tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
13.03.2014
Đinh Xuân Dũng
Về đổi mới giáo dục nhân cách trong giáo dục đại học ở Việt Nam

Trích tham luận.


Cách đây 20 năm, vào tháng 1 năm 1993, khi sự nghiệp đổi mới đang được đẩy lên cao trào, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) “Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới”. Nghị quyết đã khẳng định “công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Giờ đây, chúng ta đã bước vào thế kỷ XXI được 13 năm, những khẳng định trên vẫn còn là một đòi hỏi gay gắt, một thách thức đối với toàn bộ công tác thanh niên. Có thể coi tư tưởng trên là sự “đặt cược” toàn bộ sự nghiệp cách mạng, số phận, tiền đồ của dân tộc ta ở thế kỷ XXI này vào lực lượng thanh niên, vào kết quả bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ trẻ, vào công tác thanh niên và công tác giáo dục, đào tạo. Từ thực tiễn 20 năm qua, giữa những ý tưởng trên và thực tiễn còn một khoảng cách khá xa... Một nỗi đau và một thực tiễn hiển nhiên là, cho đến nay, Việt Nam vẫn được xếp vào trong hàng ngũ những quốc gia đứng vào hàng chót trên thế giới ở rất nhiều lĩnh vực. Liệu có phải trong công tác giáo dục đại học của chúng ta đã có một sự lãng quên kéo dài về giáo dục nhân cách, về nuôi dưỡng phẩm chất và năng lực thế hệ trẻ mà phần lớn chỉ còn là sự truyền thụ kiến thức đơn thuần? Cả trong thực tế giảng dạy lẫn trong ý thức, có bao nhiêu trong số những người làm công tác giáo dục, ngoài trách nhiệm đứng lớp, dành thời gian, tâm huyết và trí lực góp phần giáo dục, nuôi dưỡng nhân cách các thế hệ mà họ đào tạo? Phải chăng, có một khoảng cách giữa ý tưởng rất cao trong các văn bản, Nghị quyết với thực tiễn còn nhiều ngổn ngang, bề bộn, lúng túng và với năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện còn quá nhiều bất cập?...


Tuổi sinh viên là thời kỳ đẹp nhất của tuổi trẻ, thường diễn ra từ 18 đến 25 tuổi, và nếu tính cả sau đại học, là tuổi 30. Có nghĩa là, họ bắt đầu với tư cách một công dân và kết thúc thời kỳ đại học ở cái tuổi mà cha ông ta gọi là “tam thập nhi lập”. Lứa tuổi này luôn có nhiều khát vọng vươn lên. Đây cũng là thời kỳ hình thành, trưởng thành nhưng chưa định hình của nhân cách... Đây cũng là đặc điểm của giáo dục đại học. Không có sự phát triển nhân cách nào của tuổi trẻ sinh viên tách rời sự hình thành khát vọng cống hiến và mong ước được thực hành nghề nghiệp đã được đào tạo. Đặc điểm này chi phối sâu sắc vấn đề giáo dục trong môi trường đại học.


Có người nghĩ rằng, sinh viên hiện nay sống sướng hơn nhiều so với thế hệ đi trước, không phải chịu những thử thách quyết liệt trong những điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh và đói nghèo. Điều đó có lẽ chỉ đúng một phần. Tuổi trẻ sinh viên Việt Nam trong những năm vừa qua đang đứng trước những thách thức chưa từng có đối với cha anh mình những năm 60 – 80 của thế kỷ XX. Có lẽ, không nên có những đánh giá một chiều trước những thách thức mới đó, dẫn tới sự thiếu đồng cảm với những điều kiện mới của sinh viên hiện nay. Chưa bao giờ có sự phân hóa lặng lẽ, âm thầm, quyết liệt trong sinh viên những năm qua và trong thời gian tới. Đã không còn sự thống nhất, hài hòa trong môi trường sinh viên. Sự phân hóa đẳng cấp và giàu nghèo trong xã hội là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phân hóa trong môi trường sinh viên. Cũng chưa bao giờ xuất hiện những tác động hết sức phong phú, trực tiếp và phức tạp của đời sống và môi trường bên ngoài xã hội đối với sinh viên như hiện nay. Điều đó đã đặt sinh viên trước những sự lựa chọn mới. Có một bộ phận sinh viên khát khao vươn lên mãnh liệt để tự khẳng định mình và họ đã đạt được những kết quả học tập và nghiên cứu khoa học không ngờ. Lại có một bộ phận sinh viên đánh mất vẻ đẹp tuổi trẻ của mình ngay khi họ mười tám, đôi mươi, và trong họ chỉ còn những nhu cầu thực tế, thực dụng. Trong một kết quả điều tra xã hội học, người ta đã chỉ ra ba bộ phận hình thành trong lực lượng sinh viên: Bộ phận thứ nhất là sinh viên tiên tiến, có lý tưởng sống tốt đẹp, mong muốn khẳng định cá nhân, ý chí cống hiến cho lý tưởng đất nước và xã hội (chiếm 16,82%); Bộ phận thứ hai là nhóm sinh viên bình thường (chiếm khoảng 67% - một tỷ lệ cao trong lực lượng sinh viên) là những sinh viên ít ước mơ, hoài bão, có những nhu cầu thực tế gắn với đời sống cá nhân, không quan tâm đến những vấn đề lớn của xã hội, đất nước; Bộ phận thứ ba là sinh viên chậm tiến (chiếm 16,07%) có nhiều biểu hiện đáng lo ngại về nhân cách, thiếu ý chí vươn lên, không quan tâm đến lý tưởng sống, có nhiều biểu hiện không lành mạnh trong lối sống. Ba bộ phận này tác động lẫn nhau, dẫn tới những biểu hiện rất phức tạp trong sự biến động của nhân cách sinh viên. Trong tình hình hiện nay, thành công của công tác giáo dục nhân cách sinh viên chính là phát huy, phát triển nhóm tiên tiến, thu hút và thuyết phục nhóm bình thường, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhóm chậm tiến. Phải chăng, đặc điểm này đang diễn ra khá phổ biến trong các trường đại học.


Chưa bao giờ sinh viên bị tác động trực tiếp của những nhu cầu mới được hình thành trong xã hội hiện đại như hiện nay. Điều đó dẫn tới một thách thức hàng ngày đối với toàn bộ sinh viên. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển ồ ạt, những nhu cầu vật chất không ngừng được thỏa mãn trong đời sống xã hội, các hệ ý thức, cả tiến bộ và lạc hậu, cả cách mạng và phản động đồng thời tác động đến đời sống sinh viên. Những nhu cầu về văn hóa, văn học, nghệ thuật hết sức đa dạng và phức tạp đặt sinh viên trước những lựa chọn phong phú. Sinh viên phải xử lý hàng ngày giữa thời gian sống cho nhu cầu cá nhân, tình bạn, tình yêu, sinh hoạt xã hội với thời gian dành cho học tập và tự đào tạo. Những tác động về mặt chính trị cũng thường xuyên đặt sinh viên trước sự lựa chọn không hề đơn giản. Những biến động chính trị, kinh tế, xã hội đã tác động mạnh và lan truyền nhanh trong sinh viên. Những vụ việc ngày càng phức tạp của đời sống xã hội, những việc làm xấu xa, đen tối, những băng hoại về mặt đạo đức đều tác động trực tiếp tạo nên những băn khoăn lớn trong tư tưởng, tình cảm sinh viên về xã hội mà mình đang sống, khiến cho nhận thức về giá trị của nhân cách trong xã hội đã và đang có những biểu hiện nhầm lẫn, bị đảo lộn đã tác động mạnh mẽ đến sinh viên, biến thành những cách nghĩ, cách làm rất đáng ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi sinh viên.


Cần nhận biết rằng, trong quãng đời sinh viên có hai đặc điểm phải đặc biệt quan tâm. Một là, nhân cách chưa định hình, đang phát triển và biến đổi, có khả năng xuất hiện những đặc điểm, những cá tính bất ngờ, cả hay và dở, cả tích cực và tiêu cực... Hai là, những giá trị nhân cách được hình thành, về cơ bản, chưa được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp và hoạt động thực tiễn, đây chỉ là những nhân tố đang trong quá trình hoàn thiện, làm cơ sở và sự chuẩn bị cho lao động nghề nghiệp và hoạt động thực tiễn sau này. Với ý nghĩa đó, khái niệm nuôi dưỡng các giá trị nhân cách trong sinh viên có ý nghĩa để cố gắng nhấn mạnh một yêu cầu về sự chăm sóc công phu và để tránh một cách nhìn nhân cách sinh viên trong trạng thái tĩnh và ít nhiều định kiến đối với những biến động dễ xảy ra trong quá trình đang hình thành nhân cách đó.


Mặt khác, khi nói về nhân cách, không nên chỉ nghĩ là những giá trị tinh thần, đạo đức, lối sống, mặc dầu đó là những nhân tố cực kỳ quan trọng, mà nhân cách là tổng hợp những giá trị sống, tư duy, đạo đức, văn hóa được thể hiện trong toàn bộ cuộc sống của con người, cả thái độ sống, lối sống, năng lực và hành động sống. Với ý nghĩa đó, một nội dung rất quan trọng trong Nghị quyết Về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo vừa công bố tháng 11 vừa qua, đã nhấn mạnh đồng thời sự phát triển năng lực và phẩm chất người học. Sự kết hợp không thể tách rời giữa phẩm chất và năng lực là đòi hỏi rất cao đối với giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học... Với cách hiểu như vậy, mục tiêu giáo dục nhân cách sinh viên ở đại học chính là tạo nên trong nhân cách đó sự thống nhất, hài hòa giữa năng lực và phẩm chất, những tiền đề thực sự cần thiết và rất cơ bản để sinh viên bước vào hoạt động nghề nghiệp và thực tiễn sau này. Đây chính là mục tiêu của giáo dục nhân cách.


Với ý nghĩa đó, trong tình hình hiện nay và những yêu cầu của thời kỳ mới, có lẽ cần nhấn mạnh 4 giá trị cơ bản trong nhân cách sinh viên cần tập trung nuôi dưỡng, giáo dục như là một giai đoạn quan trọng để sau này sinh viên tự hoàn thiện  nhân cách của mình trong hoạt động thực tiễn:


Một là, lý tưởng sống. ở lứa tuổi sinh viên, nếu không có ước mơ, không có hoài bão làm được những điều cao hơn thực tiễn, khát vọng cống hiến cho sự nghiệp chung chắc chắn sẽ là sự thất vọng lớn. Đã xuất hiện trong lực lượng sinh viên sự “già cỗi” trước tuổi, chủ nghĩa thực dụng, lối sống ích kỷ, tầm thường, xa lánh những vấn đề chung của cộng đồng, của dân tộc. Nếu một sinh viên ra trường chỉ có một khối lượng kiến thức nghề nghiệp cụ thể mà không có được một khát vọng vươn lên thì giáo dục đại học đã không thành công. Trong giai đoạn hiện nay, đối với giáo dục nhân cách sinh viên phải làm rõ thêm một nhận thức sau đây: Đất nước chúng ta chưa thoát khỏi lạc hậu, đang đứng ở vị trí thấp về nhiều mặt so với các quốc gia trên thế giới hiện đại. Đó là nỗi đau hiện hữu mà mỗi sinh viên phải nhận thức và có hoài bão góp phần đưa dân tộc vượt qua nỗi đau đó...


Hai là: Nuôi dưỡng năng lực trí tuệ. Đây là một giá trị phải được hình thành trong toàn bộ quá trình giáo dục đại học. Nếu không, chúng ta chỉ tạo ra những người làm nghề với một số kiến thức nhất định – một hiện tượng khá phổ biến trong kết quả giáo dục đại học những năm gần đây... Năng lực trí tuệ được thể hiện trong sự tiếp nhận nhanh chóng những tri thức mới và tự phát triển những tiềm năng của sinh viên để từng bước khẳng định mình trong học tập và nghiên cứu khoa học. Năng lực trí tuệ là sự chuyển hóa hết sức sâu sắc quá trình được giáo dục, được đào tạo thành quá trình tự giáo dục và tự đào tạo, bước đầu thực hành lao động trí tuệ theo nghề nghiệp được đào tạo. Năng lực trí tuệ còn là sự chuẩn bị nhiều mặt để bước vào hoạt động nghề nghiệp sau này, và cao hơn nữa, ở một số sinh viên tài năng đã bắt đầu có những sản phẩm trí tuệ trên lĩnh vực được đào tạo. Một tác phong, lề lối làm việc được tổ chức một cách khoa học theo yêu cầu của xã hội công nghiệp cũng là một dấu hiệu rõ rệt của năng lực trí tuệ sinh viên...


Ba là: Nuôi dưỡng vẻ đẹp đạo đức trong nhân cách. Đời sinh viên là thời kỳ đẹp nhất của tuổi trẻ. Nếu được chăm sóc, giáo dục tốt, tuổi trẻ ấy sẽ tỏa sáng và trở thành những dấu ấn không thể nào quên trong đời người. Cần phải khẳng định điều này để không bi quan trước những biểu hiện tiêu cực mà xã hội chứng kiến với nhiều lo âu. Sự tự đấu tranh giữa tốt và xấu, thiện và ác, đúng và sai về lối sống và đạo đức trong đời sống sinh viên hiện nay đang diễn ra âm thầm và quyết liệt... Cuộc sống của sinh viên đang bị tác động của môi trường xã hội ngày càng đa chiều, phức tạp, trong đó, sự phát triển của nhu cầu cá nhân là không thể phủ định. Sự phát triển này sẽ trở nên phong phú, đa dạng trong đời sống sinh viên nếu nó được tôn trọng, định hướng và điều chỉnh...


Nếu tuổi sinh viên bắt đầu từ 18 nghĩa là cũng bắt đầu tuổi công dân. Vì thế, nếu trong các trường phổ thông, giáo dục công dân nhằm hướng dẫn, cổ vũ, động viên học sinh tôn trọng và cố gắng làm theo pháp luật thì trong các trường đại học, giáo dục đạo đức công dân, tôn trọng quy chế, kỷ cương nhà trường, thượng tôn pháp luật nhà nước là điều bắt buộc. Nhà trường đại học phải là hình mẫu thực hiện nhiệm vụ này.


Bốn là: Xây dựng bản lĩnh văn hóa. Khi nói đến việc nuôi dưỡng bản lĩnh văn hóa cho sinh viên cần phải quan niệm ngay rằng, đối với họ, hướng giáo dục phải là vươn tới sự thống nhất trong nhân cách những giá trị văn hóa truyền thống với những giá trị của văn hóa đương đại, hiện đại. Không nên mặc cảm cho rằng, sinh viên nghiêng về văn hóa quốc tế và hiện đại là đồng nghĩa với sự phủ định văn hóa dân tộc... Mặc dầu vậy, trong sự hội nhập khẩn trương, sôi động và quyết liệt hiện nay, trong khi giáo dục đang tiếp cận trực tiếp và tiếp thu hối hả những thành tựu của giáo dục quốc tế, trong khi đang xuất hiện các trường đại học quốc tế, dạy và học bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam thì một điều không thể lẩn tránh đối với giáo dục đại học của chúng ta là đào tạo bằng được con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất khả năng, tiềm năng sáng tạo của mình, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Giáo dục của chúng ta đang đứng trước thách thức gay gắt này. Bằng nhiều con đường khác nhau, bằng nhiều giải pháp khác nhau, trực tiếp và gián tiếp, phải “làm tổ” trong nhân cách sinh viên những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta...


Như trên đã nói, giáo dục đại học là đào tạo đồng thời phẩm chất và năng lực, đào tạo nhân cách và nghề nghiệp ở trình độ cao. Vì thế không nên tách rời nhiệm vụ giáo dục nhân cách với nhiệm vụ giáo dục chuyên môn. Phải chăng, tách rời công tác giáo dục nhân cách sinh viên với vai trò của người thầy là một hiện tượng khá phổ biến trong các trường đại học của chúng ta thời gian qua. Với ý nghĩa đó, không thể tách giáo dục chính trị ra khỏi giáo dục nghề nghiệp như lâu nay người ta vẫn làm, khoán công tác giáo dục chính trị cho những lực lượng ít gắn với vai trò người thầy. ở giáo dục đại học, người thầy phải là nhà khoa học, đồng thời là một hình mẫu để sinh viên vươn tới về mặt nhân cách. Trình độ khoa học, tính sáng tạo và sự thuyết phục, sự trung thực và lòng cao thượng của người thầy sẽ đồng thời tác động đến sinh viên, kể cả khi người thầy tưởng rằng mình chỉ làm nhiệm vụ truyền thụ kiến thức. Đây là đòi hỏi rất cao đối với thầy giáo đại học. Nếu người thầy là chủ thể thứ nhất thì trong giáo dục nhân cách cho sinh viên cần phải có sự phối hợp đồng bộ của hai chủ thể tiếp theo, một là chủ thể lãnh đạo, quản lý Đảng và chính quyền các khoa, các trường đại học, các cơ quan chức năng và hai là các lực lượng, tổ chức quần chúng, đặc biệt là đoàn thanh niên và hội sinh viên. Ba chủ thể này nếu kết hợp tốt sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, đồng tác động đến sinh viên... Đây là một yêu cầu đổi mới thực sự sâu sắc và phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi của tuổi trẻ sinh viên. Mọi sự giáo huấn, “lên lớp” thuyết lý đều không có giá trị nếu 3 chủ thể trên không đồng hành cùng sinh viên trong toàn bộ quá trình học tập của họ...


Đặc trưng của giáo dục đại học là chuyển từ đào tạo sang tự đào tạo, từ giáo dục sang tự giáo dục. Vì thế, không nên gò ép sinh viên trong những lý thuyết về lý tưởng sống và về đạo đức mà luôn luôn đặt họ trong môi trường sống thực tế, trước những thách thức đối với chính họ. Những chủ thể giáo dục là người hướng dẫn, gợi ý và bổ trợ cho quá trình chuyển từ đào tạo sang tự đào tạo, từ yêu cầu rèn luyện sang tự rèn luyện. Sinh viên phải là những người tự sáng tạo ra những hoạt động trong đời sống của mình, phù hợp với lứa tuổi, nhu cầu và nhịp sống của chính họ, đồng thời, từ  hoạt động đó sinh viên sẽ tự chịu trách nhiệm đối với xã hội và nhà trường, họ sẽ lớn lên trước những thách thức đó. Các phong trào của sinh viên sẽ sống lâu bền và có hiệu quả khi chính họ là “nhân vật chính”, là chủ thể tự quản hoạt động của mình. ở đây đặt ra yêu cầu đổi mới sâu sắc chức năng quản trị đại học. Cần rà soát lại những quy định, quy chế trong nhà trường đại học để tạo cho sinh viên một năng lực tự rèn luyện mình và nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của họ đối với cuộc sống.


Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng là một nhiệm vụ trực tiếp của các trường đại học. Trong việc giáo dục nhân cách mang tính đại trà đối với mọi sinh viên cần dành tư duy cho việc đào luyện những tài năng trên nhiều lĩnh vực trong các trường đại học. Đây là công tác bồi dưỡng, đào tạo tinh hoa, mà kết hợp trong những tinh hoa đó là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực ở mức độ và chất lượng cao.


Nghị quyết Về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo yêu cầu: “Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của Chủ nghĩa Mác - Lên nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đó là yêu cầu rất cơ bản đối với giáo dục đại học. Tuy vậy, chất lượng và hiệu quả của giáo dục chính trị, giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là vấn đề chưa giải quyết xong trong tình hình mới. Cần đặc biệt quan tâm đến 2 từ cốt lõi và nhân văn trong giá trị của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Phải chăng, chúng ta chưa làm được đúng yêu cầu đó. Có lẽ, phải khảo sát và nghiên cứu lại chương trình, nội dung giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để chỉ ra một cách khoa học và thuyết phục nhất đối với sinh viên về hai giá trị cốt lõi và nhân văn, và đặc biệt phải gắn hai giá trị đó với thực tiễn ngày hôm nay để giải đáp những vấn đề lớn của đời sống đất nước... Không nên trình bày một cách tràn lan, công thức, lý thuyết suông, thiếu chọn lọc những nội dung liên quan đến Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh mà cần phân tích một cách khoa học gắn với những vấn đề thực tiễn mà sinh viên quan tâm để tăng niềm tin và sức thuyết phục. Mặt khác, những bộ môn khoa học cơ bản, khoa học nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật đều có khả năng đưa sinh viên tiếp cận và vận dụng phép biện chứng Macxit và minh triết Hồ Chí Minh. Đó là con đường hệ trọng để chuyển tải tinh thần, bản chất và giá trị của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh đến sinh viên, từ đó, từng bước bồi đắp một giá trị cốt lõi cần có trong nhân cách sinh viên.


ĐXD.


vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »