tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
27.10.2015
Hà Đình Nguyên
Mộ các danh thần Triều Nguyễn ở Sài Gòn

Khu mộ hơn 200 năm của danh thần triều Nguyễn giữa Sài Gòn


Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy tọa lạc tại số 19 Cô Giang (gần ngã tư Phú Nhuận, TP.HCM). Từ khi được an táng đến nay đã hơn 214 năm nhưng ngôi mộ vẫn giữ được nét uy nghi, đường bệ của bậc đệ nhất công thần, đồng thời tiêu biểu cho nghệ thuật xây cất lăng mộ cổ ở Nam bộ. Bộ VH-TT đã ra quyết định công nhận đây là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.


Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy gồm phần tiền mộ (bình phong tiền, sân tế) và phần mộ (cửa mộ, bàn hương án, mộ và bình phong hậu)


Trước mộ là bàn tế (hương án), trước bàn tế có đặt lư gốm to, chân bệ mô phỏng sập chân quỳ kê trên bốn con kỳ lân ở bốn góc. Sau mộ là bình phong hậu cũng mô phỏng hình sập quỳ. Trên bình phong có hai ô hình chữ nhật, ô bên phải ghi công trạng của Võ Di Nguy, ô bên trái nói về thân thế bà Lê Thị Mười (phu nhân của Võ tướng công)


Những chữ Hán khắc trong mỗi ô đã phai mờ, khó đọc


Hai bên bình phong hậu có đắp phù điêu hình rồng


Mặt trong bình phong tiền chạm hình “vân tùng lộc” (mây, cây tùng và hươu nai)


Dọc bờ tường bao quanh khu mộ và ở thân các trụ vuông có chạm trổ nhiều phù điêu hình chậu hoa, chim trĩ, chim công, hoa mẫu đơn, tùng lộc, tứ linh, tứ quý… Trong ảnh là phù điêu hình lân đạp mây...


... phù điêu “mai điểu” (chim và hoa mai)


Sinh thời, Võ Di Nguy là danh tướng thủy quân (tước Bình Giang Quận công) nên trên bờ tường có tượng hai con rái cá, mỗi con một tư thế (nhìn thẳng và nghiêng)


Rái cá là con vật rất giỏi bơi lặn tượng trưng cho biệt tài của Võ Di Nguy


Giữa sân, phía trước mộ có tượng hai con lân nhỏ rất đẹp, xứng đáng được liệt vào “tượng linh vật thuần Việt”


Hai bên bình phong tiền có tượng hai con sư tử mắt lồi, đuôi xòe, nhe răng, bờm xoăn từng lọn rất lạ đứng ôm lấy bức bình phong


Chưa kể trên hai trụ vuông còn có hai con lân lớn cũng uy mãnh và đẹp không kém


Ba ngôi mộ của danh tướng Võ Tánh


Theo tục lệ dân gian, khi một người chết mất xác hoặc vì lý do nào đó mà người ta phải tạo mộ giả (mộ gió) để hương khói, thờ cúng là chuyện bình thường. Nhưng một vị tướng mà có đến 3 ngôi mộ thì quả là chuyện hiếm.


“Dũng” và “nhân” của đạo làm tướng


Sử liệu ghi Võ Tánh người gốc Biên Hòa, năm 1788 ông theo phò Nguyễn Ánh, được Nguyễn vương gả em gái là công chúa Ngọc Du. Ông đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Năm 1799, ông cùng Nguyễn Huỳnh Đức theo chúa Nguyễn tiến chiếm thành Quy Nhơn. Chúa Nguyễn đổi tên là thành Bình Định, giao cho Võ Tánh và Lễ bộ Tham tri Ngô Tùng Châu coi giữ còn chúa rút đại quân về Gia Định.


Tháng giêng năm 1800, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu cùng Võ Văn Dũng vây chặt thành Bình Định. Sau 14 tháng bị vây khốn, quân trong thành đã quá mệt mỏi, lương thực, đạn dược cạn kiệt... Ngô Tùng Châu khuyên Võ Tánh nên bôn tẩu về với chúa Nguyễn, nhưng ông nói: “Tôi là võ tướng phải chết theo thành. Ngài là quan văn hãy cố bảo trọng”. Ngô Tùng Châu đáp: “Võ có trung can lẽ đâu văn lại không có nghĩa khí”. Sách Hoàng Việt hưng long chí kể: Ngô Tùng Châu trở về mặc triều phục chỉnh tề, vái vọng về phía kinh đô Phú Xuân rồi ngửa cổ uống cạn chén thuốc độc. Võ Tánh nghe tin báo, đau buồn nói: “Thế là Ngô quân đã đi trước ta rồi”. Nói đoạn đi ngay đến dinh của Ngô Tùng Châu, lo việc khâm liệm mai táng... Việc đó xảy ra ngày 25 tháng 5 năm Tân Dậu (ngày 5 tháng 7 năm 1801). Rồi Võ Tánh sai quân sĩ lấy củi khô đem chất đống trước lầu Bát Giác, đặt thuốc dẫn hỏa lên trên, rồi bảo với các tướng rằng: “Ta không muốn cho quân giặc nhìn mặt, ta chết với lửa”. Nói đoạn, Võ Tánh sai người ra trao cho tướng Trần Quang Diệu một bức thư có câu: “Phận ta là chủ tướng, phải chết dưới cờ, còn quân lính chẳng có tội gì, xin đừng giết hại”. Võ Tánh thay áo mão ung dung bước lên lầu, rồi truyền châm lửa. Lầu Bát Giác bỗng chốc hóa thành ngọn đuốc khổng lồ...”.


Trần Quang Diệu vào thành, không giết một ai cả mà cho nhặt tinh cốt của Võ Tánh rồi tổ chức mai táng “kẻ thù” theo nghi lễ tướng quân. Cả hai người, bên thắng và bên thua đều tỏ rõ cái “dũng” và cái “nhân” của đạo làm tướng.


3 ngôi mộ của một danh tướng


Ngôi mộ chính của Võ Tánh nằm trong nội cung thành Hoàng Đế (thành do Nguyễn Nhạc xây trước đó). Mộ hình tròn trên có đắp biểu tượng một con dơi, người viết đã từng đến viếng ngôi mộ này, thấy không có bình phong tiền nhưng có bình phong hậu, bên mộ có 2 con nghê đá ngồi chầu.


Vì không đưa được thi thể của Võ Tánh về Gia Định mai táng nên Nguyễn Ánh đã tổ chức an táng ông tại Phú Nhuận dưới hình thức “mộ gió” (chôn theo hình nhân bằng sáp). Khu lăng mộ này hiện tọa lạc tại hẻm số 19 đường Hồ Văn Huê (Q.Phú Nhuận, TP.HCM). Từ cổng lăng vào lần lượt là nhà võ ca, đền thờ, lăng mộ. Trước mộ có bình phong tiền, mặt trước vẽ hình con hổ, mặt sau vẽ hình “long mã hà đồ” (trên lưng con long mã có một thanh gươm cột trên chồng binh thư, quanh mình lân mã là những đốm lửa, tượng trưng cho người có tài thao lược, nhưng phải tự thiêu để tỏ nghĩa khí). Sau bình phong tiền là cửa lăng rộng hơn 2 m, hai bên có trụ biểu, trên đầu mỗi trụ có chạm búp sen lớn nên chiều cao mỗi trụ lên đến 2,5 m. Trước mộ có nhang án. Phần nấm mộ có hình chữ nhật, giật hai cấp, chiều dài 4 m, rộng 3 m và cao khoảng 4 tấc. Cuối cùng là bình phong hậu vẽ hình “vân hạc” ngụ ý võ tướng công cưỡi hạc về trời. Lăng có khuôn viên rộng rãi, thoáng mát và sạch sẽ. Người hiện nay chăm sóc, nhang khói là bà Sáu (tên thật là Nguyễn Thị Bao, 73 tuổi, bộ đội phục viên).


Tuy nhiên trên đường Nguyễn Thái Bình (Q.Tân Bình), ngay sau chốt dân phòng của tổ bảo vệ dân phố, khu phố 7, dưới tán một gốc cổ thụ xum xuê có thêm một mộ Võ Tánh (mộ gió) nữa. Mặt tiền của nấm mộ được xây (mới) dạng một cái am nhỏ có mái giả bằng xi măng. Mặt trước “am” chia làm 3 ô nhỏ, trước mỗi ô đều đặt bát nhang. Ở ô chính giữa có ghi hàng chữ bằng quốc ngữ “Đại Nam quốc. Phần mộ: ông Võ Tánh, mất ngày 27.7.1801 năm Tân Dậu” (về ngày tháng tuẫn tiết của Võ Tánh, nhiều tài liệu ghi khác nhau). Chị Tâm - người đặt bàn máy may dưới cây đa trước mộ hằng ngày vẫn quét tước, nhang khói vì “ông rất linh” cho chị luôn đắt hàng kể từ khi ra đây ngồi (đã được 4 - 5 năm). Ngôi mộ này có chiều dài khoảng chừng 10 m, rộng chừng 7 m, xung quanh có tường thành bao quanh (không có bình phong hậu, nhưng trên bờ tường có chạm những phù điêu hình thú, hoa điểu... đã bị nứt nẻ, rơi rụng mất nét khá nhiều), bốn góc mộ có xây trụ cột. Mái trũng bám đầy rêu. Tôi hỏi chị Tâm: “Mộ này chôn mấy người, chị?”. Chị đáp: “Ba người, hổng thấy 3 ô bia đó sao?”. Tôi hỏi: “Nếu như mộ ông Võ Tánh ở đây là “mộ gió” thì 2 người được chôn theo là ai?”, nhưng chưa có câu trả lời.


Lăng Long Vân hầu Trương Tấn Bửu


Nằm cách con đường Nguyễn Văn Trỗi khoảng 100 m lúc nào cũng nhộn nhịp xe cộ, vậy mà khu lăng mộ Long Vân hầu Trương Tấn Bửu lại ngập tràn một không khí trầm mặc, u tịch.


Khung cảnh lăng còn trầm mặc hơn nữa khi chúng tôi đến thăm nơi này vào một buổi chiều sau trận mưa lớn. Cổng chính ở số 41 Nguyễn Thị Huỳnh (P.8, Q.Phú Nhuận, TP.HCM) đóng im ỉm. Sau khi bấm chuông, có một phụ nữ trên 50 tuổi ra mở cổng và dắt chúng tôi tham quan khu lăng mộ.


Phò chúa, dẹp cướp biển


Trương Tấn Bửu (1752 - 1827) là con thứ ba của ông Trương Tấn Khương và bà Trần Thị Nghĩa ở vùng đất nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ông theo phò Nguyễn Ánh thuở Chúa còn bôn tẩu. Chuyện kể rằng vào năm 1787, trong một đêm bị quân Tây Sơn truy đuổi, Chúa phải cải trang vào nhà ông Khương xin tạm trú. Lúc trò chuyện, nhìn dung mạo phi thường của khách, gia chủ gạn hỏi. Biết không thể giấu được nên Chúa phải xác nhận mình chính là mục tiêu truy bắt của quân Tây Sơn. Trương Tấn Bửu lúc này đã 35 tuổi, rất giỏi võ nghệ đã xin cha theo phò giá.


Từ đó ông sát cánh bên Chúa Nguyễn, lập được nhiều chiến công cũng như chia sẻ cùng chủ tướng nhiều cơn hoạn nạn. Ông được liệt vào “Ngũ hổ danh tướng” của Chúa Nguyễn (gồm Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương và Trương Tấn Bửu). Giai đoạn này ông được Nguyễn Vương ban tên là Long (sau này lại ban tước hầu, nên gọi là Long Vân hầu).


Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất giang sơn lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Trương Tấn Bửu là một trong những “khai quốc công thần” được vua tin dùng sai vào nam ra bắc.


Năm 1806, khi đang nhận chức Chưởng dinh chỉ huy đạo quân Bắc thành, ông có công dẹp giặc Tàu Ô (cướp biển) nên được lãnh chức Tổng trấn Bắc thành (Hà Nội) thay Nguyễn Văn Thành.


Năm 1812 ông vào nam nhận chức Phó tổng trấn Gia Định thành (dưới quyền Nguyễn Văn Nhơn), rồi xuống tận Châu Đốc lo việc xây thành đắp lũy, lại được triệu về kinh đô Huế nhận chức Trung quân phó tướng trông coi việc xây dựng Thái Miếu. Năm 1821, lại được cử làm Phó tổng trấn Gia Định thành lần 2 (dưới quyền Lê Văn Duyệt).


Ông làm quan suốt 40 năm (trải 2 đời Gia Long, Minh Mạng), mất lúc 75 tuổi (1827). Chính Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt đã đứng ra lo việc tống táng và xây mộ cho ông.


Mộ cổ xuống cấp


Khu lăng mộ Lễ Thành hầu Trương Tấn Bửu là một trong những ngôi mộ cổ nhất ở Sài Gòn - nay đã xuống cấp trầm trọng. Đây là kiến trúc tiêu biểu cho lăng mộ giới tướng lĩnh, quan lại đầu triều Nguyễn nên dù đã gần 200 năm, lớp ô dước bên ngoài bong tróc gần hết nhưng gạch bên trong vẫn gắn kết chắc chắn với nhau và giữ được gần như nguyên vẹn cấu trúc khu lăng mộ.


Mặt bằng khu lăng mộ gồm bình phong tiền, cổng ngoài, sân bái đình, cổng trong, hương án, mộ và bình phong hậu. Mộ Trương Tấn Bửu dài hơn 3 m, ngang khoảng 2 m và cao hơn 2 m, có dáng như một ngôi nhà mà nóc mộ là 2 mái vát chụm nhau... Đi quanh khu mộ mới thấy được sự tàn phá của thời gian.


Những búp sen bằng đá trên những cột trụ khuôn thành bao quanh khu mộ đã rơi rụng sứt mẻ. Những bức bình phong trước và sau mộ bị bong tróc lòi gạch bên trong nên nếu không tìm hiểu thì chẳng thể biết được trước đây nó được thể hiện như thế nào (hình lân ở bình phong tiền, hạc tùng ở bình phong hậu).


Thay vào đó là những tấm biển, tấm bia viết bằng chữ quốc ngữ (còn mới quá, có cảm giác như bị “đặt nhầm chỗ”): mặt trước bình phong tiền có treo tấm biển “Cổ tích liệt hạng: mộ Long Vân hầu Trương Tấn Bửu 1752 - 1827. Cấm phá hoại, di chuyển, đào quật, vẽ và viết lên di tích. Nếu ai vi phạm sẽ bị truy tố theo luật lệ hiện hành về bảo tồn cổ tích - Viện Khảo cổ, Bộ Quốc gia Giáo dục”. Còn tấm bia đặt trước mộ khắc những chữ: “Trương công công Trương Tấn Bửu, Trung quân phó tướng thọ Long Vân hầu”.


Bên phải lăng mộ là đền thờ Trương Tấn Bửu do ban quý tế Phú Thành Hội dựng lên để cúng tế, thờ phụng Đức Long Vân hầu. Do thuở xưa, khu lăng mộ tọa lạc tại ấp Phú Thành, xã Phú Nhuận, tỉnh Gia Định nên Hội Quý tế lấy tên ấp làm tên hội. Hội này do ông Cao Văn Báu lập nên và là hội trưởng đầu tiên. Ông Báu mất năm 1990, thọ 90 tuổi. Hiện nay cháu ngoại của ông Cao Văn Báu là bà Lê Thị Sương (sinh năm 1959) là người coi sóc, hương hỏa khu lăng mộ. Bà Sương chính là người mở cổng và dẫn chúng tôi vào tham quan.


Ngay cửa vào đền, trên hai cột hiên đắp nổi câu đối: “Uy đức Bắc thành an vũ trụ. Thống huyền Nam địa tịnh biên cương (Uy đức trấn an vùng thành Bắc. Trị dân ổn định cõi bờ Nam).


Trong đền ngoài các linh vật, vật dụng thường thấy ở các đình đền Nam bộ (bạch mã, cặp hạc đứng trên lưng rùa, võng lọng, thập bát binh khí…) còn có một bộ triều phục màu đỏ thêu rồng 4 móng. Hỏi bà Sương có phải là triều phục của Long Vân hầu truyền lại, bà bảo cũng không rõ, khi bà vào đây đã thấy có chiếc áo ấy rồi.


Hoang phế mộ cha con Trương Minh Giảng


Bên cạnh những ngôi mộ của các danh thần triều Nguyễn ở Sài Gòn được chăm sóc thờ cúng, cũng có những ngôi mộ đang trở thành phế tích, mà mộ của danh thần Trương Minh Giảng là một điển hình.


Từ nhiều nguồn tư liệu, chúng tôi biết được tại hẻm 82/5 Lý Thường Kiệt, P.7, Q.Gò Vấp, TP.HCM có ngôi mộ song táng của Bình Thành bá Thượng thư Bộ Hộ Trương Minh Giảng cùng phu nhân và ngôi mộ của Thành Tín hầu Thượng thư Bộ Lễ Trương Minh Thành (cha ruột Trương Minh Giảng). Rất may là có một cán bộ văn hóa của phường dẫn đường, nếu không thì chắc chắn rất khó tìm bởi phải qua những con hẻm ngoằn ngoèo. Đến nơi, người coi giữ từ đường “Trương Gia từ” yêu cầu phải có giấy giới thiệu của phường mới cho vào bên trong khu nhà có tường cao bao quanh. Anh cán bộ phường phải về cơ quan xin giấy. Tôi hỏi ướm người đàn ông dẫn đường: “Ngôi mộ trong này là của ai vậy anh?”. “Tui cũng không biết, để hỏi ba tui”. Rồi ông hỏi vọng vào trong nhà từ đường: “Ba ơi, mộ này của ai vậy ba?”. Người trong nhà trả lời: “Cũng không biết nữa, nhưng tui là hậu duệ đời thứ 6”.


Nơi tập kết phế liệu


Phía bên trái khu từ đường là một khu vườn um tùm lùm chuối, cau kiểng, mít và tràn lan cỏ dại. Người viết đạp cỏ tìm đường vào. Mộ ông bà Bình Thành bá Trương Minh Giảng được xây bằng hợp chất cổ (ô dước) hoang tàn rêu phong, đầy dây leo cỏ dại… Mộ có kiến trúc: Vòng ngoài là bờ thành hình chữ nhật (khoảng 10 x 6 m, cao khoảng 0,6 m), nối liền với cổng mộ là 2 trụ đá vuông, trên đầu trụ có chạm búp sen lớn. Bình phong trước gồm 3 ô hình chữ nhật (ô giữa nhô lên), hai bên bình phong có trụ dạng cuốn thư. Vì rất hoang phế nên không biết được nguyên trạng bình phong này có chạm khắc chữ hay hình thù gì không. Phần mộ không có bia, cuối cùng là bình phong hậu nối liền với bờ thành, trên bình phong hậu cũng chẳng thể hình dung được nguyên trạng.


Mộ người con (và dâu) dẫu được nằm bên cạnh từ đường dòng họ Trương mà còn “thê thảm” như thế, huống gì mộ của người cha nằm ngoài khuôn viên “Trương Gia từ” đến những 70 m. Mộ Thành Tín hầu Trương Minh Thành nằm ngay góc ngã ba 2 con hẻm nhỏ (ở số 82/14A Lý Thường Kiệt, P.7, Q.Gò Vấp). Người qua đường chỉ có thể đoán đây là một ngôi mộ cổ bởi được khoanh vuông bằng một bờ thành (dài khoảng 10 m, góc có trụ vuông), còn thì chỉ thấy là mộ “rừng cây” um tùm và là bãi tập kết của đủ loại phế liệu (thùng mốp, cửa kính vỡ, khung nhôm sắt, gỗ tạp, chậu kiểng…). Mặt tiền của ngôi mộ bị che chắn kín mít bởi những thứ tạp nham này. Không thể tìm được lối vào (mà có lối thì cũng chẳng ai dám vào vì quá um tùm, rậm rạp). Chạnh nghĩ cả 2 cha con đều đạt tới bậc thượng thặng vinh hoa: một là Thượng thư Bộ Lễ, người kia là Thượng thư Bộ Hộ, cha còn hơn con khi được phong tước hầu, còn con mới tới tước bá, cùng phò vua giúp nước nổi tiếng một thời, vậy mà ngày nay mộ phần lại tang thương như vậy.


Công thần bậc nhất của nhà Nguyễn


Có rất ít thông tin về Thành Tín hầu Trương Minh Thành nhưng tiểu sử của Trương Minh Giảng thì… dài dằng dặc. Ông người làng Hạnh Thông, H.Bình Dương, tỉnh Gia Định. Trương Minh Giảng được đánh giá là người văn võ song toàn, công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, vừa là võ tướng vừa là sử gia, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử quán. Ông đỗ cử nhân năm 1819 và chỉ hơn 10 năm sau đã thăng tiến đến chức Thượng thư Bộ Hộ.


Năm 1833, Trương Minh Giảng được vua Minh Mạng sai đem quân dẹp loạn Lê Văn Khôi, mãi 2 năm sau mới hạ được thành Phiên An (tức thành Gia Định). Tuy nhiên, trước đó Lê Văn Khôi đã cầu viện với Xiêm La (Thái Lan ngày nay) nên vua Xiêm sai quân thủy bộ chia làm 5 đạo nhất loạt tiến đánh Hà Tiên, Nam Vang, Cam Lộ, Cam Cát và Trấn Ninh. Minh Mạng cấp tốc điều động các tướng chỉ huy bảo vệ cả 5 mặt trận. Trương Minh Giảng cùng Nguyễn Xuân đẩy lui được quân Xiêm, nên được vua ban thưởng phong tước Bình Thành nam. Thừa thắng, Trương Minh Giảng và Nguyễn Xuân phối hợp cùng quân của Lê Đại Cang (đang chiến đấu ở mặt trận Nam Vang) tấn công giặc, quân Xiêm thất trận phải bỏ Nam Vang, rút tàn quân chạy về nước, giúp Chân Lạp thu phục lại thành Nam Vang (Phnom Penh bây giờ). Nhờ chiến công này, Trương Minh Giảng được gia phong tước Bình Thành bá. Sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu ghi: “Vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua nghe tấu chương của Trương Minh Giảng, lập đất Cao Miên thành quận huyện của Đại Nam, đặt tên là Trấn Tây thành”. Vua phong Trương Minh Giảng chức Tướng quân kiêm chức Bảo hộ Cao Miên và phong Lê Đại Cang làm Trấn Tây Tham tán đại thần cùng lo việc trấn thủ. Năm 1838, do công lao trấn giữ Trấn Tây thành, khi triều đình dựng bia ghi công võ tướng, tên ông được khắc hàng đầu trong Võ miếu ở kinh đô Huế.


Do tình hình Trấn Tây (gồm vài tỉnh đông nam Cao Miên, phía dưới Biển Hồ, Phnom Penh, Kandal, Takeo, Prey Veng) không yên vì gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của người bản xứ, năm 1841, vua Thiệu Trị quyết định rút bỏ Trấn Tây thành (tức thủ đô Nam Vang ngày nay) và toàn bộ Trấn Tây. Trương Minh Giảng theo lệnh rút quân về trấn thủ An Giang.


Tháng 7 năm Tân Sửu (1841), Trương Minh Giảng bệnh và qua đời tại An Giang.


HĐN


 


thanhnien.com.vn 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »