I. "Nạn cống vải", theo các sách lịch sử hiện nay
Đầu năm học 2002-2003, tôi có mua cho cháu quyển sách giáo khoa Lịch sử Việt Nam lớp 6 do NXB Giáo dục ấn hành (4.2002). Sách dày 84 trang, khổ 16x24cm, các tác giả là: Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Trương Hữu Quýnh (Chủ biên) Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Sĩ Quế. Giở ra xem mấy trang thì tôi thấy có chuyện lạ:
Bài 23, nhan đề Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỷ VIII -IX, có đoạn viết: "… Hàng năm, nhân dân ta phải cống nạp những sản vật quý hiếm như ngọc trai, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, vàng, bạc… Đặc biệt, cứ đến mùa vải, nhân dân An Nam phải thay nhau gánh vải (quả) sang Trung Quốc nộp cống" (trang 63). Cuối mục lớn Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), các tác giả viết: "Khoảng cuối những năm 10 của thế kỷ VIII, nhân phải tham gia đoàn người gánh vải (quả) nộp cống, Mai Thúc Loan đã kêu gọi những người dân phu bỏ về quê, mộ binh nổi dậy.
Ở Nghệ An, nay còn truyền lại một bài hát chầu văn kể tội bọn đô hộ nhà Đường:
Nhớ khi nội thuộc Đường triều,
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai.
Sâu quả vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đã héo hon...”
Hồi những năm 60 của thế kỷ trước, có lần tôi đã đọc hay đã nghe ở đâu đó, rằng, "nạn cống vải" là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Lúc bấy giờ, tưởng đó chỉ là lời của những kẻ bạo gan nói liều nên tôi chẳng cần để ý đến. Nhưng nay thấy nó hiển hiện trong một quyển sách giáo khoa được in mỗi lần đến 550.000 bản, do 4 tác giả viết, vì vậy, tôi không thể coi thường nên phải tìm đọc thêm những sách lịch sử khác nữa để biết rõ hơn.
Sách Lịch sử Việt Nam (tập 1, Ủy ban KHXH Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, H.1971) viết: “Cũng như mọi người dân đất Việt, Mai Thúc Loan phải đi phu, quanh năm phục dịch vất vả cho bọn đô hộ nhà Đường... Năm 722, Mai Thúc Loan hiệu triệu những người dân phu phải đi gánh vải quả nộp cống cho chính quyền nhà Đường nổi dậy khởi nghĩa” (trang 129).
Giáo trình Lịch sử Việt Nam (tập I, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1991; các tác giả: Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh) cũng có một đoạn y như ở sách Lịch sử 6 (đã trích dẫn), ngoài ra, còn cho biết thêm: "Nhân dân ta đời đời nhớ ơn Mai Hắc Đế, lập đền thờ ông trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong "Tiên chân bảo huấn tân kinh" để ở đền, ca tụng công đức ông như sau (tạm dịch):
Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành luỹ khói hương xông.
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
Lam Thuỷ trăng in tăm ngạc lặn,
Hùng Sơn gió lặng khói lang không.
Đường đi cống vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung
Tương truyền, từ sau cuộc khởi nghĩa lớn lao này, nhà Đường không dám bắt nhân dân ta nộp cống vải quả hàng năm nữa" (trang 287).
Trong quyển Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập, tái bản lần thứ 5, NXB Giáo dục ấn hành năm 2002, do GS Trương Hữu Quýnh, GS Đinh Xuân Lâm, PGS Lê Mậu Hãn chủ biên cùng 7 giáo sư và phó giáo sư khác chấp bút), khi viết về cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, các tác giả cũng khẳng định: "Nhân dân hàng năm còn phải vận chuyển nhiều thức ngon vật lạ, nhất là nhãn, vải tươi nộp cho nhà Đường. Nhân dân ta rất căm phẫn, đó là lý do dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan" (trang 90).
Quyển Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884 của GS Phan Quang và TS Vũ Xuân Đàn (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000), ở trang 73 cũng viết: "Năm 722, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân đã cùng ông đi phu gánh vải nộp cống nổi dậy khởi nghĩa. Từ một nhóm quân mấy trăm người, Mai Thúc Loan phát triển cuộc khởi nghĩa ra khắp vùng Hoan - Diễn - Ái (Thanh - Nghệ - Tĩnh)".
Sách Việt Nam - Những sự kiện lịch sử từ khởi thuỷ đến 1858 của Viện Sử học (Nxb Giáo dục, HN 2001, các tác giả: Đỗ Đức Hùng, Nguyễn Đức Nhuệ, Trần Thị Vinh, Trương Thị Yến), viết về cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan: "Hàng năm, chúng bắt nhân dân Phong Châu phải cống loại tơ "bát tàm" (tơ của loại tằm một năm tám lứa), tàn nhẫn hơn nữa là bắt hàng ngàn nhân dân Hoan Châu phải đi cống nạp vải quả. Quả vải tươi phải gánh bộ sang kinh đô nhà Đường. Nhân dân cả nứớc căm giận, đặc biệt là nhân dân Hoan Châu, Phong Châu. Mầm khởi nghĩa của nhân dân ta bắt đầu từ những vùng này" (trang 39, cột bên phải).
Sách Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức (Nxb Văn hoá - Thông tin, H.2001), ở trang 34 ghi: "Năm 722, Mai Thúc Loan kêu gọi những người dân phu gánh vải quả nộp cống cho nhà Đường (Dương Quý Phi rất thích ăn quả vải đất Giao Châu) nổi dậy khởi nghĩa, nhân tài khắp các châu Hoan, Diễn, Ai theo về tụ hội dưới cờ nghĩa và suy tôn Mai Thúc Loan làm Mai Hắc Đế, đóng đô ở thành Vạn An (Nghệ An)".
Sách Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng (Nxb Thanh Niên, H.2001) thì kể tường tận như chính tác giả là người trong cuộc: "Châu Hoan ngày ấy luôn bị giặc Chà Và (Gia-va), Côn Lôn (Mã Lai) cướp phá, nhất là ách đô hộ tàn bạo của nhà Đường, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ. Đặc biệt, nạn cống quả lệ chi (quả vải) là một gánh nặng khôn cùng đối với nhân dân Hoan Châu. Nguyên do, ở Trường An, vua Đường có một nàng ái phi, thường gọi là Dương Quý Phi, nhan sắc tuyệt vời mà tính tình cũng thật thất thường. Dương Quý Phi thích ăn thứ quả lệ chi xinh xắn, chỉ ở An Nam mới có. Nên vua Đường bắt dân An Nam phải cống vải.
Mùa vải năm Nhâm Ngọ (722) - (phải là năm Nhâm Tuất mới đúng - LMC) - Mai Thúc Loan cùng đoàn phu gánh vải đi nộp cống. Đoàn người gánh vải đầm đìa mồ hôi mà vẫn phải lê từng bước trên đường. Gần trưa, Mai Thúc Loan cho mọi người nghỉ chân bên rừng. Cái khát cháy cổ hành hạ đoàn phu. Một dân phu có tuổi bứt lấy một quả vải ăn cho đỡ khát. Quả vải chưa kịp đưa lên miệng đã bị một tên lính Đường đi áp tải xông tới, vung cán mã tấu đánh vào đầu. Khi tên lính Đường lần nữa định đánh ông già thì hắn đã bị đánh chết tươi. Sự việc xẩy ra nhanh như chớp. Bọn giặc cậy có binh khí hò hét vung đao kiếm xông vào Mai Thúc Loan. Nhưng những người dân phu theo lệnh Mai Thúc Loan đã rút đòn gánh chống lại. Lũ giặc không địch nổi đoàn dân phu, đều phải đền tội. Đánh tan lũ giăc Đường trong một cơn phẫn nộ, Mai Thúc Loan lập tức thổi bùng khí thế cuộc bạo động thành một cuộc dấy nghĩa" (trang 52-53).
Qua 8 quyển sách của 25 tác giả, đủ mặt các nhà sử học “tai mắt”, trong đó có cả quyển sách “mẫu mực” của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, độc giả đã thấy rõ sự nhất trí tuyệt đối của giới sử học khi nói về "nạn cống vải". Thật vậy, rất khó tìm thấy một quyển sách lịch sử Việt Nam được viết trong hơn bốn chục năm gần đây mà không coi chuyện hàng ngàn dân phu gánh quả vải nộp cống như một sự thật lịch sử và là nguyên nhân dẫn đến khởi nghĩa Mai Thúc Loan.
Hẳn rằng, thành tích "phát hiện" này là của các nhà sử học đương đại, bởi vì, các sách lịch sử trước đây như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (cuối thế kỷ 18), Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn (cuối thế kỷ 19), Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (in lần đầu tiên vào năm 1921 và đã được tái bản rất nhiều lần) đều nói đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan nhưng không hề nhắc đến “nạn cống vải" .
II. Những lời khẳng định “như đinh đóng cột”
Qua những đoạn trích dẫn nguyên văn trên đây rút ra từ các sách về lịch sử Việt Nam , các tác giả đã nêu ra rất nhiều lý lẽ và chứng cứ để khẳng định rằng, “nạn cống vải” (với hàng ngàn dân phu gánh quả vải một mạch đến kinh đô nhà Đường) là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cuộc khỏi nghĩa của Man Thúc Loan. Những điều khẳng định đó là:
1. Quả vải là một thứ đăc sản chỉ có ở Việt Nam, mà vùng Hoan Châu - quê của Mai Thúc Loan - là nơi có thứ vải ngon nhất và nhiều nhất. Vì vây, nhân dân vùng này là nạn nhân đầu tiên của “nạn cống vải”
2. Dương Quý Phi - người đàn bà được hoàng đế Huyền Tông nhà Đường sủng ái nhất - rất thich ăn quả vải. Để thỏa mãn nỗi thèm muốn của Dương Quý Phi, Huyền Tông đã bắt nhân dân Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) phải vận chuyển thứ quả vải ngon ở vùng này đến kinh đô Trường An để cống nạp .
3. Chính Mai Thúc Loan là một trong vô số dân phu phải gánh vải sang kinh đô nhà Đường để phục vụ Dương Quý Phi, cho nên, khởi đầu từ một hành động chống đối bột phát, ông đã trở thành người lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa giành độc lập cho đất nước.
4. Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan tuy bị dập tắt một cách nhanh chóng nhưng nhờ có Mai Thúc Loan mà cái “nạn cống vải” phải chấm dứt từ đó.
Theo các nhà sử học cốt cán thì những điều khẳng định này đều có chứng cứ đầy đủ và chắc chắn, đó là:
1. Bài hát chầu văn còn được truyền tụng ở Nghệ An, trong đó nói rõ về cái “nạn cống vải” trong thời kỳ nhà Đường xâm chiếm nước ta
2. Bài thơ chữ Hán ghi trong “Tiên chân bảo huấn tân kinh” đặt ở đền thờ Mai Hắc Đế trên núi Vệ Sơn (trong thung lũng Hùng Sơn thuộc huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An) cũng xác nhận về “nạn cống vải” và về sự chấm dứt cái đại nạn này sau cuộc khởi nghĩa của Mai thúc Loan.
Lý lẽ và chững cứ của các nhà sử học về “nạn cống vải” xem ra có vẻ chặt chẽ và hợp lý! Có lẽ vì thế mà nó lập tức được họ ghi vào tất cả các sách viết về lịch sử Việt Nam từ khoảng trước năm 1970 trở đi
Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét các luận cứ kể trên của các nhà sử học
III. Cây vải ở Nghệ - Tĩnh và ở Việt Nam
Đã từng sống nhiều năm trong vùng quê của Mai Thúc Loan, tôi biết rằng, ở khắp hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, chỉ có loại vải cùi mỏng và chua, hạt to, rất ít người trồng, người lớn ít khi ăn, và cũng rất ít quả.
Sách Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (cuối thế kỷ 19) là một bộ sách địa lý lịch sử nghiêm túc và đáng tin cậy, trong đó ghi chép rất đầy đủ các sản vật của từng địa phương. Về các sản vật của Nghệ An và Hà Tĩnh, sách này không hề kể đến quả vải, mặc dầu đã liệt kê 40 sản vật: vỏ quế, nam sâm, trầm hương, vỏ gai, sắt chín, vải thổ, võng gai, dầu, muối, nhựa thông, nón, lụa, chiếu cói, cau, vừng, ngô, sắn, củ mài, chè, lá cọ, cỏ ất, củ nâu, gỗ lim, tê tê, voi, nai, hoãng, chim công, lông chim chả, rươi, hàu, nước mắm, cá chình, thạch quyết minh, sò, ngao, thốc ngư, chim cu núi, quán chúng thảo (theo bản dịch của Phạm Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Khoa học xã hội, HN 1970, tập 2, các trang 193,194, 195 và 101).
Hiện nay, đã có người đem giống vải Thanh Hà về trồng ở Nghệ Tĩnh nhưng quả thì ít và chua, hạt to và không ngon như quả vải ở các tình Bắc Bộ. Nguyên do là vì, càng đi xuống phía nam, số ngày lạnh trong một năm càng ít dần, số ngày nắng nóng càng tăng lên, không thích hợp với nhu cầu sinh học của cây vải.
Rõ ràng là, ở vùng đất Hoan Châu, quả vải vừa hiếm lại vừa chua. Cũng không có chứng cứ nào cho biết rằng, ở thế kỷ 8, vùng này là nơi có quả vải rất nhiều và rất ngon. Cũng không thể nói rằng, tuy là trong mấy thế kỷ vừa qua, quả vải ở vùng này vừa ít lại vừa chua, nhưng ở thế kỷ 8, nơi đây vẫn rất có thể là xứ sở của những vườn vải trĩu quả và ngọt lịm. Giả thuyết đó chỉ có thể là sự thực nếu như ở thế kỷ ấy khí hậu ở đây lạnh hơn bây giờ, thời gian mát lạnh kéo dài hơn, mà nếu như thế thì ở thế kỷ 8 về trước, vùng Hoan Châu phải gần với cực bắc hơn hiện nay nên khí hậu ở đó lạnh hơn bây giờ, và sau đó đã xẩy ra sự di chuyển đột ngột của hai địa cực khiến cho vùng này gần xích đạo hơn trước và nóng hơn trước. Nhưng khoa học về trái đất hoàn toàn không xác nhận biến cố như vậy.
Còn ở Bắc Bộ thì sao? Về thổ sản của tỉnh Hải Dương, Đại Nam nhất thống chí đã ghi rõ: "Vải: xã Hoà Nhuệ, huyện Tứ Kỳ và xã Tử Nham, huyện Đông Triều; vải ngon thì ở xã Yên Nhân huyện Đường Hào" (tập 3, trang 40). Huyện Đường Hào nay là huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Sách Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (cuối thế kỷ 18) có nói về quả vải: "Nước Nam sản xuất trái lệ chi nhiều nhất. Thứ trái lệ chi ở xã An Nhơn (tức là Yên Nhân) huyện Đường Hào là ngon, ngọt và thơm không thể nào tả được" (Bản dịch của Tạ Quang Phát, tập 3, Nxb Văn hoá - Thông tin, H.1995, tập 3, trang 215). Tuy ông nói là nước ta sản xuất nhiều trái lệ chi nhưng không nêu rõ một địa phương nào cả, có lẽ chữ “nhiều” chỉ có nghĩa là dễ tìm thấy mà thôi. Ông cũng không hề nói đến "nạn cống vải" hồi thế kỷ 8 để chứng tỏ mức độ nhiều và quý của cây vải ở nước ta, cũng không nói đến vải ở châu Hoan thưở trước và cũng không nói đến vải thiều ở Thanh Hà, vì hồi đó giống vải này chưa được du nhập vào nước ta. Tuy nhiên, cũng ở trong sách ấy của Lê Quý Đôn, ông đã viết rằng, khi đi sứ sang Trung Quốc, ông đã được ăn quả vải sấy khô và cả quả vải dầm muối nữa.
Ở nước ta chưa thấy nòi vải nào ngon hơn vải thiều ở huyên Thanh Hà tỉnh Hải Dương, kể cả nòi vải ở Yên Nhân mà Lê Quý Đôn đã nói tới. Nòi vải ở Yên Nhân ngày nay vẫn còn. Nó có quả to nhưng hạt cũng to và chua hơn vải thiều ở Thanh Hà, quả cũng thưa hơn. Tuy vậy, nó vẫn còn tồn tại bên cạnh vải Thanh Hà vì thời vụ của nó sớm hơn nên tuy phẩm chất có kém nhưng cũng dễ bán.
Cây vải thiều đầu tiên chỉ mới xuất hiện ở Thanh Hà cách đây (năm 2003) chừng một thế kỷ. Lúc này cây vải tổ ấy vẫn còn và đang thuộc quyền sở hữu của cụ Hoàng Văn Thu (sinh năm Canh ngọ, 1930) ở thôn Thuý Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Trong những năm cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20, ông nội của cụ Thu là cụ Hoàng Phúc Thành từng làm phu khuân vác ở cảng Hải Phòng.Thấy mấy ông lái buôn người Trung Quốc quê ở Thiều Châu[1] ăn quả vải rồi vứt hạt đi, cụ Thành đã nhặt được 6 hạt, đem về quê ương giống và mọc được 3 cây. Khi dọn cỏ, cụ bà sơ ý làm chết mất 2 cây, chỉ còn 1 cây. Đó chính là cây vải thiều đầu tiên ở nước ta. Rồi từ đó, chiết cành ra để trồng thêm, số cây vải và só vườn vải càng ngày càng tăng thêm. Con cháu và họ hàng nhớ ơn cụ Thành nên đã xây dựng miếu thờ cụ bên cạnh cây vải tổ. Vì có nguồn gốc như thế nên nó có tên là vải thiều, nhưng chưa hẳn là nòi vải ở Thiều Châu.
Chúng tôi đã đến thăm cây vải tổ và miếu thờ cụ Hoàng Phúc Thành. Tấm bia bằng bê tông mới làm hồi có chủ trương “giao ruộng cho nông dân”, trên đó ghi tên cụ là Hoàng Văn Cơm. Cụ Thu giải thích rằng, vì cụ Thành đem được giống vải thiều về trồng ở quê nhà, cũng là đem cơm gạo về cho dân làng nên mọi người gọi cụ là cụ Cơm.
Dễ dàng đi đến kết luận: rằng, ở nước ta trước đây không có nơi nào có quả vải thật ngon và thật nhiều như vải thiều hiện nay; ở Nghệ An và Hà Tĩnh thì quả vải vừa hiếm lại vừa chua; giống vải Thanh Hà khá ngon hiện nay là từ Trung Quốc mới sang chưa lâu, nếu coi là từ năm 1900 thì cũng chỉ sai lệch vài năm.
Kết luận này cho chúng ta thấy liều lĩnh của những kẻ nói rằng “quả vải ở Hoan Châu là ngon và nhiều nhất, còn ở Trung Hoa thì không có” rồi coi đó là một trong những nguyên do của “nạn cống vải”.
IV. Tìm hiểu về cây vải
Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, cây vải có tên là litchi. Đó chính là do chữ “lệ chi” được phiên âm một cách khá chính xác theo cách đọc của người Trung Quốc. Tên khoa học của cây vải là litchi chinensis nghĩa là “lệ chi Trung Quốc”. Điều đó cho biết rằng, các nhà thực vật học phương tây thấy cây vải có mặt ở Trung Quốc nhiều nhất, sớm nhất. Các bộ từ điển vào loại lớn nhất như Encyclopedia Britanica của Anh và Grand Larousse Encyclopédique của Pháp đều xác nhận điều đó và cho biết thêm một số nét quan trọng nữa như sau: cây vải không thích hợp với những vùng nóng ẩm quanh năm mà chỉ thích hợp với những nơi có một mùa lạnh ngắn rồi mới tiếp đến mùa nóng, tức là vùng á nhiệt đới (khoảng từ vĩ độ 20 đến 30); nó có thể sống hàng trăm năm và cao đến 20 mét, có gỗ rất tốt, dùng để làm đồ gia dụng và làm thùng xe. Điều này cũng rất phù hợp với thực tế mà chúng ta biết là, các tỉnh phía bắc nước ta tiếp giáp với vùng này (Thanh Hà: 21 độ; Lục Ngạn: 21, 5 độ) nên có thể trồng vải, tuy phẩm chất và sản lượng không bằng ở Quảng Đông nhưng cũng khá cao, còn từ Thanh Hóa trở vào thì khí hậu ít thích hợp với cây vải.
Cũng theo các bộ từ điển ấy, cây vải đã được đưa từ Trung Quốc đến Jamaica từ năm 1775 và đến Florida từ năm 1916, cho thu hoạch cao và phẩm chất tốt. Sau đó, cây vải cũng đươc trồng ở các nước gần Địa Trung Hải, ở Nam Phi, Ân Độ và ở rất nhiều nơi khác trên thế giới.
Các bộ từ điển lớn của Trung Quốc như Từ hải, Từ nguyên và Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc (phần Sinh vật học) cho biết: cây vải là loài cây gỗ lớn, cao đến 20 mét, sống rất lâu, gỗ rất tốt, có nơi trồng thành rừng để chắn gió. Nó rất thich hơp với khí hậu á nhiệt đới và là đặc sản của miền nam Trung Quốc, chủ yếu là ở đông nam tỉnh Phúc Kiến, trung nam tỉnh Quảng Đông; các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên, Đài Loan. Đặc biệt, ở mục từ “lệ chi” trong Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc, soạn giả La Hiến Thụy còn cung cấp những thông tin khá lý thú về lịch sử, đại để như sau:
Trong thư tịch cổ của Trung Quốc, Tư Mã Tương Như (179-118 trước Công nguyên) là người nói đến cây vải lần đầu tiên trong bài Thượng Lâm phú (Bài phú về vườn Thượng Lâm, nội dung chủ yếu lá tán tụng sự cường thịnh của đế chế nhà Hán và ca ngợi Hán Vũ Đế - LMC), nhưng trên thực tế thì cây vải đã được trồng từ trước đó rất nhiều năm. Ở Trung Quốc từ xưa đã có hơn 100 tác phẩm chuyên khảo về cây vải, mà các từ điển Từ nguyên và Từ hải gọi đó là loại sách “Lệ chi phả”. Đầu thế kỷ 10, Trịnh Hùng đã viết sách Quảng trung lệ chi phả (Chuyên khảo về cây vải ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây), nay đã thất truyền. Hiện nay vẫn còn giữ được sách Lệ chi phả (Chuyên khảo về cây vải) của Thái Tương (1012-1067), chủ yếu viết về các nòi vải ở Phúc Kiến. Cuối đời Thanh, Ngô Ứng Quỳ viết sách Lĩnh Nam lệ chi phả (Chuyên khảo về cây vải ở phía nam núi Ngũ Lĩnh, tức là vùng Lưỡng Quảng), trích dẫn hơn một chục tài liệu lịch sử rất quan trọng.
Hiện nay, ở Trung Quốc còn giữ được khá nhiều tư liệu cổ về các nòi vải. Ngoài sách Lệ chi phả của Thái Tương (biên soạn xong năm 1059) và sách Lĩnh Nam lệ chi phả của Ngô Ứng Quỳ thời Thanh, cần phải kể đến Mân trung lệ chi phả (Chuyên khảo về các nòi vải ở Phúc Kiến) của Đồ Bản Tuấn và Mân trung lệ chi thông phả (Chuyên khảo tinh tường về các nòi vải ở Phúc Kiến) của Đặng Khánh Thái thời Minh, Lệ chi phả (Chuyên khảo về các nòi vải) của Trần Đỉnh, thời Thanh.
Như vậy, vùng đất phía nam của Trung Quốc chính là quê hương của cây vải, ở đó có rất nhiều vườn vải, với nhiều nòi vải rất ngon. Theo Từ điển Bách khoa thiếu niên nhi đồng Trung Quốc thì ở nước này có hơn 70 nòi vải quý. Xin nêu một số vị dụ:
Nòi vải "Trần Tử'' ở huyện Phủ Điền tỉnh Phúc Kiến, quả to bằng trứng gà, vỏ màu tím ('tử' nghĩa là tím), được nhân giống từ cây vải của Trần Kỳ, môt quan chức thời Tống. Huyện Phủ Điền có một cây vải 1300 tuổi (hiện do Phòng văn hoá huyện này chăm sóc và quản lý), có tên là Tống Hương hoăc Tống Gia Hương (nghĩa là cây vải thơm của nhà họ Tống, vốn là của gia đình Tống Hàm trồng từ thời nhà Đường), hạt nhỏ, cùi dày, có mùi thơm đặc biệt.
Nòi vải "Trạng Nguyên Hồng" ở tỉnh Phúc Kiến vốn là của trạng nguyên Từ Đạc thời Tống, thuộc phủ Hưng Hoá (gồm huyện Phủ Điền và huyện Tiên Du ngày nay). Ban đầu, nó được Từ Đạc đặt tên là Diên Thọ Hồng. Sau khi ông mất người ta mới gọi là Trạng Nguyên Hồng để nhớ tới ông.
Huyện Tăng Thành thuộc tỉnh Quảng Đông có nòi vải Quải Lục ngon nổi tiếng, quả to, cùi dày, hạt nhỏ, mùi thơm. Đặc biệt, vỏ ở phía trên có màu đỏ như son nhưng ở phía dưới lại có màu lục đậm.
Vùng Phật Sơn (phía bắc tam giác châu sông Châu Giang, tỉnh Quảng Đông) có nòi vải Phi Tử Tiếu, ngon nổi tiếng. Theo từ điển Từ Nguyên, nòi vải này có "cùi trắng và dày, hạt cũng trắng, nhỏ như hạt đỗ, vị ngọt hơi chua, ăn từ chập tối mà đến sáng hôm sau vẫn còn thơm trong miêng”. Trong quyển Hán Việt từ điển, soạn giả Đào Duy Anh cho rằng, Phi Tử Tiếu là danh từ chung để chỉ quả vải. Đó là một sự nhầm lẫn cần phải đính chính. Còn cái tên “Phi Tử Tiếu” thì hẳn là lấy từ lời của nhà thơ Đỗ Mục thời nhà Đường, trong bài thơ “Quá Hoa Thanh cung” mà chúng tôi sẽ nói tới ở mục “Dương Quý Phi và quả vải” dưới đây.
Quảng Đông, ngoài "Phi Tử Tiếu" và “Quải Lục” còn có nhiều nòi vải quý khác nữa như Thuỷ Tinh Cầu, có vỏ trắng, cùi trắng, hạt trắng nhưng nước lại đỏ như máu; Tam Nguyệt Hồng thơm ngon, chín sớm; Nhu Mễ Từ, thơm ngon, chín muộn, v.v.
Nhà thơ Tô Thức (1037-1101) lúc cuối đời từng bị giáng chức và đưa đi làm quan nhỏ ở phía nam tỉnh Quảng Đông. Ở đấy có rất nhiều quả vải ngon, ông ăn mãi không chán nên đã sáng tác bài thơ “Thực lệ chi” (Ăn quả vải), như sau:
罗 浮 山下 四 時 春,
La Phù sơn hạ tứ thời xuân.
芦 橘 杨 梅 次第 新。
Lư quất dương mai thứ đệ tân
日 啖 荔 枝 三 百 颗,
Nhật đạm lệ chi tam bách khoả,
不 辞 长 作 岭 南 人
Bất từ trường tác Lĩnh Nam nhân.
Nghĩa là:
Dưới núi La Phù, xuân suốt năm,
Quả ngọt luân phiên, tha hồ ăn.
Ngày xơi vải ngon ba trăm quả,
Chẳng ngại biến thành người Lĩnh Nam.
Ở tỉnh Tứ Xuyên cũng có những vùng khá nổi tiếng về quả vải ngon, ví dụ như ở Lô Châu, Nhung Châu, hiện nay quả vải vẫn là một đặc sản quan trọng.
Trong chùm thơ Giải muộn gồm 12 bài của nhà thơ Đỗ Phủ (712-770), ở bài thứ 10, đã nói đến việc hái vải ở Lô Châu (nay là thành phồ Lô Châu, ở đông - nam tỉnh Tứ Xuyên, chỗ hội lưu của sông Trường Giang và sông Đà Giang) và Nhung Châu (ở đông - nam thành phố Nghi Tân, tỉnh Tứ Xuyên).
Ức quá Lô, Nhung, trích lệ chi
Thanh phong ẩn ánh, thạch uy di
Kinh hoa ưng kiến vô nhan sắc
Hồng khỏa toan điềm chỉ tự tri
Tạm dịch:
Nhớ xưa hái vải đất Lô, Nhung,
Cây xanh đường khuất núi chập chùng.
Kinh thành nên biết quên màu sắc,
Quả đỏ ngọt chua tự mỗi lòng .
Qua hai câu cuối của bài thơ này, Đỗ Phủ nhắc đến việc thu hái quả vải ở Lô Châu và Nhung Châu (tỉnh Tứ Xuyên) để đưa về kinh đô Trường An, và ông đã bày tỏ lòng thương xót đối với những người dâng quả vải.
Đọc đến đây, quý vị độc giả đều thấy rằng, không phải chỉ ở nước ta mới có quả vải như các nhà sử học đã khẳng định, còn ở Trung Quốc thì không có. Ngược lại, miền nam Trung Quốc chính là “quê hương” của quả vải, mọi giống vải ngon trên khắp thế giới hiện nay đếu xuất phát từ vùng này. Vùng Bắc Bộ của nước ta tiếp giáp với miền nam Trung Quốc nên cây vải cũng có mặt từ xa xưa, nhưng phẩm chất không cao, thu hoạch không nhiều và không thể là sản vật mà triều đình Trung Hoa thèm khát đến nỗi phải lấy cho được, bằng mọi giá. Nòi vải thiều ở huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương (vài chục năm gần đây đã được trồng rất nhiều ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang và nhiều nơi khác) cũng có nguồn gốc từ Quảng Đông và chỉ mới có mặt ở nước ta hơn một thế kỷ.
Vì sao có sự ngộ nhận nghiêm trọng như vậy? Ngoài sự vội vàng hấp tấp, thiếu hiểu biết về thực tế, chúng tôi nghĩ rằng, còn do sự hiểu không đúng về các địa danh lịch sử. Trong thư tịch cũ của Trung Quốc và Việt Nam, hẳn không ít lần nhắc đến việc triều đình phương bắc vơ vét mọi sản vật quý từ Giao Chỉ, trong đó có những thứ quả ngon như lệ chi, long nhãn (quả vải, quả nhãn). Từ trước đến nay, ở nước ta, hầu hết mọi người đều hiểu Giao chỉ là tên do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng chỉ người và nước Việt Nam thời xưa. Các nhà sử học hàng đầu ở nước ta hiện nay vẫn hiểu như vậy. Cho nên, họ nghĩ rằng, quả vải ở Giao Chỉ chính là quả vải ở Việt Nam.
LMC.
(còn tiếp)
Nguồn: phongdiep.net |