chú thích dưới các giấc mơ, với số thứ tự (1), (2)… Ngoài ra, trong cuốn sổ này, bên cạnh những giấc mơ của BSNKV, bà Nhất còn ghi lại một số chi tiết, sự việc liên quan đến bệnh tật và việc chăm sóc BSNKV, chúng tôi xin được giữ nguyên, ít ra thì cũng để lưu lại những kỷ niệm về những ngày tháng cuối đời BSNKV (những nội dung này chúng tôi xếp vào cuối các giấc mơ và đặt trong ngoặc đơn với cỡ chữ nhỏ hơn để dễ phân biệt.)
Sau đây là một số GMNKV mà chúng tôi đã ghi lại:
Đêm 26-11-1996: Thấy một phòng lớn rộng, huy hoàng lộng lẫy phần nào giống phòng thủ tướng tiếp khách hay phòng khách sạn Sông Hương. Cũng có phần giống hội trường lớn của Nhà xuất bản Thế giới. Loáng thoáng hình ảnh một số người đi vòng quanh mang cờ mang phướn, áo lính áo quan và một chú hề như trong kịch chèo của Tào Mạt đang diễn đoạn kịch nhà vua phong làm quan hề. Hề từ chối bảo: “Đã làm hề thì không thể làm quan, đã làm quan thì không thể làm hề”.
Ngồi ở chính giữa phòng là anh Đặng Thế Bính, bậc thầy tiếng Anh ở Hà Nội, nói viết tiếng Anh như người Mỹ, nhưng lần này không mặc comle cravat mà lại mặc áo ni cô vì ngoài cà sa màu xám xanh còn có khăn choàng tóc, chỉ để đôi mắt và cái mũi lòi ra. Hỏi anh Bính chuyện gì vậy, anh nói:
- Có một đoàn truyền hình Mỹ nó muốn quay một cái cảnh trong đó có đủ loại nhân vật của xã hội Việt Nam ngày nay, từ cao nhất đến thấp nhất sẽ diễu hành trong phòng, chung quanh một cái bàn rộng.
- Nó trả anh bao nhiêu tiền?
- Tuyên truyền cho nước ta, tranh thủ dư luận Mỹ, gây áp lực với Bil Clinton đối xử tốt với nước ta, đòi hỏi tiền thấy thế nào ấy. Bây giờ lỡ hẹn nó rồi làm sao đây?
- Bao lần Mỹ đã lỡ hẹn với chúng ta. Tổng thống đích danh hứa với Thủ tướng ta 3 tỷ đô-la từ 1973 đến nay chả thấy một đồng xu nào. Không thể chơi lối quân tử với bọn con buôn được. Nó muốn đầu tư lấy lãi, nó sẽ bỏ tiền ra, mềm nắn rắn buông, anh nên dẹp cái chuyện này đi. Còn về lương tâm bắt buộc phải làm thì đòi tiền thật nhiều vào. Chuyên viên quốc tế cỡ như anh đến một nước nghèo trợ cấp mỗi tháng 12 nghìn đô-la cộng thêm 6 nghìn đô công tác phí, còn bắt cán bộ Việt Nam làm công không cho nó. Anh làm cái việc “ốc mò cò xơi” đó.
Anh Bính lưỡng lự không biết cuối cùng quyết định ra sao. Anh ra về, tôi tỉnh dậy.
BSNKV tự bình: Giấc mơ không phải như thường lệ thuộc tính dục, mà thuộc một dục vọng có tính bản năng chung cho mọi người là tính hung hãn, ác tính theo như Tuân Tử 2500 năm trước đã khẳng định, đối lập với quan điểm tính bản thiện của Khổng Mạnh. Sinh khí dồn tập trung xâm kích người khác; mức cao nhất tâm bệnh lý gọi là paranoia thường các nhà độc tài chuyên chế lâu năm mắc phải bắt đầu từ Tần Thủy Hoàng. Chỉ khác là ngày nay đã có thuốc chữa chứng điên ấy, thành thử những người như vậy khá đông được bố trí trong nhiều xí nghiệp, cơ quan của mọi ngành. Và cũng làm cho nhiệm vụ các bác sĩ tâm thần đơn giản hơn xưa: kê đơn cho một loạt thuốc đúng theo chỉ định, chẳng lo tìm cách tác động tâm lý làm gì cho uổng công. Có lẽ chỉ có uống thuốc bắc mới mong giải quyết và lý giải về lý luận (chưa bao giờ thấy đông y chịu hoàn toàn bó tay) vừa làm cho bệnh nhân yên tâm. Còn tốn kém chắc là hơn dùng những tân dược.
Freud nhận định tồn tại song song giữa hai cái dục vọng mang tính bản năng gọi tắt là xung năng kéo dài từ lúc lọt lòng cho đến ngày chết. Một bên là xung năng sống, một bên là xung năng chết, Freud dùng 2 danh từ Hy Lạp Eros và Thanatos. Mélanie Klein(1) cho rằng một em bé 3 tháng tuổi đã có những hoang tưởng xâm kích cắn xé vú mẹ, nuốt chửng cả mẹ; vì thế có mặc cảm tội lỗi nặng nề, nếu không vượt qua sinh ra loạn tâm. Đại đa số sẽ vượt qua vì đây chỉ là huyễn tưởng. Sau 2 tuổi, tất cả các em đều có cách giải tỏa những mặc cảm trên rất mầu nhiệm là trốn vào thế giới mơ tưởng, vào rừng đi với 7 chú lùn, hay tí hon lại chiến thắng những ác ôn khổng lồ nhờ Tiên Bụt giúp đỡ. Khổng lồ, phù thủy bị đánh thất điên bát đảo, cũng như Tiên Bụt ban đầy phước lành quanh đi quẩn lại vẫn là hình tượng của bố và mẹ. Các em hư cấu một gia đình mơ tưởng, bố là vua, mẹ là hoàng hậu chẳng may số phận buộc phải bỏ rơi con lúc còn tấm bé, rồi cũng số phận đẩy hai bố con gặp nhau với sự chứng kiến của thần Sphinx(2), cuối cùng con giết bố trở về thủ đô lấy mẹ làm hoàng hậu. Lúc phát hiện mọi sự việc như vậy, đứa con khốn khổ tự chọc mắt để cho mù đi, bỏ ra đi để chết giữa sa mạc. Đó là truyền thuyết Ơ-đíp(3), một chủ đề mà nhà viết kịch thiên tài của Hy Lạp Aishylos(4) đã viết thành 1 vở kịch được biểu diễn trước toàn bộ 10 vạn công dân tự do của Athène (ngoài ra còn mấy chục vạn nô lệ thì xem như không phải là con người).
Ngày nay, mỗi năm vào hè vở kịch được diễn lại tại Athène.
Tính dục và hung tính đã được thăng hoa, biến dạng thành giấc mơ và bài viết này.
NKP bình giải:
(1) Melanie Klein (1882-1960): Bà chú trọng tìm hiểu tâm lý trẻ em nhỏ và những huyễn tưởng của chúng, và cho rằng trẻ sơ sinh không hề yên tĩnh.
(2) Sphinx: Tên con quái tinh trong thần thoại Hy Lạp về Ơ-đíp.
(3) Ơ-đíp: Tên người con vua thành Thèbes; do thần linh báo hiệu con lớn lên sẽ giết bố nên vua cha đem con bỏ ở sa mạc; vì thế mà về sau đã lầm lẫn giết bố, lấy mẹ. Khi biết sự thực, Ơ-đíp tự trừng phạt móc mắt mình, đuổi 2 đứa con, rồi bỏ đi, về sau biến thành nửa người nửa thần. Trong phân tâm học, “mặc cảm Ơ-đíp” chỉ trạng thái tâm lý con trai lúc nhỏ muốn tranh lấy mẹ, thành đối thủ của bố… Mặc cảm này không có tính bệnh hoạn, mà được giải tỏa khi lớn lên, biết yêu một con người khác giới ở ngoài gia đình mình…
(4) Aishylos (viết theo chữ Latinh là Aeschylus): Nhà viết kịch cổ Hy Lạp thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, viết tới 90 vở kịch, được coi là cha đẻ của kịch cổ Hy Lạp.
Giấc mơ tối 30-11-1996: Đêm nằm lầm rầm khấn Thầy, khấn Mự, anh chị Đồng, chú Chuyết, mự Chuyết(1) xin cho được gặp sớm, đừng kéo dài những ngày khốn khổ. Thấy bay về quê gặp một người đàn bà không rõ già hay trẻ, bà cười bảo: “Khấn cả anh Đồng, chị Đồng là hỏng rồi. Chị Đồng bây giờ là con gái nhà họ Lê Khánh, không thuộc họ nhà mình nữa, chỉ khấn Thầy, Mự, chú Chuyết, mự Chuyết thôi”.
Tỉnh dậy vẫn thấy nằm trên giường.
(Sáng, bà Hoàng Xuân Sính(2) đến thăm; BSNKV bảo bà Sính, nửa đùa, nửa thật: “12 bác sĩ kê đơn, 100 đoàn khách cho quà, vẫn chưa chết, thật là càng già càng dẻo càng dai”).
Nhắc lại ông Vịnh Trưởng phòng tổ chức NXB Thế giới: Lễ tang trăm sự nhờ Nhà xuất bản, phía bản thân mong được hỏa táng Hoàn Vũ, sau 100 ngày đưa về quê trong nghĩa trang của họ Nguyễn Khắc(3) ở xã Sơn Hòa (Hương Sơn, Hà Tĩnh).
NKP bình giải:
(1) Tên những người thân trong gia đình. “Mự” - là bà mẹ kế (thân mẫu của BSNKV mất khi còn trẻ); “anh chị Đồng” - tức bác sĩ Lê Khánh Đồng và vợ là bà Nguyễn Thị Vàng, người chị liền kề với BSNKV; “chú Chuyết, mự Chuyết” - tức vợ chồng ông Nguyễn Khắc Chuyết, em trai BSNKV, bị bệnh mất sớm ở quê, khi BSNKV đang ở Pháp.
(2) Hoàng Xuân Sính: Giáo sư toán, Việt kiều ở Pháp về, từng là Đại biểu Quốc hội.
(3) BSNKV dặn lại như thế, nhưng về sau, khi một số anh em và các cơ quan nêu vấn đề: Do BSNKV có nhiều mối quan hệ với cả trong và ngoài nước, nên khi ông qua đời, nên mai táng ở Hà Nội, để bạn bè, bà con tiện thăm viếng. Một vài ngày trước khi BSNKV qua đời, tôi (NKP) có nêu lại vấn đề, BSNKV đáp rất nhỏ, đại ý: “Thôi, tùy tổ chức...”. Và như chúng ta đã biết, BSNKV đã được an táng tại nghĩa trang Mai Dịch (Hà Nội), sau gần một tuần chờ đợi “cấp cao” bàn bạc. Có “chuyện” này vì theo quy định “đâu đó” thì phải là Ủy viên Trung ương Đảng hay hàm Bộ trưởng mới đủ tiêu chuẩn “vào” Mai Dịch. BSNKV thành ra ngoại lệ…
Qua giấc mơ này, thấy rõ một người như BSNKV mà trong tiềm thức vẫn không vượt thoát được quan niệm “phong kiến” về họ tộc (xem người con gái đã đi lấy chồng là “ngoại tộc”); mặt khác, càng gần về cuối đời, như Đỗ Lai Thúy đã viết về BSNKV: “… cuối cùng từ tâm lý đến tâm linh” - ông mơ gặp những người thân đã khuất. Còn nhớ, trong bài viết bổ sung nhan đề “Noi theo Đạo Nhà” trong cuốn “Bàn về Đạo Nho” vừa được BSNKV “xếp hạng” cao trong ngày 28/11/1996, có đoạn: “… Không nhìn lên trời, không nghĩ đến những gì xảy ra khi chết, không thấy cần thiết có thần linh hay không có, không tìm tuyệt đối, không mong trở về với Chúa, thoát khỏi vòng luân hồi, chỉ mong làm con người cho ra người…”. BSNKV viết những dòng này năm 1993, sau 3 năm có điều kiện đọc rất nhiều sách nghiên cứu tâm lý (cả Đông và Tây) và khi đến gần “cửa tử”, ông đã bắt đầu thấy “một thế giới khác” ngoài cõi trần này…
Tối 3-12-1996: Mơ gặp mấy giáo sư Việt Nam mới sang Pháp ở, muốn được mở phòng khám bệnh phải thi mấy bài thi Y6 như các bác sĩ các nước khác; có thể nghiệp vụ rất giỏi, nhưng nếu phải trình bày bằng tiếng Pháp một hồ sơ bệnh án, một ca lâm sàng bằng tiếng Pháp thì không thể nào làm được. Đây không phải là giảng bài, làm giáo án bằng cách giở sách ra ôn lại, ghi chép cả đoạn, mà phải ngồi tại chỗ, từ những kết quả khám nghiệm mà suy luận, cho nên diễn đạt bằng tiếng Pháp rất khó. Xong liên hệ ông bác sĩ Do Thái người Áo trốn quân phát xít; đổi tên, sang Paris được tổ chức kháng chiến Pháp bố trí cho thi lại để hành nghề. Ông được gửi đến bệnh viện đa khoa Hotel Dieu Paris. Chỉ định khám nghiệm làm hồ sơ bệnh án cho cậu Jacques Lephay - một người bạn công nhân trẻ của tôi quen thân ở Sana(1), cũng bị lao phổi do ông bố làm thợ mộc bị đày sang Đức mắc bệnh lao phổi được trả trở về. Jacques nằm sát giường tôi, nên tất cả hồ sơ bệnh án tôi nắm rất rõ. Được biết vậy, ông bác sĩ Áo khẩn khoản nhờ tôi viết luôn cho toàn bộ bệnh án. Lúc đưa lên giảng đường trình bày trước các giáo sư và bác sĩ khác được mọi người khen ngợi về cả nội dung, cả tiếng Pháp, được điểm xuất sắc, năm ấy là vào mùa hè 1943.
NKP bình giải:
(1) Sana: Viết tắt tên một trại điều dưỡng bệnh lao mà BSNKV đã nằm nhiều năm lúc còn ở Pháp.
Giấc mơ này rõ ràng là sự “hồi tưởng” những sinh hoạt của BSNKV trong thời gian bị bệnh ở Pháp. Có điều đáng lưu ý là một người như BSNKV - nhiều người nghĩ rằng ông chẳng cần chi tiền tài danh vọng (thì chẳng phải ông đã tặng hầu hết Giải thưởng lớn về Pháp ngữ gần cả tỷ đồng cho các quỹ công ích, Nhà nước cấp nhà rộng không ở, thiên hạ tặng ông nhiều danh hiệu, nhưng ông chỉ nhận mình là “bác sĩ” thôi…) - trong ẩn ức vẫn ham muốn được hơn người, được khen tặng! Bạn xem tiếp dưới đây sẽ thấy chính BSNKV đã tự “chỉ trích” mình như vậy! Thế mới hay cái “bả” danh lợi đâu có thể qua “góp ý” rồi “phê và tự phê” mà từ bỏ được. Phải có cơ chế và luật pháp thật nghiêm minh, công bằng để con người ta không thể và không dám mua danh “dổm” và vơ vét “lợi ích” bất chính.
Đêm 11-12-1996: Mơ được Viện đại học mời chấm các luận văn tâm lý xã hội lịch sử. Mặc áo dài the đen, chít khăn đen, trong áo dài trắng, ngồi xếp bằng trên ghế dài, bên cạnh có tráp để giấy tờ và cái điếu bát nhà quan - ngồi chấm bao nhiêu là bài. Bảo phải đánh giá lại nhiều vấn đề lịch sử.
BSNKV tự bình: Chưa hết dục vọng danh tiếng, vẫn còn ham đè đầu cưỡi cổ người ta.
Đêm 19-12-1996: Mơ thời bao cấp, đi chơi không rõ Paris hay Hà Nội, gần chiều tối đi dạo một vòng Paris phía Vincennes, chỗ tư liệu quân sự của Pháp 50 năm sau, mọi người được vào tra cứu; còn Hà Nội hình như phía Hoàng cung nhà Lê nay biến thành khu cấm của quân đội, không hiểu tại sao lúc vào không ai xét giấy; chắc thấy ông già đi lơ mơ không có gì. Đến tối, không tìm được đường ra, có một nhà đèn sáng, thì ra là một căng-tin của sĩ quan quân y. Một vị cấp tướng ra đón, Viện đưa chứng minh thư ra xem, ông biết tên tuổi, mời vào kính trọng, mời thêm một vị đại tá giáo vụ Học viện quân y. Ông này phó tiến sĩ, học khá sâu về tâm lý quân y Liên Xô, bàn chuyện tâm lý khá tâm đắc, bàn chương trình sau này hợp tác với N-T thế nào lâu dài và quy mô lớn lắm. Đến ăn cơm (rủ nhau xuống căng-tin) Viện mua một bánh giò, một bánh chưng, một cốc café thơm ngồi tán chuyện. Ăn xong trả tiền; rút ví tiền Việt Nam không có bao nhiêu, có mấy trăm đô, rút ra một tờ 100 đô trả. Ông tướng bảo: “Chết chết! Thời buổi này mà cầm đô-la trong túi đi chơi thì nguy! May lúc vào, nó không xét, nếu xét thì đã vào tù rồi!”. Hai ông bàn cách cứu, bàn mãi cả đêm không ra.
Giật mình tỉnh dậy, không biết giải quyết thế nào? Ông tướng bảo: “Vào tù mọt xương chưa ra, tôi không có cách gì đâu, Bác Hồ cũng không cứu được đâu!”. Đô-la thời đó (bao cấp) như con quỷ quái.
NKP bình giải: Như tôi được biết, BSNKV không chỉ quen biết nhiều với giới văn nghệ sĩ, y tế, khoa học, ngoại giao mà cả với các tướng lĩnh. Năm 1964, trong dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tạp chí Études Vietnamiennes cần có bài viết nghiên cứu sâu vài chục trang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nếu để Bộ Quốc phòng chuẩn bị thì không kịp, nên BSNKV đã dự thảo; khi đưa lên, Đại tướng nói: “Tốt quá! Tất cả các chi tiết này đều đúng cả. Tại sao mà cậu nắm được nhiều thế?”. Hai vị vốn quen biết nhau vì BSNKV học sau Đại tướng 1 năm. BSNKV cũng đã đến hướng dẫn cách tập luyện dưỡng sinh cho phi công.
Còn chi tiết BSNKV khen vị đại tá - Phó Tiến sĩ học ở Liên Xô cùng với “nỗi lo” tiêu đô-la có lẽ thêm một minh chứng là BSNKV “mê” Liên Xô cho đến những năm cuối đời, nên cứ mãi băn khoăn về việc Liên Xô sụp đổ, rồi phải làm ăn theo kiểu “tư bản” (Xem thêm phần “Các kiến nghị của BSNKV” và cuốn “BSNKV như tôi đã biết” của nhà báo Lê Phú Khải, NXB Thanh niên vừa tái bản).
Đêm 22-12-1996: Mơ thấy về Hà Tĩnh, thị xã trông mới hẳn, nhưng là đang thời đánh Mỹ. Cầu Bến Thủy cũng xong rồi. Đi công tác phóng viên ở Vinh xong, đi Vĩnh Linh, Quảng Bình làm phóng sự đối ngoại. Trở về Hà Tĩnh, ngủ ở Hà Tĩnh trước lúc về Hà Nội, hỏi thăm có xe nào về Hà Nội cho ghé. Có hai xe - xe của Cù Huy Cận và xe của Hà Huy Giáp(1), liền bảo: “Thôi thôi! Không đi với Huy Cận, ki bo lắm, sang với ông Giáp nói chuyện dễ hơn, quen hơn, lại bà con”. Thế là 4 giờ sáng ra đi, 5 giờ 30 đến Vinh, 8 giờ đến cầu Hàm Rồng. Vừa lúc đó máy bay Mỹ xuất hiện, cho xe vào hang, ra đứng xem. Máy bay Mỹ hồi đó chưa có laze, không xuống thấp, bay rất cao, tên lửa mình lên không được, không đủ sức, cho Mích(2) lên; cạnh máy bay thả bom có một con tàu vũ trụ, máy móc nó ghê gớm, tên lửa mình bắn vô hiệu, nó chả sợ gì cả.
BSNKV tự bình: Cảnh này trước đây đã mơ thấy nhiều lần rồi trong thời chống Mỹ. Giờ thấy lại, trong trường hợp trở lại công tác - tức là chuyển hướng tích cực. Phần psychotique cho đi hết rồi; còn lại thiết tha cuộc sống, trở lại công tác, đóng góp sự nghiệp chung, ghét thằng Mỹ đến cùng.
NKP bình giải:
(1) Hai vị đều là “đồng hương” với BSNKV, nhưng quê ông Hà Huy Giáp ở xã Sơn Thịnh, sát cạnh xã Sơn Hòa (quê BSNKV); hơn nữa, thân phụ ông Giáp có thời dạy chữ Nho cho thân phụ BSNKV. Huy Cận là nhà thơ nổi tiếng nhiều người biết, còn ông Hà Huy Giáp là lão thành cách mạng, cả hai từng giữ nhiều trọng trách ngành Bộ Văn hoá và có quan hệ gần gũi với BSNKV. Còn tính “ki-bo” của nhà thơ thì BSNKV nhắc đến trong ngữ cảnh thân tình vui vẻ; có lẽ ông đã nghe kể hoặc đọc một số bài viết miêu tả chân dung nhà thơ - đó là cái “khổ” của người nổi tiếng thường bị săm soi đến cả những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống.
(2) Kiểu máy bay phản lực Liên Xô viện trợ cho Việt Nam thời đánh Mỹ.
Đêm 22-12-1996: Mơ thấy đi quay phim trên một chiếc thuyền bồng bềnh trên một con sông, có hàng cây phượng vỹ nở hoa đỏ chói. Do một mình chỉ đạo lấy, tự làm đạo diễn, trời mưa gió, thuyền trôi bấp bênh, nghiêng nghiêng ngửa ngửa, mặc áo “phông” kiểu để đi xe Dream oai lắm, đứng chỉ đạo(1). Bà nói:
- Thôi ông ơi! Mưa gió đi làm gì cho cực.
Ông đáp:
- Mưa gió mới có cảnh hay thú vị, có kịch tính một tí.
- Thôi già rồi, bày ra lắm trò.
- Thế nào là già?
- 84 chưa già à?
- 84 với người khác là già, với tôi chưa ăn thua. Tôi chưa già đâu.
Xong hết chuyện.
NKP bình giải: Nhiều người chưa biết trong các tác phẩm, công trình để lại của BSNKV có nhiều kịch bản phim nổi tiếng như phim về “Đất tổ nghìn xưa”, “Vịnh Hạ Long”, “Tây Sơn”… Giấc mơ này có thể liên hệ đến chuyến đi quay phim Vịnh Hạ Long cùng với NSND Lương Đức, đã phải trải qua những cảnh leo trèo cực kỳ nguy hiểm.
Lại còn ẩn ức vì BSNKV dự tính cùng anh Lương Đức làm phim tài liệu về miền Trung và Nam Bộ nhưng chưa thực hiện được, nên mới mơ bị “bà già” ngăn cản và tự cho là mình còn sung sức!
Đêm 26-12-1996: Bà từ Tam Quan(1) đi ra, tàu bè thế nào mà quá nửa đêm mới đến, thiên hạ đi ngủ hết rồi. Giường bà không nằm được vì trên trần phá hết rồi. Phải nằm sang giường kia. Bà mang ra một bó cây trúc cứng, bảo: Uống là đi được (thường trúc này ở Cao Bằng).
Cùng lúc ấy có một ông trên Ủy ban văn hóa đối ngoại mang sách báo đến nói tôi mới ở ga ra, có một số sách báo của 2 ông bà, nên mang lại cho ông bà. Ông ta hỏi:
- Tại sao trần nhà phá thế này?
- Chính phủ thấy mấy cụ có công lao, nên có chính sách ưu đãi, định ban cho mỗi cụ một villa ở những ngày cuối đời cho sướng. Nhà này phá trần, nâng lên một tầng nữa cho ông bà.
Phường này là phường Saint Hilaire du Touvet(2), tập hợp mấy cụ Lachivère, Puiseux v.v… về đây ở cho vui.
BSNKV tự bình:Ý thức không cần giải thưởng Hồ Chí Minh, nhưng vô thức mong muốn, vẫn còn muốn danh vọng, chưa thoát được.
NKP bình giải:
(1) Tam Quan (Bình Định) là quê bà Nguyễn Thị Nhất.
(2) Nơi BSNKV nằm điều trị bệnh lao ở Pháp trong nhiều năm.
Chuyện phá trần nhà, nâng tầng…, BSNKV “liên hệ” tới việc cơ quan vừa làm hồ sơ đề nghị Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho ông, nhưng tác phẩm, công trình của BSNKV rất đa dạng, các “Hội đồng cơ sở” (như Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Văn hóa, Bộ Y tế…) đều thấy không chỉ thuộc về ngành mình; rút cục, đưa xét công trình “Việt Nam một thiên lịch sử”, nguyên bản tiếng Pháp, lúc đó chưa dịch ra tiếng Việt, nên cũng có ý kiến: “Hội đồng có phải ai cũng đọc được tiếng Pháp đâu!”. Thế là bỏ phiếu Giải thưởng Hồ Chí Minh không đạt, chuyển xuống tặng “Giải thưởng Nhà nước”. Tuy vậy, có ý kiến cho rằng: Đúng ra, nên đưa xét bản dịch Truyện Kiều (ra tiếng Pháp) và toàn bộ công trình nghiên cứu tâm lý của BSNKV…
Trở lại chuyện mơ mộng: BSNKV mơ về nhà cửa có lẽ cũng có “căn cứ” thực tế. Ông Mai Lý Quảng, nguyên Giám đốc NXB Thế giới, trong bài viết tưởng niệm BSNKV in trong cuốn “Nguyễn Khắc Viện - Chân dung & kỷ niệm” (NXB Khoa học Xã hội tái bản, 2007) đã kể lại: “Có tới hai lần Nhà nước cho cán bộ đến mời ông chuyển nhà đến một chỗ ở mới rộng rãi gấp mấy lần chỗ ông đang ở, ông khiêm nhường trả lời: “Gia đình ít người ở thế này là vừa rồi, hơn nữa lại gần cơ quan, không phải tốn xe cộ đưa đón, xin Chính phủ để suất nhà đó cho một số anh em trong Nhà xuất bản chưa có chỗ ở”. Quả là lúc đầu nhà chỉ có 3 người, sau cháu Thanh Bình lập gia đình, rồi có con, căn phòng hơn hai chục mét vuông trở nên quá chật chội, phải cải tạo góc nhà bếp, nâng thêm một căn gác nhỏ…
27/12/1996: Mơ thấy đi Nhật Bản dự hội nghị về vai trò của Khổng giáo đối với những xã hội chịu ảnh hưởng Hán học, sự phân chia sĩ-nông-công-thương có giá trị không? Có phải nhờ Khổng giáo mà những nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Singapor hơn hẳn Malaisia, Thái Lan, Philippine, Indonésia… Từ 1962-1963, BSNKV đã đưa ra nhận định: nhờ Khổng giáo mà các nước ấy đã hiện đại hóa nhanh chóng hơn mấy nước kia(1). 20 năm sau, một “tay” giáo sư ở nước X. lập lại quan điểm ấy, được nổi tiếng quốc tế hơn, còn ý kiến là ăn cắp.
Trước lúc đi Nhật Bản, đưa tre đi bán, xếp trên toa tàu hỏa, đẩy lên dốc cầu Long Biên qua cầu Gia Lâm, mấy trăm người ra đẩy, có cả Bác Hồ, hò hét là Nguyễn Đình Thi, với tất cả các ông nhà văn nổi tiếng: Tế Hanh, Xuân Sanh, Xuân Diệu.
NKP bình giải:
(1) Sau một buổi trao đổi với nhà văn Albert Camus, BSNKV đã viết bài “Confucianisme et Marxisme au Vietnam” (“Đạo Khổng và chủ nghĩa Mác ở Việt Nam”) đăng trên Tạp chí Pensée (“Tư tưởng”) số 10/1962 được dư luận rất chú ý. Bài này, năm 1993 đã in trong cuốn “Bàn về Đạo Nho”- NXB Ngoại văn.
Giấc mơ của BSNKV hẳn là có quan hệ với sự kiện này. Còn chuyện “ai đó” ăn cắp ý tưởng của ông thì rất có thể đã xảy ra. Chẳng phải bây giờ thỉnh thoảng các vụ “đạo văn” lại bị báo chí khui ra đó ư?
Còn chuyện “bán tre” trước khi đi Nhật, lại có cả những nhân vật tên tuổi hưởng ứng thì thật lạ. Xin thử nêu một cách bình giải: Cây tre vốn là hình ảnh tượng trưng cho cốt cách dân tộc Việt Nam. Có thể là BSNKV có “ẩn ức” là việc giới thiệu “tuyên truyền” Việt Nam ra thế giới trong khoảng thời gian đó - nhất là sau sự kiện quân đội Việt Nam phải đứng chân lâu ở Căm-pu-chia, rồi công cuộc “Đổi Mới” không thuận lợi sau khi Liên Xô sụp đổ… - đã gặp nhiều trắc trở, như là… một chiếc xe chở nặng lên dốc!...
*
Như đã viết ở trên, tìm hiểu “cơ chế” của mộng mơ là vấn đề không đơn giản. Vì thế, việc bình giải GMNKV, tôi chỉ có thể đưa ra một-hai “phương án” xin được gọi là “gợi ý”. Và có lẽ, nếu có một đề tài khoa học về những giấc mơ của con người thì thiển nghĩ, đây sẽ là loại “đề tài mở”, không có kết luận cuối cùng. Cũng vì thế, 78 giấc mơ ở trên chỉ có thể cho chúng ta hiểu thêm phần nào về chiều sâu “cõi lòng” BSNKV.
Cho dù biết nhiều giấc mơ là “siêu thực” hay phi lý, nhưng con người vốn quen duy lý của thời đại này vẫn thích đối chiếu “thực & mơ”. Đề cập đến vấn đề này, trong một dịp vào Đà Nẵng, sau khi nhà thơ Đông Trình đưa cho BSNKV bản thảo tập sách viết cho thiếu nhi, có ý muốn nhờ ông góp ý; dù rất bận, BSNKV đã xem kỹ cả 120 bài, giúp tác giả chọn lựa và viết mấy lời giới thiệu như sau:
“Chỉ trong giấc mơ, chim mới biết nói, hoa mới biết cười và con người có thể bay lên với mây gió… Người thường, không ai ngây dại đến mức lấy mơ làm thực. Thế mà trẻ em và nghệ sĩ cùng một tính ngây thơ rất dễ biến thực thành mơ để thấu cho hết lý tình của cái thực…”.
Khi xây mộ BSNKV tại Nghĩa trang Mai Dịch, bà Nguyễn Thị Nhất đã chọn trích từ mấy dòng này ghi lên tấm bia - có lẽ đây là tấm bia có nội dung độc đáo nhất nghĩa trang.
Hy vọng với 78 giấc mơ cuối đời của BSNKV, chúng ta có dịp thấu hiểu hơn “lý tình của cái thực” sống động và không ngừng biến đổi của cuộc đời...
NKP
ngheandost.gov.vn |