tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
25.10.2019
Mạc Yên (Phạm Thành Hưng)
Đã qua thời “Dạy Toán, học Văn…”


Mười năm trước, một nhà báo đồng môn khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp của chúng tôi đã đưa ra một quyết định rất gia trưởng: Anh bắt cả ba cô con gái của anh phải học đại học ngành Văn, xong rồi thích học gì mới cho học tiếp… Nghe anh phân tích chúng tôi thấy cũng có lý. Học văn vừa vui, vừa nhàn, hợp với thể lực con gái, lại vừa như được tiêm chủng để vào đời. Văn chương giúp cho người ta một thứ vũ khí chống chọi mọi phong ba, bất hạnh phía trước. Học xong Văn người ta yêu đời hơn, bình tĩnh hơn khi nhìn đời, mà chí ít thì, theo anh, cũng có thể viết văn, viết báo lấy nhuận bút, khi thấy trong túi chẳng còn đồng nào.


Quan niệm của nhà báo nọ gợi ta nhớ đến một câu châm ngôn hiện đại được dùng vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước: “Dạy Toán, học Văn, ăn Thể dục”. Đó cũng là một lời khuyên, một tổng kết kinh nghiệm chọn nghề thời bao cấp: giáo viên dạy Toán nhà nhã hơn, vì ít phải nói, có thể ra bài tập cho học sinh làm bài tại lớp, rồi ngồi nghỉ, chờ chữa bài. Học văn chỉ ngồi nghe, thưởng thức, nghe thầy như nghe chim giảng. Còn dạy thể dục, giáo viên được hưởng tiêu chuẩn lương thực lao động nặng, hơn giáo viên thường tới dăm bảy cân gì đó.


Chúng tôi thuộc thế hệ vào đại học những năm 70, hoàn toàn không kiểm chứng được độ chính xác của châm ngôn trên. Chúng tôi không trải nghiệm được công việc làm thầy ở hai ngành sư phạm: Toán và Thể thao, nên không biết đúng sai ở mức độ nào, nhưng riêng chuyện học Văn thì chúng tôi thấy đúng. Có lẽ nên xem thời chiến tranh chống Mỹ là thời đích thực của thi ca. Số người làm thơ thời ấy không nhiều nhưng người yêu thơ thì bạt ngàn. Khoa học xã hội trong trường Tổng hợp Hà Nội bấy giờ chỉ có hai ngành Văn và Sử. Phần lớn sinh viên học khoa Sử chỉ vì bắt buộc phải học, do bị chuyển từ nguyện vọng học Văn sang học Sử, hoặc do điểm thi môn Văn không may thấp hơn điểm thi Sử. Những buổi đầu năm học mới, sinh viên khoa Sử vây quanh cửa sổ các phòng học Văn, nghe nhờ, nghe trộm giảng Văn.


Sinh viên Văn khoa khóa chúng tôi hưởng hạnh phúc của kẻ học Văn. Hạnh phúc vì hai lẽ: cần tận hưởng, cần sống gấp với văn chương vì chiến trường miền Nam đang vẫy gọi, chúng tôi có thể lên đường bất cứ lúc nào. Thứ hai, văn chương khi ấy là văn chương nguyên chất, như một thứ vàng ròng, chưa hề pha chế. Tuyệt đại đa số các môn học là Văn. Thầy giáo và sinh viên trong giờ học như lặn sâu vào thế giới nghệ thuật của những anh hùng ca Homere, kịch cổ Hy La, văn học Phục hưng, bơi lặn từ văn thơ Lý – Trần tới Đoạn trường tân thanh... Các môn học khi đó chưa bị pha trộn, nhồi nhét quá nhiều các môn “ngoài văn chương”. Nội dung tác phẩm, tác gia văn học cũng không bị áp đặt những quan niệm, tư tưởng pha chế từ bên ngoài. Các thầy dạy Văn trong con mắt sinh viên chưa bị phân biệt theo học vị học hàm: tiến sỹ, giáo sư. Thầy cô chỉ được phân biệt, nhận diện qua bút danh và phong cách học thuật. Những thầy cô bị nạn sau sự kiện Nhân Văn - Giai phẩm tuy tản mát ra ngoài, hay lui về làm công việc thư viện, dịch tài liệu… đã vô tình tạo ra cho sinh viên một không gian học thuật huyền bí, hứa hẹn không xa một ngày “giải mã”. Nhiều thầy giảng văn lên lớp như một nhà truyền giáo. Trong ký ức sinh viên còn đọng lại mãi hình ảnh những người thầy từ chiến trường trở về giảng đường chưa giũ hết “bụi trường chinh”. Không thầy cô giáo nào giảng thơ kháng chiến (1946 – 1954) hay hơn thầy Hoàng Như Mai. Lúc thầy giảng, thầy là người thơ. Người thơ phong vận như thơ vậy. Ngôn ngữ bình thơ của thầy còn là ngôn ngữ của cơ thể. Ánh mắt, giọng bình của thầy đều tỏa ánh sáng và âm vang của một thời kháng chiến bi hùng. Có lẽ không ai giảng mà lại gầm lên theo tiếng “gầm” trong thơ Quang Dũng: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Sinh viên nghe xong bài thơ thầy “trình diễn”, có cảm giác như lòng đất giảng đường dưới chân mình chuyển động.


Chúng tôi tin, nhà báo đồng môn nói trên không quên hai giọng giảng Kiều, một giọng chậm rãi, thiết tha của thầy Nguyễn Lộc, một giọng khô khỏng, trúc trắc của thầy Lê Đình Kỵ. Hai thầy đưa cho chúng tôi hai hình ảnh cô Kiều khác biệt: một cô Kiều của nỗi lòng, tâm sự Việt Nam, rất gần với truyện Nôm khuyết danh và một cô Kiều của một nhà thơ – quan văn Nguyễn Du trên con đường khắc phục những ràng buộc của mỹ học Nho gia chính thống, để đến với chủ nghĩa hiện thực.


Chương trình văn học nước ngoài thời ấy được giảng nhiều giờ hơn, kỹ lưỡng hơn chương trình hôm nay. Những buổi học văn học Cổ Hy - La hay văn học Phục hưng là những giờ thày trò như cùng một con tàu vũ trụ, như một cuộc viễn du. Thầy Nguyễn Văn Khỏa với tác phong giản dị, trang phục tuy gọn vẫn có phần tuềnh toàng, khiến sinh viên nhận ra hình ảnh chiến sỹ quân báo áo trấn thủ, đầu đội mũ tre những năm chống Pháp, nhưng khi vào bài giảng, thầy như quên tất cả. Cả thầy cả trò đều nhập thân vào thế giới phương Tây tưởng tượng, nhiều khi quên cả tiếng sấm báo cơn mưa rào ngoài giảng đường. Mỗi giờ học Văn thục sự là mỗi giờ sinh viên hưởng thụ. Nhiều sinh viên ra trận vẫn tự an ủi, thỏa mãn vì đã kịp đem theo bên mình cả bao gạo, bao đạn lẫn một “túi thơ”.


Những sinh viên tốt nghiệp ngành “Văn tổng hợp” ra trường được nhà nước phân công thoải mái, dùng vào đủ mọi nghề: nghiên cứu, giảng dạy văn học, văn hóa - nghệ thuật, làm báo, làm luật, sáng tác. Cuối thế kỷ 20, trong tổng số hội viên Hội nhà văn Việt Nam có tới một phần tư hội viên tốt nghiệp Văn khoa Tổng hợp. Đúng như câu nói đùa (nhưng có ý động viên nhau): Học văn làm gì chả được, kể cả làm chủ tịch nước lẫn… đi tù (!) Khả năng thâm nhập vào nhiều lĩnh vực hoạt động văn hóa, xã hội của sinh viên khoa Văn, cũng như sinh viên khoa Sử của Đại học Tổng hợp một phần do điều kiện khách quan mặc định: Văn học và Sử học là hai khoa duy nhất độc chiếm lò đào tạo cán bộ khoa học xã hội suốt mấy thập niên, nhưng về cơ bản là do tri thức tổng hợp và phương pháp tư duy mà sinh viên được trang bị trong bốn năm học.


Đấy là câu chuyện học văn của 40 năm trước.


Còn hôm nay, rất buồn cho người bạn văn của chúng tôi: Quyết định cho con cái học Văn của anh đã không được thực hiện nghiêm chỉnh. Chỉ cô con gái đầu của anh học gấp bằng cử nhân Văn học rồi nhanh chóng học sang nghề Kế toán. Hai người con sau của anh chỉ học một năm khoa Văn rồi bỏ, bố thuyết phục mấy cũng lắc đầu, không chịu quay trở lại. Sự chống đối này còn có bà mẹ đứng sau khích lệ.


Bạn văn của chúng tôi đã nhầm. Anh không biết chương trình học Văn đại học chuyên ngành lâu nay đã đổi. Cách học văn thay đổi và lòng người học văn hôm nay cũng đổi. Nhà thơ Chế Lan Viên có câu thơ triết lý rất buồn: “Có khi mùa xuân đang còn mà lòng người hái hoa của anh đã hết”. Hoàn cảnh xã hội lịch sử thay đổi đã buộc các bậc cha mẹ và học sinh trung học phải thật lý trí trong việc chọn trường, chọn hướng lập nghiệp tương lai. Phần lớn sinh viên học Văn của trường Đại học KH xã hội và Nhân văn Hà Nội không vào học Văn vì yêu văn học. Hơn chục năm qua, học sinh đoạt giải học sinh giỏi Văn toàn quốc và học sinh chuyên Văn không thi vào khoa Văn. Các thí sinh thông minh đó chỉ tận dụng điểm môn Văn của mình để nâng tổng điểm thi của mình vào các ngành khối D, khối E và vào các ngành học “dễ kiếm việc” khác. Thời chống Mỹ, liệt sỹ Nguyễn Văn Thạc giành giải nhất học sinh giỏi Văn Miền Bắc nhưng bỏ Văn thi Toán – Lý – Hóa là vì muốn đi học cùng người yêu. Anh hy sinh văn chương cho tình yêu của mình. Còn hôm nay, các học sinh giỏi Văn toàn quốc phần lớn hy sinh tình yêu văn chương của mình vì kế sinh nhai.


Để nâng cao khả năng thích ứng, khả năng thâm nhập vào nhiều nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau, đào tạo cử nhân Văn chương tại Văn khoa tổng hợp cũ không thể đi theo hướng chuyên ngành. Nhiều khái niệm, thuật ngữ của quản lý đào tạo xuất hiện, đọc lên có phần xa lạ đối với các cựu sinh viên Văn khoa. Văn chương nhưng học theo “tín chỉ”, “học phần”, văn được học theo các thứ “khung”. Trong hai năm sinh viên có thể tích hợp đủ số tín chỉ, học phần, thi tốt nghiệp ra trường với hai bằng đại học: một đại học Văn với một đại học X nào đó của trường hoặc từ một trường đại học khác. Sinh viên học Văn trong 2 năm đó tất nhiên không thể có thời gian đọc chậm một tập thơ, càng không đủ kiên nhẫn để đọc những bộ tiểu thuyết kinh điển.


Nhìn vào khung chương trình, nhà báo đồng môn của chúng tôi có thể nhận ra sai lầm của mình trong chuyện bắt con cái học ngành Văn. Phải đến 40 % tiết học trong khung chương trình ngành Văn là dành cho những môn học ngoài văn học. Trong số 60% số giờ học Văn còn lại cũng có nhiều môn tuy được tự chọn nhưng nội dung lại bị phân tán, giao thoa sang các ngành học khác như Ngôn ngữ, Báo chí, Điện ảnh.


Trong số 2/5 số giờ học được gọi là trang bị kiến thức chung, có thể nhận ngay ra những môn rất “nặng”: Triết học Mác Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng, Nhà nước và Pháp luật đại cương , Xã hội học đại cương, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng… Đó là những môn học bắt buộc, là phần cứng của khung chương trình. Hình dung một cách nôm na, cụ thể, giống như thời bao cấp, muốn mua uống một cốc bia, khách hàng phải mua kèm một đĩa xào mặn cộng một gói lạc rang. Những môn học bắt buộc đó thường được người học tiếp nhận một cách miễn cưỡng, có tính đối phó. Vì nội dung của các môn học đó hoặc là quá nặng về mặt tâm lý như Xã hội học đại cương, Nhà nước – Pháp luật, Lịch sử Đảng, hoặc là quá nặng về mặt thể chất, như các môn Thể dục, Quốc phòng. Sinh viên học Văn đành học các môn đó cho qua ngày, tích lũy điểm để đủ điều kiện tốt nghiệp.


Chúng tôi cho rằng, những môn học “phần cứng”, bắt buộc nói trên có thể thả lỏng cho sinh viên tự đọc, tự tìm hiểu khi thấy cần thiết phải mở rộng kiến thức chuyên ngành. Giáo trình, tài liệu học tập, tham khảo hiện tại rất phong phú và rất dễ tiếp cận qua các phương tiện truyền thông hiện đại. Việc trang bị “kiến thức chung” trong khung chương trình Văn (và cả ở nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn khác) đã thành những công việc thừa thãi, lãng phí.


Ở nhiều nước tiên tiến, chương trình đại học thường được thu gọn trong 3 năm. Các môn học như Thể dục, Giáo dục quốc phòng, và cả Ngoại ngữ đều không được dạy. Ngoại ngữ cũng như sức khỏe là chuyện riêng, sinh viên tự lo. Cha mẹ và các thày giáo phổ thông đã giúp cho con cái và học trò của mình chuẩn bị đầy đủ sức khỏe và kiến thức ngoại ngữ cơ bản trước khi vào giảng đường đại học.


Bộ giáo dục Việt Nam đang cưng chiều sinh viên quá chăng ? Sinh viên đang được học Thể dục, Ngoại ngữ, Tri thức quốc phòng như hưởng một sự ưu đãi ? Không phải. Điều này có căn nguyên sâu xa từ triết lý giáo dục: Quan niệm giáo dục đào tạo con người toàn diện, con người có đủ các phẩm chất “văn – thể - mỹ”, “vừa hồng, vừa chuyên” mơ hồ đâu đó còn sót lại từ thời chiến tranh. Quan niệm đó có thể vẫn đúng xét trên bình diện triết học nhân sinh, nhưng đã trở thành lạc hậu khi vận dụng máy móc vào giai đoạn đào tạo đại học trong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện đại.


Các môn học thuộc phần kiến thức chung, có tính bắt buộc thường được sinh viên đưa vào một gói chung là các môn “chính trị tư tưởng”. Cấu tạo khung chương trình đó, các nhà thiết kế xuất phát từ quan niệm về một con người toàn diện có phẩm chất đạo đức cách mạng và ý thức chính trị đúng đắn. Nhưng chính việc làm này cũng xuất phát từ thái độ thiếu lòng tin về khả năng tu dưỡng, “tự đào tạo” của tuổi trẻ sinh viên, cũng như hoài nghi về sự ảnh hưởng tích cực, tự nhiên của môi trường sống và hoàn cảnh xã hội Việt Nam hiện tại.


Trong thực tế, có rất nhiều môn học theo định hướng chính trị - tư tưởng đó đều có thể tích hợp hoặc lồng ghép vào các môn học chuyên ngành. Giáo dục chính trị - tư tưởng đạo đức sẽ đạt hiệu quả cao nhất, đi con đường ngắn nhất là qua các giáo trình văn học chuyên ngành. Thậm chí môn ngoại ngữ - một môn học lẽ ra sinh viên phải tự lo, “tự túc” – vẫn nên tích hợp vào các môn Văn học, trở thành ngoại ngữ chuyên ngành. Giảng viên khoa Văn học của Đại học khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội hiện nay đã sẵn sàng đảm nhiệm thêm, tiến tới chuyên ngành hóa các môn học chính trị - tư tưởng và ngoại ngữ. Đội ngũ cán bộ giảng dạy mới, của thời đại @ dễ dàng làm mềm hóa các môn học phần cứng trong chương trình đào tạo cử nhân Văn học, trừ phần Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng.


Nếu làm một so sánh nhỏ, có thể nhận ra rằng, những năm cuối thế kỷ trước, sinh viên Văn khoa học ít môn nhưng ra trường làm được nhiều nghề. Còn hiện tại, sinh viên học rất nhiều môn, có vẻ như “cái gì cũng biết”, nhưng ra trường, “vào việc” lại thấy mình chẳng biết cái gì. Nếu như Văn khoa Tổng hợp ngày xưa có thể trao cho sinh viên khi ra trường một tình yêu cuộc sống, tình yêu văn chương, nghệ thuật, như trang bị một thứ vũ khí để bình tĩnh vào đời, thì ngày nay các cử nhân văn chương của ĐH Quốc gia Hà Nội ra trường, vào đời với cảm giác hoang mang, tay không vũ khí.


Trở lại với nỗi buồn của nhà báo đồng môn Văn khoa Tổng hợp nọ, chúng tôi mong có ngày chương trình đào tạo cử nhân văn chương hiện tại sẽ được rút ngắn một năm, chỉ cần ba năm, theo phương thức giảm tải (gác lại các môn Thể dục, Quốc phòng - An ninh. Nhà nước - Pháp luật) và tích hợp các môn học Chính trị - Tư tưởng cùng các môn bổ trợ (như Tâm lý học, Xã hội học, Logic học, Kinh tế học…) vào các môn chuyên ngành ngữ văn. Có như vậy, “học văn” mới như một hình thức tận hưởng niềm vui cuộc sống, có như vậy 3 cô con gái nhà báo đồng môn của chúng tôi mới chịu học Văn theo lời cha dặn, vì ít nhất là khi vào học văn chúng không có cảm giác bị “đánh tráo hàng”.


Văn chương dù là viết, là đọc hay là học, trước hết nó phải là đích thực văn chương.


Phạm Thành Hưng


Bài in trên Văn nghệ số 41, 12-10-2019 (có cắt xén).


Đây là bản đầy đủ trên Mạc Yên facebook, ngày 11-10-2019


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »