tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
16.10.2016
Lê Đỗ Huy
Xứ sở… không diệu kỳ của Alice trong “Không hòa bình, chẳng danh dự”

Mèo cười không mặt, Quái vật, Chốn người điên, Xứ sau Gương… là những điển tích trong sách  của Larry Berman về những chốn đoạn trường thời kỳ Hiệp định Paris. Bài viết này không cố đoán ông muốn nói gì qua những điển cố, mà chỉ nêu những liên tưởng trên cách viết có ấn ý của Berman.


Chốn người điên


Phần Lời cảm ơn (ACKNOWLEDGEMENTS) có thể được cảm nhận là vô thưởng vô phạt trong một không gian của xứ sở “đóng”, nhưng chắc khá quan trọng trong một xã hội trọng trích nguồn (credited), cũng có nghĩa là trọng đóng góp của CON NGƯỜI. Trong phần này  (ACKNOWLEDGEMENTS) của sách Không hòa bình Chẳng danh dự, tác giả Larry Berman đã “phang” một đoạn như sau.


[Có một cảnh trong sách Cuộc phiêu lưu của Alice đến xứ diệu kỳ của Lewis Caroll khi Alice phán: “tôi không muốn nhập vào đám những người điên (to go among mad people)”.


Con Mèo trả lời: “Ngươi không thể chống chế như thế, vì chúng ta ở đây đều điên, ta điên, ngươi cũng điên”.


“Làm sao ngươi biết ta điên?”, Alice hỏi.


“Ngươi phải là kẻ điên, nếu không đã chẳng mò đến đây”.


Tôi (Berman) đã đến đó, và nay tôi vinh hạnh được cảm tạ những cá nhân và những thế chế đã dẫn đường cho tôi (đến đó).


(hết trích từ Không hòa bình Chẳng danh dự)]


Rồi ông Berman mới liệt kê danh sách những người cần cảm ơn vì đã đóng góp vào sách, như thường lệ. Vì thể cảm nhận của người đọc Việt, chí ít, chắc bắt đầu bằng: trong một xã hội điên, thật… điên rồ để tỏ ra tỉnh (không điên); đồng thời vờ điên chắc gì là cứu cánh: trong một xã hội điên, người sống sót chắc gì đã là những ai không điên.


Nhưng quay lại với năm 1972 đảo điên, độc giả hẳn nhớ về Lý thuyết thằng điên (Mad man theory) mà Nixon theo đuổi, cũng như thắng lợi hoành tráng trong mắt cử tri Mỹ, của đội hình Nixon – Kissinger, khi họ chọc thủng phòng tuyến của “trại lính (camp) Xô – Trung”. Đi sang xứ sở mà khi Tổng bí thư Liên Xô thăm Chủ tịch Mao, thì lãnh tụ vĩ đại này tiếp ông ta (Khrushev) chỉ che thân bằng quần tắm; hoặc một xứ sở bên cạnh, nơi có lãnh đạo điều hành giữa hai cuộc say rượu.


Trong Phỏng vấn lịch sử (Intervew with History; NXB Houghton Mifflin Company Boston, 1976), Oriana Fallaci viết: Kissinger “tới gặp Mao Trạch Đông bất kể lúc nào có nhu cầu, vào cửa điện Kremlin tuỳ thích; đánh thức tổng thống Hợp Chủng quốc, hoặc tông cửa buồng ngủ của vị này vào lúc nào ông ta, Kissinger, cho là được” .


Larry Berman cũng nói đến “Lý thuyết thằng điên” của Nixon, tại trang 67. Khoảng tháng 3/1970, Kissinger nhấn mạnh với ông Lê Đức Thọ rằng không nên áp đặt một thử thách về ý chí (a test of will) vì Nixon không phải là con người hợp với một thử thách như vậy. Berman dẫn đại sứ Bill Sullivan, rằng Nixon sẽ áp dụng Lý thuyết thằng điên theo kiểu của ông ta, “nếu ông ta cần làm cho họ (đối phương) hiểu rằng ông ta có khả năng tỏ ra không có lý trí (irrational) và không tự kiềm chế, dù chính ông ta là người rất lạnh (cold), rất có cân nhắc, ông ta cho rằng việc này (áp dụng lý thuyết thằng điên) là một tình huống (context) có ích, tạo được một hình ảnh về con người không kiểm soát được. Và đây là cách mà ông ta muốn thể hiện nó (Lý thuyết thằng điên)”.


Tại trang 215 (chương Linebacker II), Berman đề cập cái ông gọi là thử thách (test) nói trên. Ông ta dẫn Kissinger, người viết đoạn sau: “Người Bắc Việt Nam đã mắc một lỗi cơ bản (cardinal error) trong giao kèo với Nixon: họ đã dồn ông ta vào góc”. Berman viết tiếp, những chiếc B52 là những đồng tiền cuối cùng (roll) của canh bạc (dice).


Con Mèo cười không có mặt


Quay lại với Alice và Con Mèo. Con Mèo này theo điển cố có tên là Cheshire Cat (Cheshire là một vùng ở Tây Bắc nước Anh), nó cười nhe hết răng. Tục ngữ Anh có câu: grins like a Cheshire cat (nhe răng như một con mèo Cheshire). Nhưng trong Cuộc phiêu lưu của Alice đến xứ diệu kỳ của Lewis Caroll, Con Mèo Cheshire trở thành một “nhân cách” kỳ lạ, nếu không nói là quái đản. Nó có thể không có mặt, nhưng lại có một nụ cười. Cụ thể, Mèo Cheshire đang đối thoại với Alice bỗng dần biến đi, nhưng để lại một nụ cười. khiến Alice phải tự nhủ rằng cô “thường thấy một con mèo nhưng không thấy nó cười, chưa từng thấy một nụ cười mà không có mèo”. 


Chuyện phiêu lưu của Alice lại được Berman viện đến, khi ông đọc lưu trữ về cuộc gặp Việt – Mỹ đầu thập niên 70. Tại trang 73 của Không hòa bình Chẳng danh dự, Larry Berman viết: “Và tiến trình này (các cuộc gặp Việt –Mỹ) diễn ra suốt năm 1970, rồi sang 1971. Đọc biên bản của các cuộc gặp (Việt – Mỹ) có cảm tưởng như đang được chở đến xứ kỳ lạ mà Alice từng lâm vào [bản tiếng Việt dịch là “lâm vào xứ thần tiên mơ hồ nào đó” ]. Hoa Kỳ đã chấp nhận nguyên tắc rút hoàn toàn quân đội Mỹ và các lực lượng đồng minh với một lịch trình chính xác cho cuộc rút quân này. Hoa Kỳ đã đưa ra bảo đảm là nước này không có nghĩa vụ phải che chở (maintenance, còn có nghĩa protection – bảo vệ)” bất kỳ lực lượng chính trị cầm quyền nào một khi đạt được thỏa ước (giữa Hà Nội và Washington) [đoạn viết nghiêng là bởi Berman]… 


Theo Berman, Lê Đức Thọ đã ít chú ý đến những nhấn mạnh trên (mà người Mỹ cho là họ tỏ thiện chí) của phía Hoa Kỳ. Vẫn tại chương này (Không thể lấy thúng úp voi), các vấn đề ý thức hệ cũng được đả động đến. Trang 66 dẫn Kissinger nói với ông Thọ: “Là người Việt Nam và là người Marxist, các ông không chịu ấn tượng bởi điều gì ngoài những nhân tố khách quan”. Trang 72, Kissinger lưu ý với ông Thọ: “Là người Leninist, các ông cần hiểu rằng một quá trình chính trị không bao giờ bền vững. Vì thế Hoa Kỳ muốn thiết lập một quá trình chính trị không loại trừ một kết quả nào và cho phép tất cả các phái chính trị tham gia vào cuộc tranh đấu trong khuôn khổ các vấn đề chính trị của quốc gia.


Về phương pháp đàm phán, Berman viết: “Rốt cuộc, Kissinger cáo buộc Lê Đức Thọ đã dùng ‘tài biện chứng’ (dialectical talant – cũng có thể dịch là tài dùng thổ ngữ), để kéo dài bất tận những cuộc đàm phán ấy (trang 74).


Quái vật


Nói về Hiệp định Paris, Berman dẫn một sách khác về Alice của Caroll. Đó là từ sách Xứ sở sau Gương và Alice tìm được gì ở đó, có bài thơ The Jabberwocky gồm những từ vô nghĩa. Larry Berman khẳng định bản Hiệp định hòa bình được viết ở Paris là một văn bản Jabberwocky (trang 241). Việc tra cứu sẽ dẫn độc giả đến với một con quái vật trong truyền thuyết là con Jabberwock. Chương về Hiệp định Paris trong Không hòa bình, chẳng danh dự được gọi là “Bản Hiệp định Jabberwocky” (The Jabberwocky Agreement). Tác giả muốn nói ngay sau Hiệp định, hai bên đã đánh nhau đùng đoàng, thậm chí muốn chỉ ra rằng cả Hà Nội nữa, dù ký chưa ráo mực Hiệp định, đã rắp tâm vi phạm nó. Chắc Lary Berman chưa có cơ hội được phỏng vấn các cựu chiến binh, và nhất là được hỏi người dân thường Việt Nam từng trải cuộc chiến tranh chống Mỹ, để hiểu rằng thực ra, ít nhất, ở miền Bắc, từng tồn tại mạnh mẽ hy vọng có hòa bình do Hiệp định Paris mang lại. Dù họ (“quân và dân” miền Bắc, và không chỉ miền Bắc) từng trải “biết bao niềm hy vọng tan vỡ trong quá khứ”, từng bị các nước lớn lường gạt không chỉ một lần về triển vọng hòa bình, thống nhất. Chẳng hạn, giai đoạn ngay sau Hiệp định Geneva 1954.


Về chủ đề “quái vật” người đọc hẳn cũng có liên tưởng. Theo bài Lá phiếu lớn nhất (The Biggest Vote), The New York Times số ra tháng 5, 2000, trước khi chết (trước 1994), Nixon đã day dứt chia sẻ với bình luận gia William Safire, rằng: “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một con quái vật Frankenstein” (một Trung Quốc “trỗi dậy”) .


William Safire thú nhận đã chấp bút các bài phát biểu cho tổng thống, theo đó Nixon trấn an những người báo thủ, là buôn bán với Tàu rồi sẽ dẫn tới tiến hóa của các nguyên tắc dân chủ ở Bắc Kinh. “Nhưng chúng ta (Hoa Kỳ) đã buôn bán được 30 năm nay (tới năm 2000, với Trung Quốc), (và trên thực tế) đã tài trợ cho các cơ sở công nghiệp quân sự của nước này, cho phép họ mua hỏa tiễn M-11 từ tay người Nga, và phát triển công nghệ máy tính nhờ vào chúng ta (Mỹ)”.


Không hòa bình


Thủ tướng Anh Chamberlain được “điểm danh” ba lần trong sách Không hòa bình, chẳng danh dự. Chủ yếu để giải thích khái niệm “Hòa bình trong danh dự” mà Berman có ý “bêu dương” rõ rệt. Tại trang 239, tác giả Berman thuật tự truyện của một nhà ngoại giao Anh. Thể hiện sự khinh bỉ (disdain) với những khoa trương mà Chamberlain và đồng sự cố tỏ ra, sau khi quỵ lụy để đạt được một hòa ước nhục nhã với Đức Quốc xã, nhà ngoại giao Anh này cho hay Chamberlain muốn chứng tỏ Hiệp ước Munich (1938) là “một chiến thắng trọng đại chứ không phải là sự phản bội một nước nhỏ”, đem lại “một nền hòa bình trong danh dự” (cho Anh, Pháp…).


Chắc Larry muốn diễn tả (trong câu “sự phản bội một nước nhỏ”): “nước nhỏ” ở đây chắc ngụ ý Việt Nam cộng hòa. Nhưng người đọc còn có thể nghĩ “nước nhỏ” (minor country), bị chia cắt như Tiệp Khắc sau Hiệp định Mucnich, chính là… Việt Nam, trong trò chơi mạt cưa mướp đắng của các nước lớn? Chỉ 5 năm sau ngày Việt Nam thống nhất, chính Trung Quốc đã đánh Việt Nam, và những ai từng chứng kiến sự kiện ấy sẽ không bao giờ tin rằng Trung Quốc sẽ không đánh vào Hà Nội nếu khả năng ấy xảy ra. Theo tướng Trung Quốc Lưu Á Châu, Trung Quốc đánh Việt Nam để… “trả hận cho người Mỹ”!


Chẳng danh dự…


Trong chương Bản Hiệp định Jabberwock, (trang 261) Berman dẫn đánh giá của Đô đốc Zumwalt trong cuộc họp Hội đồng tham mưu liên quân tháng 11 năm 1972, rằng đây là một nền hòa bình nhục nhã (shame peace) được song hành với một kế hoạch lường gạt công luận Mỹ với những khoa trương trống rỗng về danh dự của nước Mỹ.


Nhưng đâu chỉ có người Mỹ lo cho thể diện của nước Mỹ. Khi đọc lưu trữ về chuyến công cán Trung cộng của tướng Haig. Ngay từ lúc đó (tháng Giêng 1972), Chu Ân Lai đã gửi một thông điệp cho Nhà Trắng qua viên sứ giả này của Nixon: “Chớ để thua ở Việt Nam, chớ rút khỏi Đông Nam Á” (don’t lose in Vietnam; don't withdraw from Southeast Asia). Cũng có thể đoán, ngược dòng thời gian, là Kissinger và Nixon chắc phải thuyết phục Chu và Mao suốt cái năm 72 ấy, để còn rút hoàn toàn quân lực Mỹ và đồng minh nước ngoài, theo “một lịch trình chính xác cho cuộc rút quân này” (lập từ 1970 - 1971 theo Larry Berman), như ta đã dẫn trên. Và vất vả hơn, là thực hiện chỉ đạo: “đừng thua ở Việt Nam” của Bắc Kinh. Con Mèo biến đi, chỉ để lại một nụ cười với Trung Nam Hải.


Mối lo của Chu Ân Lai theo kiểu trên dường như đã hình thành khá sớm trong lịch sử Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Thời kỳ ký Hiệp định Geneva 1954, theo nhà sử học Andrew Rotter, Bắc Kinh từng tìm kiếm một giải pháp chính trị nào ở Việt Nam để làm sao phương Tây khỏi mất mặt (sought a political resolution in Vietnam that would not humiliate the West). Theo Andrew Rotter, “Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai, Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô V. M. Molotov đã gây sức ép khiến đoàn Việt Minh chấp nhận một loạt những điều kiện với nội dung dường như không tính đến vị thế vượt trội của Việt Minh về quân sự”.


Lê Đỗ Huy


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »