tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
22.07.2009
Nguyễn Đức Huệ
Nhà văn Hoàng Quốc Hải, chuyên trị tiểu thuyết Lịch sử

 


 Ngay khi ra đời, bộ sách đã thu hút hàng vạn người đọc, liên tục được tái bản, được liệt vào danh sách những tác phẩm văn học bán chạy nhất xưa nay, cho dù đề tài này đã rất nhiều người viết, rất nhiều người thuộc, ngay bản thân cái bối cảnh mà “tác giả đóng cái đinh lên đó để treo những bức tranh của mình lên” (Lời của Alexandre Dumas bố) đã quá lừng lẫy trong lịch sử, không chỉ trong phạm vi nước Nam ta mà trên toàn thế giới.


Có những cái đã rất quen mắt nhưng khi được soi chiếu từ một góc nhìn khác lạ, vẫn bật ra nhiều nét mới. Phải chăng thành công của bộ sách này là ở cách nhìn như vậy? 


Đó là nhận xét của một nhà phê bình văn học về tác phẩm này. Tuy nhiên, không phải tất cả đều đồng tình như vậy. Khi “Bão táp triều Trần” được in trọn bộ, đã có nhiều cuộc Hội thảo diễn ra xung quanh nó, rất nhiều nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu lịch sử tham gia phát biểu hoặc viết bài. Có người khen, kẻ chê, cũng có người im lặng hoặc mỉm cười ý nói thường thôi, có gì mà phải ầm ĩ thế.


Nói sao mặc lòng, bộ tiểu thuyết lịch sử khá đồ sộ này vẫn tồn tại trong lòng bạn đọc. Nó có số phận riêng của nó.


Còn tác giả thì sao?


Vào năm thứ chín thời A còng, tháng năm, mùa hạ, tôi vừa chuyển từ Quảng Ninh về Hà Nội được ít lâu, lớ ngớ thế nào lại được Ban biên tập trang Web của Hội nhà văn triệu lên, bảo đi viết về nhà văn Hoàng Quốc Hải để đưa vào một chuyên mục mới: “Các nhà văn Việt Nam đang làm gì?”.


Tôi nói:


- Nhà văn thì chỉ có viết văn chứ làm gì?


Ông Tổng biên tập nói:


- Thì xem họ viết lách ra sao.


Tôi nói:


- Họ viết ra sao bạn đọc người ta biết cả mà.


Ông Tổng nói:


- Thế sao những chuyện về lịch sử người ta biết cả mà khi nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, họ vẫn thi nhau đọc?


Thế là tôi tịt.


Tôi gọi điện cho anh Hải rồi tìm đến nhà anh ở Pháo Đài Láng. Chỉ nghe cái địa chỉ thôi đã đầy tính lịch sử rồi, chả trách cả đời ông ấy chỉ chuyên chú đi tìm quá khứ. Mấy ông bạn văn tính hay hài hước kể rằng khi viết tác phẩm về thời đại nhà Trần, ở trại sáng tác Đại Lải, đêm ngủ mơ ông ấy toàn gọi tên Trần Thủ Độ. Tôi nghĩ may mà bố ấy gọi Trần Thủ Độ chứ gọi Trần Thị Dung thì bà Hồng (vợ ông) nện chết!


Lúc ở văn phòng Hội nhà văn, tôi giả bộ không quen biết gì anh Hoàng Quốc Hải, giả bộ thế để người ta thấy công việc mình làm chẳng dễ dàng gì, nhưng thực ra anh em chúng tôi là chỗ quen thân từ lâu lắm, từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước kia. Bây giờ thì nhà văn Hoàng Quốc Hải được xem là một trong những Đại gia của văn đàn đất Việt, với tư cách là tác giả chuyên trị mảng đề tài lịch sử. Nhưng ít ai biết rằng để cho ra đời bộ trường thiên tiểu thuyết này, anh đã lặc lè đeo cái thai to tướng ấy lâu đến thế nào. Có thể nói không chút ba hoa rằng tôi, người viết bài này, biết rõ hơn ai hết.


Lục Du nói: “Công phu là ở ngoài thơ”. Câu này không chỉ là nguyên lý trong địa hạt thơ, trong văn cũng thế thậm chí còn hơn thế. Nếu ví dụ về chuyện bếp núc văn chương như vậy, điển hình phải nói đến nhà văn Hoàng Quốc Hải.


Còn nhớ cách đây mấy chục năm, khi tôi còn là một nhà báo trẻ ở Quảng Ninh, một lần, vào dịp người ta tổ chức mít tinh kỉ niệm ngày thành lập Đệ tứ chiến khu Đông Triều, tôi được mời đến dự và viết bài cho báo. Hôm ấy các nhà văn nhà báo từ trung ương đến địa phương về đông lắm, trong đó có anh Hoàng Quốc Hải. Bấy giờ anh Hải đang công tác ở Hội Văn nghệ Hà Nội, dưới trướng cụ Tô Hoài nhưng trước đó ít năm anh đã từng làm báo Vùng Mỏ nên anh em chúng tôi rất quý nhau. Vùng Mỏ những năm đó cũng đã xuất hiện khá nhiều người viết, và có lẽ do quen với tác phong công nghiệp suốt ngày đêm khói bụi ầm ào nên ông nào ông nấy đi đứng nói năng cứ oang oang như lệnh vỡ, tuy có vẻ hơi ngông nghênh bặm trợn nhưng lại rất là sảng khoái tự nhiên. Anh Hải thì ngược lại, rất thư sinh nho nhã, nói cười nhỏ nhẹ và có vẻ hơi nệ cổ. Nhưng đằng sau cái vẻ củ mỉ cù mì ấy lại ẩn chứa một cái gì dữ dội, lớn lao mà ít ai nhận thấy. Riêng tôi, có thể nói, vâng, lại có thể nói không chút ba hoa rằng chỉ cần gặp anh Hải đôi lần, tôi đã phát hiện ra ngay cái “ẩn tướng” khá là đặc biệt đó ở anh. Bởi thế, tôi không mấy ngạc nhiên khi thấy hôm ở Đông Triều, anh không dự mít tinh mà lại biến đi đâu mất, mãi đến lúc người ta ăn uống xong xuôi hết mới về. Đấy là vì trong khi mọi người đang mải nghe đọc diễn văn, anh đã nháy một ông cán bộ huyện vốn là người quen cũ, hai người bí mật đi vào rừng, lọ mọ leo lên núi rồi chui vào một cái hang có tên gọi hang Canh, vốn là một di tích lịch sử thời chống Pháp. Khi anh Hải lẻn đi như vậy, tôi đã đoán ngay thể nào anh cũng viết một cái gì đó về lịch sử vùng này. Quả nhiên ít lâu sau, vào năm bảy chín tám mươi gì đó, anh cho ra đời cuốn tiểu thuyết “Chiến lũy đá”, viết về cuộc chiến đấu sống còn giữa ta và địch diễn ra tại hang Canh nhằm bảo vệ chiến khu cách mạng. Đó là cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của anh, được bạn đọc, nhất là bạn đọc Quảng Ninh nhiệt tình đón nhận. Nghe đâu hồi ấy lãnh đạo huyện Đông Triều đã bỏ ra một khoản tiền khá lớn để mua sách của anh, đem về phổ biến rộng rãi trong dân như một tài liệu học tập đồng thời đưa vào trưng bày tại Bảo tàng Bắc Mã, vốn xưa kia là chùa Bắc Mã, nơi mà các lãnh tụ Việt Minh hoạt động bí mật từ những năm đất nước còn chìm trong máu lửa và sau này là trụ sở chiến khu Đệ tứ.


Khi đọc cuốn tiểu thuyết này, tôi đã ngầm mặc định rằng thể nào sau đây anh Hải cũng tiếp tục khai thác đề tài lịch sử. Dù trước đó anh đã viết khá nhiều tác phẩm về đề tài hiện đại nhưng đây mới thực sự là mảnh đất dụng võ của anh, là cái duyên của anh, cái mệnh của anh, là văn nghiệp của anh, nó gắn liền với cuộc đời anh, không thể tách rời. Ấy trời sinh ra thế mà, không thể làm khác được.


Có lần anh hỏi tôi:


- Cậu biết xem Tử vi à?


Tôi lắc đầu cười. Anh lại hỏi:


- Sao cậu nói cứ như sấm Trạng Trình vậy?


Tôi lại cười:


- Đó là linh cảm, anh giai ạ!


 Anh bảo linh cảm đôi khi cũng đúng nhưng thường là trật bởi nó không có cơ sở khoa học. Tôi đồng ý với anh nhưng vẫn cam đoan rằng rồi đây anh sẽ trở thành nhà văn nổi tiếng về tiểu thuyết lịch sử. Con người anh một nửa mang khí chất nhà nho, một nửa theo Tây học. Tạng người anh không hợp với nông thôn, càng không hợp với vùng công nghiệp, đi vào mảng đề tài lịch sử là đúng lắm.


Và tôi đùa thêm rằng biết đâu khi bước vào cửa ấy, anh quay phía này sẽ gặp La Quán Trung, Thi Nại Am, quay phía kia sẽ gặp Alecxan Tonxtoi hoặc Duma bố, còn trước mặt thì các cụ trong Ngô gia văn phái đang chờ. Em linh cảm thế mà, biết đâu được nhỉ?


Anh cười bảo cậu chỉ nói nhằng, mình chữ nghĩa ngô nghê, trí năng chưa cao hơn ngọn cỏ, làm sao dám so với họ. 


Bẵng đi một quãng dài dài, có dễ đến chục năm chứ không ít, trong một chuyến cùng với kíp quay phim của mình lên Yên Tử để đưa tin cho cuộc Hội thảo khoa học về Thiền phái Trúc Lâm tam tổ được tổ chức tại chùa Hoa Yên, tình cờ tôi lại gặp nhà văn Hoàng Quốc Hải, anh cũng về tham dự Hội thảo này. Tôi lấy làm lạ, bảo anh là nhà văn, đi dự Hội thảo khoa học làm gì cho mệt? Anh cười bảo mình cốt đi chơi một chuyến thôi mà.


 Nói vậy nhưng tôi đoán chắc anh đang có “âm mưu” gì đó, thể nào rồi đây cũng xuất chưởng cho xem. Sau khi để mấy cậu quay phim chớp lấy vài hình ảnh trong hội nghị, tôi kéo họ đi men theo khe suối sang bên thác Ngự Dội, quay lấy hình ảnh đó nhằm minh họa cho một bản tham luận trong Hội thảo. Nghe nói bên trên thác Ngự Dội là am Ngọa Vân, nơi Điểu ngự giác hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, bọn tôi liền tìm cách leo lên quay tiếp. Thấy thế anh Hải bảo:


- Am Ngọa Vân không phải ở đây đâu, các cậu leo lên đó làm gì?


Tôi nói:


- Sao lại thế anh, rõ ràng trong báo cáo của ông giám đốc sở Văn hóa Quảng Ninh nói thế kia mà?


Anh Hải bảo:


- Ông ấy nói hàm hồ đấy, nếu cần tớ sẽ cho cậu xem cuốn “Thánh tăng lục”, trong đó có đoạn ghi rất rõ việc này. Họ nói am Ngọa Vân ở xã Bình Khê huyện Đông Triều chứ không phải ở đây đâu.


Quả nhiên khi kiểm chứng điều này, các nhà khoa học phải công nhận anh Hải đúng, trên thác Ngự Dội chỉ là một bãi cỏ hoang, chả có cái am nào, trong khi ở xã Bình Khê huyện Đông Triều thì có thật, tại đây người ta thấy cả tháp Phật Hoàng, nơi chứa một phần xá lỵ của Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông nữa.


Ngay sau đó, am Ngọa Vân ở Bình Khê được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc Gia. Người có công đầu trong chuyện này chính là nhà văn Hoàng Quốc Hải.


Nhưng anh Hải đâu có ý định trở thành nhà khoa học, thấy người ta nói chưa thuyết phục thì anh đưa ra ý kiến của mình để mọi người tham khảo xem có đúng không thôi, còn mục đích nghiên cứu của anh về Trần Nhân Tông, cũng như tất cả những gì có liên quan đến thời đại nhà Trần là để dựng lên một bức tranh lớn về thời đại đó. Điều này chứng tỏ tôi đã tiên liệu đúng, anh vẫn say mê với đề tài lịch sử, và nó đã thu hút toàn bộ tinh lực của anh trong hàng chục năm ròng. Đã không biết bao lần anh đi dọc về ngang khắp mọi miền đất nước, từ Bạch Đằng giang cho đến Cửu Long giang, hễ ở đâu có sử liệu gì, dù là chính sử, dã sử hay bí sử về thời đại nhà Trần, là anh tìm đến. Và không chỉ thế, anh còn lục tìm tư liệu từ những cuốn lịch sử Trung Hoa viết về thời Nguyên Mông để đối chiếu với lịch sử nước nhà đặng tìm ra sự thật lịch sử của từng triều vua một. Cố nhiên anh khai thác theo cách của mình, lần theo dấu chân từng nhân vật của mình chứ không hoàn toàn lệ thuộc vào sử sách. Theo chân Trần Khánh Dư, anh du thuyền ra tận cửa bể Quan Lạn, nơi ông tướng bán than gồm tài thao lược và cũng đầy cá tính này từng cho quân tập trận để nhấn chìm đoàn thuyền lương của tướng Nguyên Trương Văn Hổ. Theo chân công chúa Huyền Trân, anh một mình rong ruổi về xứ “Điêu Tàn”, đến từng ngôi tháp Chàm cổ kính để rồi tái hiện một cách sống động cả một thời vàng son của Vương quốc Champa. Rồi anh tìm lên núi trò chuyện với các nhà sư, xuống phủ Thiên Trường xưa gặp những cụ già đánh cá, lại lộn về Thăng Long soi lại cái “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo...”, để rồi sau đó, khi bắt tay vào khởi thảo bộ tiểu thuyết sử thi vĩ đại này, đôi khi ngủ thiếp đi bên trang viết, anh lại lẩm nhẩm gọi tên các nhân vật của mình, như thể hàng ngày vẫn sống cùng với họ.


Những bạn văn dự trại sáng tác với anh thường nói: “Ông Hải trong mơ cũng sống cùng quá vãng”, là vì vậy.


Còn tôi, tôi nghĩ rằng đây chính là một trong những điều cốt tử của văn chương. Ý tưởng của nhà văn dù hay đến mấy nhưng nếu khi viết ra, tác giả không say sưa tâm huyết với nhân vật của mình, nhân vật không có da có thịt, các chương đoạn không có hồn có cốt, trang văn không hàm chứa những tâm sự sâu kín, những kiến giải sâu sắc về cuộc đời và số phận con người... không có những cái đó, tác phẩm làm sao có sức chinh phục người đọc được?


Nữ sỹ Xuân Quỳnh nói: “Sự uyên bác rất cần cho người sáng tác nhưng nó không gọi ra ngôn ngữ văn chương được, chỉ có sự rung động của tâm hồn mới gọi ra ngôn ngữ văn chương”.


Nhà văn Hoàng Quốc Hải là người uyên bác. Nhưng ngôn ngữ của anh không kinh viện chút nào, văn phong anh trong sáng và dung dị, từng chữ từng câu từng dòng từng đoạn đều được gọi ra bởi sự rung động sâu xa của tâm hồn và trách nhiệm cao cả của người cầm bút. Phải chăng chính điều này đã làm nên thành công của “Bão táp triều Trần”, chính điều này đã lý giải vì sao tác phẩm của anh lại có sức thu hút người đọc nhiều như vậy?   


Bây giờ thì mọi việc đã xong xuôi. Tác phẩm về 175 năm thời đại nhà Trần đã ra đời, gây được tiếng vang trong công chúng và đồng nghiệp. Và thật là cái duyên kỳ ngộ, đúng dịp này, tôi lại có cơ hội gặp lại anh để viết về chuyện đó.


Giờ đây anh Hải đầu đã bạc, trán đã hói cao. Anh tiếp tôi với bộ nâu sồng kiểu con nhà Phật, phong thái ung dung tự tại như tiên. Hiềm một nỗi không hiểu sao tôi chợt thấy mũi anh to thế, hay vì anh được người ta khen nhiều quá nên nó phổng lên như vậy? Tôi cười chọc ghẹo anh. Anh cũng cười, bảo mày chỉ nói nhằng, mũi tao vẫn thế!


- Hiện anh đang viết gì? - Tôi hỏi.


Thay cho câu trả lời, anh Hải chậm rãi đứng dậy, kéo tôi lên gác. Một gian phòng gần hai chục mét vuông chứa đầy sách vở, chỉ để một khoảng con con kê bộ vi tính trên chiếc bàn làm việc. Anh ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếu, lấy trên giá sách xuống một chồng bản thảo to đùng, trải ra từng quyển trước mặt tôi, làm tôi sửng sốt đến gai người. Lại một bộ sử thi bốn tập mới hoàn thành, mỗi tập có độ dày năm, sáu trăm trang, có tập dài đến bảy trăm trang. Bộ sách có tên Lý Bát Đế, tức tám triều vua nhà Lý, được viết trong vòng mười năm, kể từ sau khi hoàn thành bộ “Bão táp triều Trần”.


- Anh xong hẳn chưa?


- Xong hẳn rồi!


- Ghê thật!     


- Cậu biết không, để viết bộ sách này, có lần mình phải sang tận Quế Lâm, Nam Ninh, Quảng Đông, Chiết Giang, thậm chí lên cả Bắc Kinh để tìm hiểu đấy!


Tôi hiểu. Cũng như lần trước, khi viết bộ sách về thời đại nhà Trần, anh Hải đã không tiếc công tiếc sức, mê mải lần theo dấu người xưa, nhặt từng nhúm vụn vàng để luyện thành một “Bông hồng vàng” hiến cho đời, như cụ Pao đã dạy. Anh lại vốn là người thận trọng, thận trọng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày và thận trọng khi cầm bút, cái gì còn nghi vấn, chưa bao giờ anh chịu viết ngay mà tìm mọi cách tra cứu cho bằng được. Riêng ở Thành phố Nam Ninh, tức xứ Ung Châu thời Tống, anh đã phải cất công qua lại nhiều lần, nghiên cứu xem bằng cách nào mà Lý Thường Kiệt có thể dẫn quân vượt qua biên ải sang tận nơi phá tan những căn cứ thủy bộ đang tập hợp tại đây, chuẩn bị sang xâm lược nước ta. Anh cho biết đã phải tìm rất lâu, hỏi rất nhiều người mới lần ra được cái miếu thờ viên tướng bại trận lúc bấy giờ, gọi là miếu quan Trần Thừa chỉ, tức là viên quan ấy họ Trần, thừa lệnh vua nhà Tống dẫn quân sang đánh nước Nam ta.


- Vậy là để có được hai bộ sách lịch sử này, “Bão táp triều Trần” và “Tám đời vua Lý”, có lẽ anh phải mất đến ba chục năm đấy nhỉ? - Tôi hỏi.


- Chắc thế! - Anh Hải gật đầu.


- Làm sống lại bốn trăm năm của hai thời đại Lý - Trần, hai mốc son oanh liệt nhất trong lịch sử, quả là anh đã có đóng góp đang kể vào việc phổ cập lịch sử bằng văn chương đấy.


- Cái đáng kể nhất là trong bốn trăm năm đó, cha ông ta đã không chỉ trụ vững mà còn đánh bại kẻ xâm lược có sức mạnh gấp ngàn lần, đưa dân tộc ta lên đài vinh quang chói lọi khiến muôn đời sau con cháu tự hào. Để mai một đi những trang sử vàng này là có tội với tiền nhân. Mình coi việc viết lách đó như một nghĩa vụ công dân mà thôi, cậu ạ.


Nhà văn Hoàng Quốc Hải kể tiếp cho tôi nghe về những cuộc săn tìm tư liệu để viết bộ sách thứ hai này. Tôi chăm chú nghe anh nhưng trong đầu lại nghĩ sang chuyện khác. Tôi biết trong mấy năm gần đây, người ta đang ráo riết chuẩn bị cho dịp kỷ niệm lớn: Kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long Hà Nội, người ta đầu tư hàng trăm tỷ đồng vào việc dựng tượng, làm phim, làm kịch, tổ chức triển lãm tranh ảnh vân vân, để chào mừng, trong đó điểm nhấn của sự kiện là thời đại Lý - Trần. Điều này khiến cho không khí Thủ đô vốn sôi động lại càng thêm náo nức. Nhưng liệu có ai biết rằng ở cái góc pháo đài nhỏ bé này, có một nhà văn, một nghệ sỹ ngôn từ đầy tâm huyết và có tầm vóc lớn, vừa dựng xong một tượng đài cực kỳ hoành tráng với hàng trăm nhân vật, những người mà tên tuổi họ đã trở thành linh khí của non sông và của Thăng Long Hà Nội. Liệu có ai nghĩ đến điều này không nhỉ?


Tôi nói với anh Hải điều mình vừa nghĩ. Anh mỉm cười:


- Đấy là việc của người ta. Mình lo chuyện đó làm gì.


Tôi chăm chú nhìn anh. Anh vẫn thế, hiền lành, đôn hậu, nói cười nhỏ nhẹ như xưa. Điều đó không khỏi làm tôi kinh ngạc. Một con người vừa làm xong một việc phi thường như vậy mà vẫn không có gì thay đổi. Kể cũng là điều xưa nay hiếm. 


 


Làng Khương, hè 2009


NĐH.


Nguồn: hoinhavanvietnam.vn


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »