Tôi còn nhớ mùa xuân năm 1979 sau cái Tết đầy khó khăn thiếu thốn của đất nước "mang trên mình còn lắm vết thương", bất ngờ “ Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới và toàn dân ta vào trận chiến đấu mới…”(*) Không khí ngày ấy ra sao, chắc còn sống trong nhiều ký ức của hàng triệu con người và chắc sẽ còn được kể bởi nhiều tiếng vọng từ hàng triệu trái tim. Riêng tôi, chỉ xin được kể về một người bạn văn đó là nhà báo Bùi Nguyên Khiết ở Mường Khương, Lào Cai.
Anh Khiết học cùng tôi ở Quảng Bá khóa học năm 1974- 1975 của Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ. Khóa học ấy là Khóa 7, khóa cuối cùng của trường dưới thời thầy hiệu trưởng nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh và các thầy cô quản lý học viên là nhà văn Đỗ Quang Tiến, nhà văn Mộng Sơn, nhà thơ Bàng Sĩ Nguyên…Các nhà văn Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Kim Lân...thường đến giảng bài và chăm nom anh chị em từ bữa cơm đến những câu chuyện vừa đời thường vừa văn chương...
Anh Khiết là nhà giáo ở Lào Cai nên tôi dễ nói chuyện, bởi tôi cũng tò mò muốn biết về cuộc sống của các giáo viên và trẻ em trên vùng núi xa xôi của tổ quốc. Nếu kể chuyện về khóa học ấy thì nhiều chuyện lắm, kể biết mấy cho vừa. Ngày ấy tất cả còn son trẻ tuổi đời trạc 23, 24, 25, 26, ngoài việc học hành, những người trẻ thường tụ tập đàn hát và đi chơi ở một vùng Tây Hồ mây nước với những ngôi làng trồng hoa cây cảnh đẹp nổi tiếng Hà Nội. Anh chị em chia sẻ cùng nhau một bát cơm độn ngô, một miếng đậu rán, một bát mỳ “không người lái” (nghĩa là không có thịt). Anh Bùi Nguyên Khiết nổi tiếng toàn khóa học với bài vè chế giễu cách chữa bệnh dùng thuốc tân dược ngày ấy…
“ Nhức đầu cảm cúm…Xêđa.
Sâu răng , đau bụng…Tê ta xì lìn…”
Hồi đó hai loại thuốc Seda và Tetracycline đã được nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi lên miền núi sử dụng tràn lan như vậy... Đến nỗi sau này có cả một thế hệ răng mầu ngà in dấu thời ấu thơ dùng nhiều tetracycline.
Anh Bùi Nguyên Khiết đã hát hai câu trên bằng một điệu rất hài hước, hát rồi anh lại nhại tiếng đàn ghi ta đệm: “ Xình …cheng… cheng, Chắc… xeng… xeng…”
Do đó về sau mọi người đã gọi anh bằng cái tên “Xình cheng cheng, Chắc xeng xeng”.
Sau khóa học anh Bùi Nguyên Khiết trở thành một nhà báo ở tỉnh Lào Cai. Còn tôi lại về trường cấp II Yên Sở, tiếp tục là cô giáo. Đến năm 1980 tôi mới về công tác tại NXB Kim Đồng. Năm 1978, nghe tin cuốn sách “Đi bên một vì sao” của Bùi Nguyên Khiết được in ở NXB Kim Đồng, tôi vui mừng lắm. Mừng cho anh và cho các tác giả văn học thiếu nhi miền núi, có thêm Bùi Nguyên Khiết, một giọng văn thật đúng như tên anh “nguyên khiết”, trong như nước suối đầu nguồn (chữ của nhà văn Ma Văn Kháng).
Thế rồi tháng 2 năm 1979 tin tức chiến sự bay về Hà Nội dồn dập. Một buổi chiều tôi đến NXB Kim Đồng để nộp bản thảo chuẩn bị cho Trại sáng tác văn học thiếu nhi Nha Trang 1979, anh Bùi Hồng (tổng biên tập NXB Kim Đồng) báo tin giọng trầm buồn: “Bùi Nguyên Khiết hi sinh rồi!”
Tôi rụng rời chân tay, cảm thấy như không gian xung quanh tối sầm lại, nét mặt anh Bùi Hồng ảm đạm y như năm xưa anh đã từng báo tin: " Dương Thị Xuân Quý hi sinh rồi"... Trong tôi hình ảnh những cờ hoa tưng bừng của ngày 30/4/1975 chưa xa, cảm giác hòa bình chưa kịp ấm trong lòng thì nỗi đau lạnh buốt thời chiến lại đã ập đến... tôi nhớ anh Bùi Hồng nói một câu rất thực: “TRƯỜNG HỢP HẾT ĐẠN…”
Tôi đau như chính mình vừa bị trúng cả một băng đạn bắn thẳng vào người.Tôi tưởng tượng hình ảnh của anh Bùi Nguyên Khiết trong những giờ phút cuối cùng trên đỉnh núi Mường Khương, vẻ mặt anh thẳng thắn thật thà, tay cầm súng bắn tơi bời, bắn hết mình, bắn hết băng đạn này bắn tiếp băng đạn khác, cho đến lúc hết sạch…cho đến lúc phải bật lưỡi lê sãn sàng chờ kẻ địch đến đối mặt quyết tử...
Hình ảnh của anh bỗng hiện lại trong trí nhớ rõ mồn một... những ngày học ở trường Quảng Bá. Nào những buổi sớm mai gọi nhau ra vườn trường chợt thấy trong vòm cây nhãn có đôi chim đang vụt bay, hay những buổi trưa nhặt bông hoa đại rơi bên thềm nhà hội trường…. Chuyện vui đùa ấy, tính tôi hồn nhiên không hề nghĩ ngợi xa xôi... Rồi bỗng một hôm, Ban lãnh đạo khóa học nghiêm chỉnh nhắc nhở anh chị em về thái độ học tập sáng tác…Tôi bỗng nhiên tự ái buột miệng nói một câu gì đó (bây giờ không nhớ nữa)… Xin lỗi! Chấm hết mọi chuyện chơi đùa! Tôi đóng cửa phòng cắm cúi ngồi viết văn. Tôi tưởng rằng lời nói của tôi chẳng có đụng chạm đến anh chị nào trong lớp, thế mà không ngờ anh Bùi Nguyên Khiết giận tôi. Sau này, anh còn viết một cái thư trách tôi và ký tên:" Xình cheng cheng, chắc cheng cheng". Tôi chỉ biết im lặng chờ thời gian sẽ trả lời... Bây giờ thời gian đã không đợi tôi...Tiếng súng trên biên giới đã cướp đi một người bạn chân thành... Thôi, không còn bao giờ anh Khiết được nghe một lời nào của tôi nói nữa...
Mọi người ở NXB Kim Đồng ngày ấy đều tiếc thương anh lắm... Vài năm sau NXB Kim Đồng tái bản cuốn "Đi bên một vì sao", được biết anh Bùi Nguyên Khiết đã cưới vợ và có một cô con gái. Vào dịp đó, NXB Kim Đồng đã góp phần cùng gia đình đưa hài cốt của liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết từ Lào Cai về an nghỉ nơi quê nhà. Sau này khi đã liên lạc được với chị Bùi Thị Mỵ, em gái của anh làm việc ở Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) tôi và anh Phùng Thanh Vân, bạn đồng khóa đã có dịp đến thắp hương tưởng nhớ anh Bùi Nguyên Khiết ở nhà chị Bùi Thị Mỵ. Tôi cũng được biết để tưởng nhớ tri ân liệt sĩ nhà báo đã hi sinh anh dũng bảo vệ biên cương, TP Lào Cai hiện nay có một đường phố mang tên Bùi Nguyên Khiết.
Khi ngồi viết lại những dòng này, nhìn ra khoảng trời xuân mênh mông hình ảnh xưa cũ vẫn còn thấp thoáng đâu đây...vẻ mặt sững sờ của anh Bùi Nguyên Khiết bất chợt thức tỉnh vào buổi rạng sáng ngày 17.2.1979. Anh đã chạy ra chiến tuyến...rồi ngã xuống gieo thân mình vào đất Mường Khương lạnh giá sương rơi. Bầu trời Hà Nội sau những ngày phủ trắng sương mờ hôm nay hình như có sáng trong hơn… Không, tôi không muốn nhắc lại nỗi đau này để đau thêm. Tôi chỉ mong sao tình yêu thương trên cõi trần gian sẽ là nén hương thơm ngát khiến những người lương thiện hiền lành đã ngã xuống ngày 17/2/1979 sẽ được thanh thản nơi vĩnh hằng cực lạc.
Hà Nội 16/2/2020.
L.P.L
__
* Lời bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên.
|