tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
10.03.2009
Lê Sơn Phương Ngọc
Văn hóa và nhân cách

Phép loại suy cơ bản của những nhà theo thuyết Chức năng- cấu trúc  nước Anh nhất thiết có hàm ý quan điểm Chính thể luận về văn hóa. Vì thế, khi Franz Boas nhấn mạnh vào việc nghiên cứu văn hóa mang tính Chính thể luận, ông đã thiếu một nguyên lý ràng buộc để định hướng công trình nghiên cứu của mình. Mặc dù ông đã sử dụng tu từ học của trường phái Chính thể luận, của nhiều nhà theo thuyết Đặc thù lịch sử có khuynh hướng coi văn hóa như là sự liên kết ngẫu nhiên của những những đặc điểm khác loại. Một phương cách thông qua ý tưởng vay mượn từ các nhà Tâm phân học và Tâm lý học trường phái Gestalt mà một số môn đệ của Boas tìm kiếm để phá vỡ vấn đề này mà không thách thức những nền móng của thuyết Đặc thù lịch sử. Các nhà tâm lý học trường phái Gestalt khảo sát nhân cách như là sự liên kết tâm lý hơn là việc sưu tập những yếu tố tách biệt. Kiến giải này ảnh hưởng đặc biệt đến công trình nghiên cứu của Ruth Fulton Bernedict (1887-1948), người đã tập trung vào khái niệm mang tính Tâm lý học về nhân cách như là chủ đề đồng nhất của mình. Tuy nhiên, nhiều nhà lý thuyết về văn hóa và về nhân cách vĩ đại khác lấy công trình của Sigmund Freud làm chủ đạo cho mình. Ví dụ Margaret Mead (1901-1978), đã quan tâm rất kỹ về hiệu quả của những ảnh hưởng thời thơ ấu đến nhân cách và hành vi ở tuổi trưởng thành của một người. 


Sigmund Freud (1856-1939) là một bác sĩ và nhà thần kinh học người Áo gốc Do Thái, người đã đặt nền móng cho ngành Tâm phân học. Lý thuyết Tâm phân học, với việc nhấn mạnh đến các tiến trình tâm lý vô thức và các kỹ xảo che chở tâm lý, chẳng như sự ức chế, và thăng hoa đã thu hút sự tưởng tượng phổ biến thời bấy giờ và trở thành một phần quan trọng trong tư tưởng Nhân loại học vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Freud cho rằng  đầu óc con người bao gồm “các cơ quan tinh thần” (cái ấy, bản ngã và siêu ngã) xung đột nhau giành quyền kiểm soát hành vi con người (Bock 1988:24). Freud đặt thành định đề, cho là những tiến trình và những phản ứng tâm lý nào đó đều là bẩm sinh và phổ biến, ví dụ ông cho rằng toàn thể loài người tiến hóa trải qua những chuỗi giai đoạn tâm lý tính dục dựa theo sinh học cơ thể: miệng, hậu môn, cằm và bộ phận sinh dục.


Freud nổi tiếng nhất về nghiên cứu và cách xử lý của ông về thần kinh thông qua Tâm phân học và công trình nghiên cứu về các loại giấc mơ của ông. Sau này các công trình nghiên cứu ấy được tóm lược viết thành sách, tác phẩm “Dreams” (bản gốc,1900). Trong tác phẩm này, Freud thách thức quan điểm phổ biến ở châu Âu, bấy giờ người ta cho rằng giấc mơ không có ý nghĩa gì, gọi đó là “Con đường huy hoàng dẫn đến vô thức” và việc phác họa theo phương pháp của Freud trong việc thẩm tra các ý nghĩa biểu tượng và vô thức của chúng.


Freud cũng bị ngành lịch sử và Nhân loại học mê hoặc và ông cũng đã làm quen với lý thuyết Nhân loại học thế kỷ XIX. Từ năm 1910,  ông bị các lãnh vực này chiếm lĩnh cho đến cưối đời, Freud  viết một loạt sách và bài báo trong nỗ lực chứng minh Tâm phân học  có thể giải thích về nguồn gốc các thể chế văn hóa như thế nào. Hai trong số các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “Totem and Taboo” ( bản gốc,1913 ) và “Civilization and Its Discontents” ( bản gốc,1930 ). Freud cho rằng ông có thể phân tích các thể chế văn hóa theo cách tương tự với phương pháp phân tích triệu chứng tâm thần các bệnh nhân của ông. Thật vậy, một sách phụ của tác phẩm “Totem and Taboo” là tác phẩm “Some Points of Agreement Between the Mental Lives of Savages and Neurotics”.


Ngày nay, mặc dù rất ít người tự vạch như những nhà Nhân loại học trường phái Freud, bộ môn này chịu ảnh hưởng sâu xa của Freud. Các ý tưởng tiến hóa đều được đại chúng hóa, đặc biệt khái niệm cho rằng những người đã trưởng thành trong các bộ lạc nguyên thủy đều giống với trẻ con trong xã hội văn minh. Những ý tưởng chống lại thuyết Tiến hóa trong Nhân loại học của Boas vào đầu thế kỷ XX đã được thảo ra phần nào phản đối các lý thuyết của Freud.


Mặc dù, các nhà Nhân loại học loại bỏ thuyết tiến hóa của Freud,  nhưng họ quan tâm đến mối liên hệ giữa văn hóa với cá nhân và vẽ ra ý tưởng của họ về tuổi thơ đầu và ý nghĩa của chủ nghĩa Tượng trưng tính dục. Họ thừa nhận Phân tâm học như là công cụ có sức mạnh cho việc thăm dò tâm thần con người. Theo sau Freud, nhiều nhà Nhân loại học Mỹ vào thập kỷ 1950, tập trung sự chú ý đến tầm quan trọng của việc cai sữa và tập đái ỉa trong sự phát triển nhân cách ở tuổi mới lớn và các thể chế văn hóa. Mới đây, các nhà Nhân loại học trường phái Tượng trưng và Thể hiện trong thập kỷ 1980, bị khái niệm của Freud thu hút, nhiều ý tưởng và biểu tượng văn hóa phản ánh các xung lực vô thức hoặc các căng thẳng tính dục sâu kín (ví dụ, hãy đọc Obeyeseskere 1981).


Nhiều người theo trường phái Boas, gồm cả Bernedict, Mead, Edward Sapir (1884-1939), Abram Ardiner (1891-1981) và Cora Dubois (1903-1991), những người đã khảo sát những khía cạnh khác nhau về vấn đề là loài người đã tạo nên văn hóa và những mối quan hệ văn hóa với nhân cách cá nhân như thế nào. Bởi vì họ đã tập trung vào sự tác động qua lại lẫn nhau giữa nhân cách cá nhân với văn hóa, nên họ đã trở nên thông thạo như các thành viên sáng lập trường phái Văn hóa và Nhân cách. Có hai chủ đề bao quát trong viễn cảnh như vậy: mối quan hệ giữa văn hóa với bản chất con người (tiêu biều là bài giới thiệu trong sách “Sex and Temperament in Thyree Primitives Societies” của Mead viết năm 1935) và mối quan hệ giữa văn hóa với nhân cách cá nhân (tiêu biểu là tiểu luận của Bernadict). Những khuôn mặt chủ yếu kết hợp hình thành trường phái văn hóa và nhân cách đều kết hợp chặt chẽ với Boas cũng như kết hợp chặt chẽ với nhau. Ví dụ, Edward Sapir là một trong những môn đệ tài năng của Boas. Mặc dù Sapir lần đầu tiên được biết đến từ công trình nghiên cứu ngành Ngôn ngữ học, nhưng ông lại rất thành thạo với bài viết về Tâm phân học và là người bạn thân thiết của Bernadict, người cùng dạy học tại đại học Columbia với Boas. Thư từ trao đổi giữa họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc định dạng các lý thuyết của Bernadict. Mead là một trong những học trò đầu tiên của Bernadict, đồng thời cũng nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Boas.


Bernadict đến với Nhân loại học từ văn học, bà dạy tiếng Anh trước khi theo nghề Nhân loại học. Được người bạn Sapir và người thầy thông thái Boas khuyến khích, bà chú ý nghiên cứu về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa văn hóa với nhân cách. Là người theo thuyết Tương đối văn hóa trong truyền thống Boas, Bernadict cho rằng không có sự cao hay thấp trong những nền văn hóa, mà chính là có những phong cách sống khác nhau. Trong việc hoàn thiện niềm tin này, Bernadict đã viết một bài có tựa đề “Antropology anh the Abnormal” (934), trong sách này, bà cho rằng cái bình thường và cái khác thường đều được văn hóa quyết định, và đó là cái gì khác thường trong nền văn hóa này lại có thể được chấp nhận hoàn toàn trong nền văn hóa khác. Sự thể hiện sáng suốt nhất các ý tưởng của Bernadict là tác phẩm của bà có tựa đề “Patterns of Culture” (1934). Trong sách này, Bernadict cho rằng mỗi nền văn hóa có một kiểu mẫu thống nhất, gọi là dạng văn hóa, quyết định các đặc điểm nhân cách nền tảng của các thành viên của nó. Để minh họa cho khái niệm này, Bernadict chọn ra ba xã hội: xã hội người Zuni, xã hội người Dobu và xã hội người Kwakiutl. Bằng cách dựa vào chính mình và  dựa vào các khảo sát của Elsie Cluw Parsons (1875-1941) ở người Zuni, kết hợp với công trình nghiên cứu ủa Reo Fortunes (1903-1979) về người Dobu, cùng với các bài viết của Boas về người Kwakiutl, Bernadict mô tả dạng riêng của mỗi xã hội dựa trên những đặc điểm nhân cách nổi bật trong các nền văn hóa đó. Chính luận điểm của Bernadict, cho rằng cộng đồng dân cư được rèn đúc trong kiểu nhân cách nổi bật của nền văn hóa của họ thông qua tiếp biến, cái mà Garbarino gọi là “Cách tiến hành bậc thầy của kiểu mẫu tâm lý học” (1977:66). Vì thế, cộng đồng người Zuni được đồng nhất với cộng đồng người Apollo, còn cộng đồng ngưới Kwakiutl thì đồng nhất với cộng đồng người Dionys.


Các môn đệ của Boas đều đi tìm những ảnh hưởng văn hóa trong việc phát triển nhân cách bởi vì người thầy thông thái của bà tập trung nghiên cứu về hiệu quả của những hoàn cảnh lịch sử trong những sự phát triển văn hóa. Công trình nghiên cứu của Marbara Mead minh họa rõ thêm chủ đề này. Trong một loạt các nghiên cứu, Mead tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa trên sự phát triển xã hội loài người. Bắt đầu với tác phẩm “Coming of Ages in Samoa” 1928), rồi tác phẩm “Growing Up in New Guinea” (1930) và một trong những cuốn sách gây tranh cãi của bà, tác phẩm “Sex and Temperament in Three Primitive Societies”(1935), Mead cố gắng tách biệt các yếu tố sinh học với các yếu tố văn hóa điều khiển việc phát triển hành vi và nhân cách của con người. Cùng với tác phẩm “Pattern of Culture” của Bernadict, bộ ba tác phẩm của Mead chắc chắn đã thiết lập nên dạng văn hóa và đặc điểm dân tộc tiến gần tới ngành Nhân loại học tâm lý ở Mỹ (Hsu 1980:349).


Sau đó, trong sự nghiệp của Mead, đặc biệt vào năm 1942, việc nghiên cứu đã khiến bà gặp người chồng thứ ba, Gregory Bateson ( 1904-1980 ), thì ảnh hưởng của Freud rất mạnh trong tác phẩm của bà. Trong các tác phẩm “Balinese Character, A Phographic Analysi” (1942), bà và Pateson cố gắng làm sao để tư liệu cho thấy những kỹ thuật nuôi dạy con đã tác động đến việc phát triển nhân cách cùa người Bali như thế nào.


Margaret Mead cũng là một trong những khuôn mặt nhiều màu sắc nhất trong ngành Nhân loại học nước Mỹ. Bà sinh ở Philadelphia, là em gái của một vị giáo sư đại học Pennsylvania. Như người thầy thông thái của mình, Ruth Bernadict, bà ham thích văn học từ rất sớm. Trải qua thời học sinh trường Barnard College ở thành phố New York, bà là thành viên của của nhóm văn  học gọi là  Ash Can Cats (Lutkehaus 1995:189).


Năm 1923, Mead bắt đầu theo học chuyên ngành Nhân loại học tại trường đại học Columbia University, nơi bà được học với cả Ruth Bernadict lẫn Franz Boas. Tình thân gắn kết đặc biệt của bà với người thầy thông thái Bernadict. Mead và Bernadict trở thành là đôi bạn thân sau khi bà hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp. Tình thân ấy kéo dài mãi cho đến khi Bernadict qua đời vào năm 1948 (Bateson 1984:117).


Năm 1925, Mead bắt đầu cuộc nghiên cứu điền dã đầu tiên ớ Samoa. Đó là cuộc điền dã duy nhất mà bà đã thực hiện một mình, đã trở thành cơ sở cho tác phẩm “Coming of Ages in Samoa” ( 1928 ). “Coming of Ages in Samoa” thành công ngay lập tức và mở ra con đường sự nghiệp lâu dài cho Mead như là một trong những tác giả viết nhiều nhất về Nhân loại học. Bà đã cho xuất bản 39 cuốn sách (trong đó 15 cuốn là sách viết chung) và có gần 1.400 bài viết thuộc nhiều thể loại khác nhau. Nhiều bài trong số ấy là tiểu luận ngắn phác họa sự tiêu dùng phổ biến. Bà viết đều cho các tạp chí The Nation và The New York Times. Suốt bảy mươi năm, cùng với người cộng sự Rodar Metraux (1914), bà đã phụ trách viết một mục riêng cho tờ tạp chí phụ nữ “Redbook” ra hàng tháng. Bổ sung cho công việc này, bà đã làm phim và thường xuyên xuất hiện trên đài phát thanh, đài truyền hình. Trong các thập niên 1960, 1970 bà đều đặn xuất hiện trên truyền hình chứng tỏ bà là một trong những viện sĩ nổi tiếng trong đời sống người Mỹ, và chắc chắn là một nhà Nhân loại học nổi tiếng. Việc công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đặt Mead trong truyền thống của Franz Boas một cách dứt khoát. Bà thường xuyên viết cho độc giả phổ thông hơn là cho độc giả chuyên ngành.


 Cuộc đời cá nhân của Mead đặc biệt sôi động. Ngoài việc công tác lâu dài với Bernadict ra, bà ba lần kết hôn. Người chồng đầu tiên là người bạn thời thơ ấu Luther Cressman, họ kết hôn vào năm 1913. khi ông được phong linh mục Tin Lành, ông cũng nghiên cứu Xã hội học và Nhân loại học ở Columbia, nhận học vị Tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học năm 1928. Năm 1925, Cressman rời New York đi châu Âu để tiếp tục nghiên cứu Thần học, còn Mead bắt đầu đi Samoa để nghiên cứu điền dã. Trên đường từ Samoa trở về, bà đã gặp và đem lòng yêu nhà Nhân loại học và Tâm lý học người Úc Reo Fortune. Bà ly dị Cressman và lập gia đình với Fortune vào năm 1928. Cressman tiếp tục công việc nghiên cứu Nhân loại học tại khoa Nhân loại học thuộc đại học Oregon và ông được xem là cha đẻ của ngành Nhân loại học Oregon.


Vào cuối thập kỷ 1920 đầu thập kỷ 1930, Fortune và Mead cùng nhau đi khảo sát điền dã ở New Guinea. Năm 1932, trong khi đang làm việc ở  sông Sepik River, New Guinea, họ gặp nhà Nhân loại học và Tâm lý học người Anh Gregory Bateson. Từ năm 1932 đến năm 1935, ba người Mead, Fortune và Bateson có dịp sống gần gũi và cùng làm việc chung với nhau. Trải qua thời gian này, Mead đâm ra yêu Bateson. Khi ba người trở về nhà vào năm 1935, thì Mead ly dị với Fortune và kết hôn với Bateson vào năm 1936. Chẳng bao lâu sau đó, họ cùng đến Bali để chỉ đạo công việc khảo sát. Họ có chung một đứa con duy nhất là Mary Catherine Bateson sinh năm 1939. Ngày nay, Catherine Bateson là một nhà ngôn ngữ và nhà Nhân loại  học chuyên về văn hóa Trung Đông. Mead và Gregory Bateson ly dị năm 1950.


Vào năm 1942, Mead bắt đầu được sự cộng tác chuyên ngành của người trợ lý nghiên cứu là Rosa Metraux. Năm 1955, sau khi Metraux ly dị,  thì Mead và Metraux bắt đầu chung sống với nhau. Mối quan hệ này kéo dài ba mươi ba năm, cho mãi đến khi Mead qua đời vào năm 1978. Ngoài việc phụ trách viết bài thường xuyên trên tạp chí phụ nữ Redbook, Mead và Metraux còn hợp tác viết một số cuốn sách.


Cuộc đời riêng tư của Mead chắc chắn đã tác động đến những mối quan tâm và công vệc của bà. Việc nghiên cứu cho cuốn sách “Sex and Temperament in Three Primitive Societies”, chúng tôi cho in ở đây lời giới thiệu được viết khi bà, Fortune và Bateson cùng sống chung với nhau ở New Guinea. Sau này, người con gái của Mead viết :


 


“Chẳng phải tình cờ mà khi Margaret đến Sepik, sống chật vật với vấn đề khác biệt trong chính bản thân mẹ và trong những cách yêu đương của mẹ. Với sự khẳng định và sáng tạo, mẹ đã công thức hóa những tương phản giữa ba cộng đồng dân cư ở New Guinea, những cộng đồng dân cư đối xử với nam và nữ rất khác biệt nhau”. ( Bateson 1984:160 ).


 


Lời giới thiệu tác phẩm “Sex and Temperament in Three Primitive Societies” rõ ràng cho thấy mối quan tâm của Mead trong lãnh vực văn hóa như là yếu tố đầu tiên quyết định những đặc điểm và hành vi xã hội của nam và nữ. Cuốn sách này được viết cho độc giả phổ thông hơn là cho độc giả chuyên môn, được phác họa để chứng minh phạm vi của sự khác biệt văn hóa (MacDowel 1980:278).


Mặc dù công trình của Bernadict và Mead đã hấp dẫn quần chúng rất lớn, nhưng cả hai đều bị hầu hết những nhà Nhân loại học phê phán. Cả hai người cho rằng văn hóa như là căn cứ và xác nhận rằng chính nó quyết định nhân cách, nhưng không thể đặc trưng hóa tiến trình ấy xảy ra như thế nào.  Nếu nói rằng văn hóa quyết định nhân cách thì nó bắt nguồn từ đâu?


Thời gian từ thập kỷ1930 đến thập kỷ1940, nhà Tâm phân học Abram Kardiner, qua sự hợp tác với các nhà Nhân loại học Du Bois, Sapir, Ralph Linton (1803 -1953) đã phát triển tiếp cận Tân-Freud để nghiên cứu các vấn đề này. Theo Langness (1987), Kardiner đã công thức hóa lý thuyết của ông sau khi đọc tác phẩm “The Future of an Illusion” (1961, bản gốc,1928), trong đó Freud cho rằng những trải nghiệm đời sống của tuổi ấu thơ quyết định những niềm tin tôn giáo của chúng sau này. Ví dụ, trẻ con lớn lên trong một gia đình mà người cha quá độc đoán sẽ tạo cho chúng nhận thức những vị thần của chúng là những người có hành vi xấu, thích đòi hỏi, luôn luôn vâng lời và bị phạt. Suy nghĩ như vậy, nên Kardiner tiến tới lý thuyết giải thích cơ chế mà qua đó cho rằng văn hóa quyết định nhân cách.


Kardiner đề ra những gì ông cho là cấu trúc nhân cách cơ bản, sự tập hợp các đặc chất nhân cách nền tảng được những thành viên bình thường trong một xã hội chia sẻ. Theo Freud, ông đặt giả thuyết rằng những nền tảng của việc phát triển nhân cách được thiết lập ngay từ thuở bé. Ông cho rằng từ những quy trình nuôi dạy trẻ như là cách rèn luyện, cách ăn mặc, cách ỉa đái (cái gì mà Kardiner cho là các thể chế ban đầu) được tiêu chuẩn hóa chung trong xã hội, tất cả các thành viên của cộng đồng đó đều bị khuất phục chung đối với những ảnh hưởng cơ bản trong sự phát triển nhân cách của mình.  Do đó,  những thể chế ban đầu của một xã hội dẫn tới việc hình thành cấu trúc nhân cách cơ bản của nó. Đến lượt nó, Nhân cách tác động đến văn hóa thông qua việc tạo ra các thể chế phái sinh. Có những thể chế văn hóa, như là tôn giáo, tạo cách thỏa mãn các nhu cầu của nhân cách, thông qua cơ chế dự đoán Tâm lý học.


Kardiner trắc nghiệm lý thuyết của mình với dữ liệu Nhân loại học do những đồng nghiệp Nhân loại học cung cấp trong một loạt những cuộc tọa đàm vào năm 1936 và năm 1937. Chẳng bao lâu trở thành hiển nhiên đối với Kardiner mà không dữ liệu nào được sưu tập một cách đặc biệt cho loại phân tích mà ông đề ra. Để giải quyết vấn đề này, nhà Nhân loại học Cora Du Bois đi đến quần đảo Alor, miền Đông Ấn thuộc Hà Lan (gồm Indonesia, Malaysia, Brunei hiện nay) để thu lượm những mẫu thông tin thích đáng. Du Bois sưu tập biến thể dữ liệu Dân tộc học và Tâm lý học (như các trắc nghiệm Roschach, lịch sử các đời sống, và báo cáo các giấc mơ) từ những người cung cấp thông tin Alor. Sau chuyến bà trở về vào năm 1939, Du Bois, Kardiner và những nhà phân tích khác duyệt lại dữ liệu một lần nữa, rồi từ đó họ rút ra những đúc kết những đặc điểm nền tảng về nhân cách của cư dân tại Alor.


Điểm yếu đó trong lý thuyết của Kardiner là cấu trúc nhân cách cơ bản không giải quyết được những khác biệt trong nhân cách của người ngày nay, ngay cả trong một cộng đồng cư dân nhỏ nhất. Để tăng cường cho vấn đề này, Du Bois đề ra nhân cách thể thức, là kiểu nhân cách phổ biến nhất theo thống kê trong một cộng đồng dân cư (Kaplan và Manners,1972). Giống với Kardiner, Du Bois đặt giả thuyết rằng các thể chế nguyên thủy phải dẫn đến việc hình thành nền móng những đặc điểm của nhân cách (như thể thông tin từ người ở Alor của bà đã minh họa), nhưng cũng phải tồn tại biến thể cá nhân trong các nhân cách đã được phát triển và biểu hiện như thế nào. Nhân cách thể thức cung cấp công cụ lý thuyết cho việc khảo sát sự tác động qua lại của nhân cách và văn hóa trong khi cho phép sự biến đổi tâm lý tồn tại trong các thành viên của một xã hội.


Sự bùng phát thế chiến II cung cấp cho các nhà Nhân loại học những cơ hội để đẩy mạnh việc nghiên cứu văn hóa và nhân cách còn đi xa hơn. Vào thập kỷ 1940 và suốt thời chiến tranh lạnh, nước Mỹ trở nên là nơi được quan tâm đến một cách sống động trong việc nghiên cứu về tâm lý của công dân các dân tộc sống xa cạ nhau. Các nhà lý thuyết văn hóa và nhân cách đã đưa ra các nghiên cứu đặc điểm dân tộc. Mặc dù những nghiên cứu này theo những cách nào đó đều khác nhau. Trước hết, họ xử lý vấn đề thuộc những quốc gia công nghiệp hơn là các xã hội nguyên thủy. Các nhà lý thuyết văn hóa và nhân cách làm việc với một số ít người mẫu và dựa vào Dân tộc học mô tả. Bởi vì các nghiên cứu đặc trưng dân tộc liên quan đến các dân tộc với hàng triệu con người, nên khảo sát một bộ phận nào đó là không thích đáng, vì các dân tộc được nghiên cứu thỉnh thoảng có thái độ căm ghét, nên khảo sát một bộ phận nào đó là thiếu thực tế. Để tìm ra cách đi xung quanh các vấn đề này, các nhà Nhân loại học phỏng vấn những người nhập cư, phân tích văn học, phim ảnh và khảo sát các hồ sơ chính quyền. Các kết quả đều được xào nấu chung.


Trong số các công trình nghiên cứu đặc trưng dân tộc có hai công trình nổi tiếng nhất. Một là công trình “The Crysanthemum and the Sword” (1946) của Bernadict nghiên cứu về người Nhật. Hai là công trình “The People of Great Russia: A Psychological Study” (1949), của Geoffrey Gorer (1905-1985) và John Rickman (1891-1951). Cả hai công trình này đều theo trường phái Tân-Freud, cố gắng liên kết những thực tế của thời thơ ấu với những kiểu nhân cách khi trưởng thành. Ví dụ, Bernadict khảo sát những việc thực hành cách ỉa đái của người Nhật có liên quan đến thiên kiến về tính vâng lời và tính trật tự được cho là của người Nhật. Gorer và Rickman đặt giả thuyết rằng đặc tính dân tộc Nga (giả sử là kiểu nhân cách của người rối lọan thần kinh) là kết quả từ thực tế của việc quấn tả cho trẻ con. Thật dễ dàng để thấy nghiên cứu ấy thích hợp với chính trị thời chiến tranh lạnh như thế nào.


Mặc dù công trình nghiên cứu của Bernadict đã phải chịu thử thách qua thời gian hơi tốt hơn công trình nghiên cứu của Gorer và Rickman một chút, nhưng đơn giản là các nghiên cứu thực hiện sau này đã chứng tỏ rằng hầu hết các nghiên cứu về đặc tính dân tộc đều sai. Ví dụ, thực tế của việc quấn tả cho trẻ con không phổ biến ở nước Nga, vì thế, không thể lấy đó để giải thích kiểu nhân cách người Nga - nếu điều đó có thật. Những sai lầm như thế đóng phần rất rộng lớn trong việc suy giảm tính phổ quát của các nghiên cứu đặc tính dân tộc. Vào cuối thập kỷ 1950, hầu hết các nhà Nhân loại học đã loại bỏ phương pháp Tâm phân học trong phân tích văn hóa.


Ngoài việc thừa nhận bị suy giảm, các nghiên cứu riêng về văn hóa và nhân cách, cũng như về đặc tính dân tộc uyên bác này thì vẫn còn lại các lãnh vực sắc sảo phổ biến có lợi. Phần mở đầu các cuốn sách viết về Nhân loại học văn hóa vẫn còn tham khảo các công trình nghiên cứu của Mead và Bernadict. Có nhiều cuốn sách như thế, chẳng hạn như các tác phẩm “Who Prospers? How Cultural Values Shape Economic and Political Success” (1992) của Harrison, đã công bố những khía cạnh chi tiết về nhân cách văn hóa của nhóm người này nhóm người nọ. Còn thường thì, như tác phẩm “Going International: How to Make Friends and Deal Effectively in the Global Martketplace” (1985) của Copeland, sách được bán ra như là sách hướng dẫn cho giới kinh doanh.


 


R. Jon Mcgee - Richard L. Warms


Southeast Texas State University


Lê Sơn Phương Ngọc dịch


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »