V. Dương Quý Phi và quả vải
Dương Quý Phi là một trong những người đàn bà nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc. là một trong “tứ đại mỹ nhân” - bốn người đàn bà đẹp nổi tiếng nhất (ba người kia là Tây Thi thời Chiến quốc, Vương Chiêu Quân cuối thời Tây Hán, và Điêu Thuyền cuối thời Đông Hán). Bà ta được vua Đường Huyền Tông (còn gọi là Đường Minh Hoàng, ở ngôi hoàng đế Trung Hoa từ năm 712 đến năm 755), yêu quý chiều chuộng hết mức nên bà ta đòi gì được nấy. Đỗ Mục (803-852), một nhà thơ nổi tiếng thời Đường, có lần đi qua cung Hoa Thanh (cung điện sang trọng dành riêng cho Dương Quy Phi thuở trước) đã sáng tác bài thơ Quá Hoa Thanh cung (Qua cung Hoa Thanh):
长安回望绣成堆
Trường An hồi vọng, tú thành đôi,
山顶千门次第开
Sơn đỉnh thiên môn thứ đệ khai.
一骑红尘妃子笑
Nhất kỵ hồng trần, Phi Tử tiếu
无人知是荔枝来
Vô nhân tri thị lệ chi lai.
Tuong Như đã dịch như sau:
Ngoảnh lại Trường An tựa gấm thêu,
Đầu non nghìn cửa mở liền nhau.
Bụi hồng ngựa ruổi, Phi cuời nụ.
Vải tiến mang về, ai biết đâu!
Hai câu cuối của bài thơ này được coi là bằng chứng về việc Đường Minh Hoàng bắt thuộc hạ phải đưa quả vải từ phương xa về để thỏa lòng mong muốn của Dương Quý Phi. Tác giả Đỗ Mục đã cho chúng ta biết rằng, quả vải được đưa đến Trường An bởi các chàng thiện kỵ.
Bài thơ này quá hay nên trong thư tịch Trung Hoa, hễ nói đến lệ chi (quả vải) hoặc nói đến Dương Quý Phi là người ta lại nhắc đến nó. Người ta đã dùng ba chữ “phi tử tiếu “ để dặt tên cho một nòi vải ngon ở Quảng Đông, mà chúng tôi đã nói ở mục Tìm hiểu về cây vải ở trên.
Đương nhiên, chỉ những người nhẹ dạ mới vội coi thơ văn, ca dao, truyền thuyết là bằng chứng lịch sử. Nhưng trong trường hợp này, người ta tin vào lời thơ của Đỗ Mục. Ông là một nhà thơ nổi tiếng, đã từng đỗ tiến sĩ, nhưng không phải vì thế mà người ta tin vào lời thơ của ông. Cũng không phải vì ông là cháu nội của Đỗ Hựu (735-812), một vị tể tướng, một nhà sử học từng viết bộ sách Thông điển nổi tiếng gồm hai trăm quyển! Lý do chủ yếu là, lời thơ của ông có cơ sở thực tế. Qua lời ông, người ta hiểu rằng, quả vải được đưa tới tay Dương Quý Phi bằng ngựa vốn được dùng để chuyển công văn hoả tốc lần lượt từ trạm này sang trạm khác, liên tục ngày này qua ngày khác. Hệ thống “dịch trạm” (trạm chuyển công văn hoả tốc) đã có từ xa xưa và đã được hoàn thiện từ thời nhà Tuỳ (581-617) nên vua nhà Đường có thể sử dụng một cách thuận lợi..
Tuy vậy, chúng tôi không sử dụng bài thơ này làm bằng chứng để phản bác luận cứ của các nhà sử học, bởi vì, không thể coi thơ văn là sử liệu, mà phải tra cứu các bộ sách lịch sử viết về triều đại nhà Đường, trước hết là Cựu Đường thư và Tân Đường thư, để xác minh mối liên quan giữa Dương Quý Phi và “nạn cống vải” ở thời Mai Thúc Loan mà các nhà sử học “tai mắt” hiện nay đã khẳng định.
Cựu Đường thư là một bộ sách biên khảo lịch sử về triều đại nhà Đường (618 -907) gồm 200 quyển, hoàn thành năm 945, triều Hậu Tấn (936 - 947), do tể tướng Lưu Hú 劉昫 (887 - 946) giám tu - tức là chủ biên Ban đầu, nó có tên là Đường Thư, nhưng, đến năm 1060, thời Bắc Tống, nó bị thay thế bởi một bộ sách mới có tên là Tân Đường Thư do Âu Dương Tu và Tống Kỳ chủ biên. Từ đó trở đi, sách Đường Thư được gọi là Cựu Đường Thư và không được in lai nữa. Mãi cho đến năm Gia Tĩnh thứ 10 (1538) triều Minh,bộ sách này được học giả Văn Nhân Thuyên biên tập lại và ông nhận thấy nó cũng rất có giá trị nên đã cho in lại. Từ đó đến nay, nó được nhiều người tham khảo và được xếp vào “nhị thập tứ sử”, nghĩa là trở thành một trong 24 bộ sách lịch sử chính thức ở Trung Quốc.
Trong Cựu Đường thư, hành trạng của Dương Quý Phi được ghi ở cuối quyển 55, tức là quyển thứ nhất của phần Liệt truyện (sau các phần Bản kỷ và Chí), có tên là Hậu phi thượng, là quyển thứ nhất của đoạn viết về các hoàng hậu và hoàng phi. Ở đây không có dòng nào nói về việc cung cấp quả vải tươi cho Dương Quý Phi. Nhưng chúng ta không vì thế mà kết luận là không có việc cống nạp quả vải cho Dương Quý Phi ăn. Còn phải tiếp tục tím sử liệu ở những chỗ khác nữa.
May mắn thay, Tân Đường thư có chép về việc này. Trong đoạn nói về Dương Quý Phi (quyển 76, cũng là quyển thứ nhất của phần Liệt truyện và cũng có nhan đề là Hậu phi thượng), có một câu như sau: 妃嗜荔支,必欲生致之,乃置骑传送,走数千里,味未变已至京师. (Phiên âm: Phi thị lệ chi, tất dục sinh trí chi, nại trí kỵ truyền tống, tẩu sổ thiên lý, vị vị biến dĩ chí kinh sư), Nghĩa là: (Dương Quý) Phi thèm lệ chi nên muốn có quả tươi mang đến, (vua) bèn sai kỵ sĩ đưa về, đi hàng ngàn dặm, đến kinh đô mà huơng vị vẫn nguyên.
Như vậy, cái cảnh “nhất kỵ hồng trần Phi tử tiếu (Bụi hồng ngựa ruổi, Phi cười nụ) trong thơ của Đỗ Mục đã được Tân Đường Thư xác nhận là một sự thật lịch sử. Đúng là Dương Quý Phi rất thich ăn quả vải nên Đường Minh Hoàng đã tìm mọi cách đưa quả vải thật tươi về Trường An để thỏa lòng mong ước của giai nhân này. Nhưng cách thực hiện của Đường Minh Hoàng là dùng sức của những con tuấn mã và của các kỵ sĩ. Mà như thế thì làm gì có chuyện Mai Thúc Loan và đồng bào của ông phải đi phu gành vải từ Hoan Châu sang tận kinh đô Trường An?
Nhiều học giả Trung Quốc, trong đó có Tô Thức, cho rằng, cây vải có mặt ở Tứ Xuyên sớm hơn ở Phúc Kiến, và Dương Quý Phi đã ăn loại quả vải ở Tứ Xuyên là chính, vì từ Tứ Xuyên đến Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây, tiếp giáp tỉnh Tứ Xuyên) thì gần hơn rất nhiều so với từ Quảng Đông hay Phúc Kiến.
Trong chùm thơ Giải muộn của Đỗ Phủ gồm 12 bài mà chúng tôi vừa nhắc đến ở mục “Tìm hiểu về cây vải”, ở bài thứ 9, ông đã gián tiếp xác nhận việc đưa quả vải từ phương xa về cho Dương Quý Phi, và cho biết rằng, sau khi Dương Quý Phi (719 - 756) và Đường Minh Hoàng (685 - 862) qua đời, quả vải tươi vẫn được mang đến để phục vụ cho cung đình nhà Đường.
Tiên đế, Quý phi kim tịch mịch,
Lệ chi hoàn phục nhập Trường An
Viêm phương mỗi tục chu anh hiến
Ngọc tọa ưng bi bạch lộ đoàn
Tạm dịch:
Tiên đế, Quý phi, tuy đã khuất
Lệ chi vẫn cứ nhập Trường An.
Mỗi độ phương xa dâng quả hiếm
Điện ngọc nên thương kẻ nhọc nhằn.
Cần biết rằng, Đỗ Phú (712 - 770) ra đời trước Dương Quý Phi 7 năm, mất sau bà này 14 năm, và ông đã sống ở Trường An hơn 10 năm, trùng với thời gian ân ái mặn nồng giữa Dương Quý Phi và Đường Minh Hoàng, rồi ông cũng theo hai vị ấy chạy loạn An - Sử. Bởi vậy, bài thơ này cùng với bài thơ của ông mà chúng tôi đã nêu ở mục trước đều có giá trị sử liệu rất cao.
Nhìn vào năm sinh của Dương Quý Phi (năm 719) quý vị độc giả sẽ thấy ngay một điều buồn cười là, khi Mai Thúc Loan bại trận thì bà này mới 3 tuổi, và khi bà ta trở thành sủng phi của Đường Minh Hoàng (năm 744) thì Mai Thúc Loan đã chết từ 22 về trước. Thế mà các nhà sử học ưu tú của chúng ta dám coi bà như là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến cuộo khởi nghĩa của Mai Thúc Loan!, và họ tin rằng, "từ sau cuộc khởi nghĩa lớn lao này, nhà Đường không dám bắt nhân dân ta nộp cống vải quả hàng năm nữa" (Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh, Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H.1991, trang 287). Quả là một chuyện hài hước!
VI. Có thể gánh quả vải từ Hoan Châu đến Trường An hay không?
Ở Nghệ An và Hà Tĩnh (mà xưa gọi là Hoan Châu), quả vải vừa hiếm lại vừa chua, điều đó thì ai cũng biết. Nhưng cũng có nhà sử học cãi rằng, ngày nay thì như vậy, nhưng ở thế kỷ 8 thì Nghệ An là “đất vải”, bài hát chầu văn và bài thơ mà các giáo sư sử học đã nêu chẳng phải là minh chứng rành rành đó sao?
Vâng, cứ tạm cho rằng, vì một nguyên nhân nào đó mà khoa học hiện nay chưa thể giải thích được, Hoan Châu hồi thế kỷ 8 là nơi sản sinh quả vải rất nhiều và rất ngon, và chúng ta cũng bỏ qua câu chuyện hoang đường về việc Dương Quý Phi đã ăn những quả vải Nghệ An do Mai Thúc Loan và những người đồng hương của ông gánh sang. Chúng ta cũng bỏ qua cả sự thực là, miền nam Trung Quốc là quê hương của cây vải trên toàn thế giới, rồi tưởng tượng rằng, quả vải ở Nghệ An có những phẩm chất đặc biệt mà ngót trăm nòi vải ở Trung Quốc không có, cho nên Dương Quý Phi phải đòi cho được thứ quả vải này. Nhưng hãy đặt câu hỏi: liệu có thể gành quả vải từ Hoan Châu đến Trường An hay không?
Trong những năm gần đây, nòi vải thiều ở huyên Thanh Hà tỉnh Hải Dương đã phủ xanh vùng đồi núi huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Nhờ vậy, cứ đến mùa vải chín, trên đường phố Hà Nội đâu đâu cũng thấy quả vải, tha hồ ăn. Nhưng, quả vải rất khó bảo quản, nhiều khi bán không kịp, phải vất đi vì ôi thiu, để rồi vài ngày sau đó thì hết vụ, lại không có mà ăn. Quả vải Thanh Hà và Lục Ngạn được tiêu thụ ở Hà Nội là chính. Nếu đưa nhiều vào miền trung hoặc miền nam thì nhiều khi chưa kịp bán, quả vải đã biến chất, không còn giá trị gì nữa. Ngày nay, tuy có ô tô, máy bay, máy ướp lạnh, và nhiều biện pháp kỹ thuật khác mà việc bảo quản và tiêu thụ quả vải tươi vẫn là việc rất khó khăn. Vậy mà từ đầu thế kỷ 8, từng đoàn dân phu hàng ngàn người đã gánh quả vải tươi từ châu Hoan sang tận kinh đô Trường An được ư?
Quãng đường từ Nghệ An đến Trường An, chỉ tính trên bản đồ cũng dài không dưới 4000km, còn trên thực tế thí phải hơn 6000km. Sức người thì có hạn, dù bị bức bách cưỡng ép cũng không thể đi bô được 50km mỗi ngày liên tục. Kinh nghiệm trong mấy cuộc chiến tranh vừa qua cho thấy rằng, những thanh niên khoẻ mạnh mà không phải mang vác gì cả, lúc đầu có thể đi được chừng 30-35km trong một ngày nhưng về sau thì khó vượt nổi 30km/ngày. Còn những người dân phu như Mai Thúc Loan thi chỉ đi được 30km/ngày trong vài ngày đầu tiên, và nếu họ cứ khoẻ như vâm chứ không bị chết dọc đường và không bị ốm ngày nào thì cũng phải mất vài trăm ngày mới lê bước tới đất Trường An, và phải mất hơn một năm mới lê có thể lê gót về nhà. Chưa kể là họ lấy gì mà ăn để đi đường. Dầm mưa dãi gió nhiều tháng trời nhu thế thì củi tuơi cũng mục nát hết, nói gì đến quả vải. Quả vải từ Nghệ An chưa ra đến Hà Nội thì đã thối rồi, lám sao có thể đi tiếp hơn sáu tháng nữa để đưa tới miệng Dương Quý Phi?
Như vậy, việc vận chuyển quả vải tươi về Trường An chỉ có thể được thực hiện bằng sức ngựa, đúng như Tân Đường Thư đã ghi và thi nhân Đỗ Mục đã viết. Chúng ta hãy làm một phép tính hoàn toàn dựa theo “lý thuyết suông” như sau.
Tốc độ kỷ lục của ngựa hiện nay là 69km/giờ. Các chú “dịch mã” (ngựa của dịch trạm) đều được tuyển chọn rất kỹ, có lẽ đủ sức chạy với tốc độ 30 km/giờ trong vài giờ liên tục. Cứ mỗi ngày-đêm (24 giờ), thời gian vận chuyển quả vải có thể đến 20 giờ nhờ 7-8 con ngựa chạy tiếp sức nên có thể vượt được quãng đường dài 600-700km. Quả vải thì có thể lấy ở Quảng Đông, cách Trường An dài hơn 2000km. Như vậy, cũng phải mất chừng 4 ngày thì quả vải hái từ trên cây mới có thể tới miệng Dương Quý Phi.
Tuy nhiên, để bảo đảm cho quả vải từ phương xa về tới Trường An kịp thời và không bị dập nát, mỗi con ngựa chỉ chở được ít thôi, và các chùm vải phải được bọc lót thật cẩn thận. Việc chuyên chở quả vải với biết bao khó khăn vất vả chỉ cốt để thoả mãn sự đòi hỏi của Dương Quý Phi. Họạ chăng, một số người thân cận Dương Quý Phi mới được “ăn theo” mà thôi. Nghĩ đến cảnh cả một hệ thống dịch trạm phải ngày đêm vất vả để đáp ứng đòi hỏi ngông cuồng của một người đàn bà, Đỗ Mục liền phác hoạ thành bài thơ nổi tiếng. Chính vì nói lên nghịch cảnh đó nên bài thơ này mới được người đời sau nhắc tới mỗi khi nói đến quả vải hoặc nói đến Dương Quý Phi. Nếu quả vải được chở về đủ cho văn võ bá quan đều được ăn thì Dương Quý Phi cũng ăn là lẽ đương nhiên và là điều quá bình thường, hẳn Đỗ Mục chẳng thấy có gì lạ để làm thơ, mà nếu có làm (hẳn ông phải đổi “nhất kỵ hồng trần” thành “bách kỵ hồng trần”) thì cũng chẳng ai nhắc đến.
Theo cách tính toán dựa trên “lý thuyết suông” của chúng tôi thì quả thật là người và ngựa rất khó có thể chịu đựng được cường độ làm việc như thế, Bởi vậy, nhà thơ Tô Thức, một một học giả lớn, cũng là một ông quan lớn thời Bắc Tống, với rất nhiều kinh nghiệm thực tế, cũng chưa tin hẳn rằng, những quả vải mà Dương Quý Phi ăn là được chở từ Quảng Đông, tuy là bằng ngựa kế tiếp nhau.
Tóm lại, việc Dương Quý Phi (và cả các triều đại phong kiến Trung Quốc trước và sau bà ta) bắt thuộc hạ của mình chuyên chở quả vải từ phương xa về cho mình ăn là điều đã được ghi chép trong sử sách. Quả vải để cung phụng cho Dương Quý Phi được lấy ở miền nam Trung Quốc, có thể là từ Quảng Đông, Phúc Kiến hoặc Tứ Xuyên và hoàn toàn chẳng liên quan gì đến Hoan Châu hoặc An Nam. Việc chuyên chở quả vải tươi được thực hiện bằng ngựa chạy từng quãng tiếp nối nhau qua các trạm chứ không phải bằng sức gồng gánh của nông dân “đi một mạch”, dù là ở trên đất Trung Quốc..
VII. Kết luận
Đến đây, chúng tôi đã bác bỏ hoàn toàn mọi luận cứ mà giới sử học đã sử dụng để khẳng định rằng “nạn cống vải” là nguyên nhân trực tiếp dấn đến Khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Cụ thể là, theo sự khẳng định của các giới sử học thì:
1. Quả vải là một đặc sản chỉ ở Việt Nam mới có, Trung Quốc không có nên triều đình bên ấy phải lấy quả vải từ nước ta về ăn. Vùng Hoan Châu (Nghệ - Tĩnh) thời thuộc Đường là nơi có quả vải ngon nhất và nhiều nhất nên phải hứng chịu “nạn cống vải”.
2. Dương Quý Phi - người đàn bà được Đường Huyền Tông sủng ái nhất - rất thích ăn quả vải, vì vậy, ông vua này bắt nhân dân Hoan Châu phải gánh sang kinh đô Tràng An nộp cống để cung cấp cho bà ta.
3. Mai Thúc Loan là một trong hàng ngàn dân phu phải gánh vải nộp cống, và, khởi đầu từ một hành động chống đối bột phát, ông đã trở thành lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa giành độc lập hồi đầu thế kỷ 8.
4. Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan tuy bị dập tắt nhanh chóng, nhưng nó đã làm cho “nạn cống vải” phải chấm dứt.
Nhưng chúng tôi đã bác bỏ tất cả những điều đó và đã chứng minh được những điều ngược lại:
1. Quả vải là đặc sản của miền nam Trung Quốc. Nước ta tuy có quả vải nhưng không ngon bằng và cũng không nhiều. Quả vải ở Hoan Châu càng ít và chua, vải thiều ở Hải Dương là giống của Trung Quốc, mới xuất hiện ở Hải Dương từ những năm cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20.
2. Dương Quý Phi thích ăn quả vải, nhưng bà này sinh năm 719, mà khởi nghĩa Mai Thúc Loan bị dập tắt năm 722, nên không thể có việc Mai Thúc Loan đi cống vải để cho Dương Quý Phi ăn.
3. Mai Thúc Loan và đồng bào của ông không thể gánh quả vải sang Tràng An vì đường quá xa (hơn 4000km - theo đường thẳng), nếu đi được thì phải mất ít nhất là 6-7 tháng, mà quả vải thì chỉ sau dăm ngày đã hỏng.
4. Sau khi khởi nghĩa Mai Thúc Loan bị dập tắt, Dương Quý Phi vẫn ăn vải, có nghĩa là “nạn cống vải” vẫn còn, chứ không phải đã chấm dứt như các nhà sử học đã khẳng định. Tuy nhiên, “nạn cống vải” ở đây hoàn toàn không giống như đã được mô tả trong các sách lịch sử ở nước ta trong hơn 50 năm vừa qua, bởi vì, quả vải thí lấy từ miền nam Trung Quốc, được các kỵ sĩ chở đến lẻ tẻ, không có chuyện hàng ngàn người (dù là trên đất nhà Đường) còng lưng gánh vải lũ lượt đi một mạch đến Trường An như các nhà sử học của chúng ta đã khẳng định.
Những điều mà chúng tôi vừa chứng minh đã cho thấy rõ rằng, tất cả mọi luận cứ của các nhà sử học về “nạn cống vải” đều hoàn toàn bịa đặt theo ý muốn của họ cho phù hợp với những truyền thuyết, những câu thơ, những bài vè ca tụng công lao của Mai Thúc Loan mà các nhà sử học cho là “cứ liệu lịch sử” xác thực. Họ yên tâm rằng mình đã “phát hiện được nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan”, chỉ cần phải bịa thêm một số nguyên do, vài ba chứng cứ để có thêm sức thuyết phục và cũng tỏ ra là có nghiên cứu kỹ lưỡng, thế là ổn. Sự bịa đặt này là điều không thể chấp nhận được, là điều tối kỵ trong công tác nghiên cứu khoa học. Tuy vậy, còn có thể tha thứ một phần nếu chúng ta nghĩ rằng các tác giả của nó vốn quen tính hấp tấp, mang nặng tính chủ quan nên đã tự che lấp lý trí sáng suốt, và có thể tạm biện bạch cho họ bằng sự “nhầm lẫn đáng tiếc”. Nhưng, đến cái việc tự bịa đặt cứ liệu lịch sử, dám viết trong sách rằng, “Theo sử cũ (Đường thư, Dương Tư Húc truyện), vào đầu thời Khai Nguyên vào một năm được mùa vải tươi, Mai Thúc Loan bị bắt làm phu gánh vải đi cống cho triều Đường” (Lịch sử Hà Tĩnh, trang 108, tập 1; NXB Chính trị Quốc gia, H.2000; các tác giả gồm có: Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, Hà Văn Tấn, Trương Hữu Quýnh, Hoàng Văn Khoán, Ngô Đăng Tri và 3 người khác) thì thật là quá sức tưởng tượng của nhiều người. Chúng tôi đã cực lực phê phán sự bịa đặt này trong bài Tác giả LMC đã trả lời trên báo Người Đại biểu Nhân dân (số 240 và 241, ngày 7, 8/12/2005), trong bài Chớ nên bịa đặt cứ liệu lịch sử, đăng trên báo Người Đại biểu Nhân dân (số 240 và 241, ngày 7, 8/12/2005).
Một sai lầm nghiêm trọng nữa là giới sử học đã coi “nạn cống vải” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Vị anh hùng Mai Thúc Loan từng lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa có quy mô to lớn khiến bọn xâm lược phải hốt hoảng, lại được các nhà sử học “dày công nghiên cứu” để rồi “phát hiện” chính ông là một trong hàng ngàn “dân phu tưởng tượng” phải đi gánh những sọt quả vải tươi ảo, đi bộ đến kinh đô Trường An cách xa hàng vạn dăm để cống nạp cho Dương Quý Phi ăn, thế rồi ông “phẫn chí” nổi lên khởi nghĩa. Họ dám tầm thường hóa, hạ thấp giá trị của vị anh hùng dân tộc đến thế ư?.
Vấn đề mà chúng tôi đang thảo luận ở đây có liên quan đến sự hiểu biết về lịch sử dân tộc, đến việc trang bị tri thức lịch sử cho mọi người Việt Nam, nhất là cho các thế hệ học sinh, sinh viên. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu Hội Khoa học Lịch sử sớm phản bác nếu có thể (tuy đã muộn mất 6 năm) hoặc nếu không phản bác được, nghĩa là những kết luận mà chúng tôi vừa nêu là đúng, thì Hội hãy thẳng thắn xin lỗi toàn dân, công bố rộng rãi trước công luân, sửa ngay sai lầm này trong sách giáo khoa lịch sử. Xin quý vị hội viên và ông chủ tịch Hội theo sát 4 điểm vừa được tổng kết ở đây để đánh giá điểm nào đúng, điểm nào sai, cố gắng bình tĩnh, đừng “chơi bẩn”, đừng nên loay hoay giở trò chứng minh rằng “nước ta cũng có quả vải” hay “Nghệ An cũng có quả vải”, thậm chí “rất có thể ở Nghệ Tĩnh trước đây có quả vải rất nhiều và rất ngon”, coi đó là cách gián tiếp “phản bác” lý lẽ của chúng tôi như gần đây có vài người đã viết trên vài tờ báo hoặc tạp chí và cả trên mạng Internet.
[1] Thiều Châu là tên một phủ cũ ở tỉnh Quảng Đông, giải thể năm 1911, địa phận gao gồm các huyện; Khúc Giang, Lạc Xương, Nhân Hoà, Nam Hùng, Ông Nguyên, và thành phố Thiều Quan hiện nay. Không nên nhầm lẫn Thiều Châu với Triều Châu, cũng thuộc tỉnh Quảng Đông.
Kì 2
VII. Một số sai lầm xui khiến giới sử học đẻ ra “nạn cống vải”
1. Coi truyền thuyết, ca dao, thơ văn... là bằng chứng lịch sử
Dựa vào những câu hát chầu văn và bài thơ ca ngợi công ơn của Mai Thúc Loan mà các nhà sử học hiện thời đã sưu tầm được ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, họ đã đồng loạt coi chúng là bằng chứng về việc bọn quan lại nhà Đường bắt dân ta phải gánh quả vải tươi sang kinh đô Trường An để nộp cống. Mặc nhiên, họ đã vội coi thơ văn hoặc truyền thuyết là bằng chứng lịch sử, là chỗ dựa cho “phát kiến” khoa học của họ.
Cần phải biết rằng, truyện cổ tích, truyền thuyết, ca dao, thơ văn v.v... có thể gợi ý cho nhà sử học trên đường tìm tòi phát hiện sự thật lịch sử, nhưng không thể coi chúng là sự thật lịch sử. Khi đã tìm ra sự thật lịch sử phù hợp với nội dung của truyện cổ tích, truyền thuyết, ca dao hoặc thơ văn, thì những thứ này có tác dụng rất tốt để minh hoạ cho việc giảng dạy và truyền bá kiến thức lịch sử, giúp cho bài học lịch sử trở nên sinh động, có hồn, thấm sâu vào lòng người. Nếu không phản ánh sự thật lịch sử thì chúng vẫn cứ là ca dao, thơ văn… và vẫn rất có giá trị nếu chúng có lời hay ý đẹp, chứa đựng những giá trị nhân văn hoặc những tri thức khác. Kể cả thơ văn và tác phẩm quan trọng của những nhân vật nổi tiếng cũng vậy, vẫn có thể không sát đúng với sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm văn học nổi tiếng đã mượn đề tài lịch sử để chuyển tải ý tưởng của tác giả chứ không ghi chép sự kiện lịch sử mộtc cách chính xác. Đối với những sự việc được các nhân vật nổi tiếng nhắc đến trong một tác phẩm về một chủ đề nào đó không phải là lịch sử thì nhà sử học nghiêm túc cũng không thể coi chúng là cứ liệu lịch sử đáng tin cậy. Xin nêu một ví dụ.
Chúng ta biết rằng, Dương Quý Phi có tên là Dương Ngọc Hoàn, nguyên là vợ của Thọ Vương Lý Mạo, con trai thứ 18 của Đường Minh Hoàng. Năm 25 tuổi, bà xuất gia làm nữ đạo sĩ (tu sĩ của Đạo giáo, mà ở ta thường gọi là đạo Lão), với pháp danh là Thái Chân, để từ đó bước vào hậu cung của Đường Huyền Tông cho khỏi mang tiếng loạn luân. Chẳng bao lâu, bà được phong làm Quý Phi, địa vị chỉ kém hoàng hậu một bậc nhưng được hưởng thụ và sủng ái hơn hẳn hoàng hậu. Lai lịch của bà ta như thế, ai cũng biết, nhưng ở bài Trường hận ca, một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Bạch Cư Dị, nhà thơ vĩ đại này đã viết, nguyên văn bằng chữ Hán, như sau:
汉皇重色思倾国,
Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc
御宇多年求不得。
Ngự vũ đa niên cầu bất đắc
杨家有女初长成,
Dương gia hữu nữ sơ trưởng thành
养在深闺人未识
Dưỡng tại thâm khuê nhân vị thức
天生丽质难自弃
Thiên sinh lệ chất nan tự khí
一朝选在君王侧。
Nhất triêu tuyển tại quân vương trắc.
..............
Nhà thơ Tản đà đã dịch như sau:
Đức vua Hán mến người khuynh quốc,
Trải bao năm tìm chuốc công tai.
Nhà Dương có gái mới choai,
Buồng xuân khoá kín chưa ai bạn cùng.
Lạ gì của tuyết đông ngọc đúc,
Chốn ngai vàng phút chốc kề bên.
Cứ theo lời thơ này thì trước khi vào cung, Dương Ngọc Hoàn là cô gái đồng trinh. Bạch Cư Dị (772-864) là một nhà thơ vĩ đại có học vấn uyên bác, từng đỗ tiến sĩ, kém Dương Quí Phi 53 tuổi. Hẳn ông chẳng lạ gì lai lịch của bà ấy. Trong bài thơ nổi tiếng này, chủ yếu ông chê trách thói ăn chơi hưởng lạc hiếu sắc của Đường Minh Hoàng để đến nỗi sắp sụp đổ cơ đồ, và ông có phần thương xót cho số phận của Dương Quý Phi khi bà bị quân lính và các tướng lĩnh đổ tội rồi bắt phải thắt cổ ở Mã Ngôi. Vì vậy, ông bỏ qua những nét không đẹp trong lý lịch của bà ta để khỏi làm mờ nhạt chủ đích của bài thơ. Mọi người đều coi đây là một kiệt tác của Bạch Cư Dị và không ai chê trách ông về việc viết không đúng tiểu sử của Dương Quý Phi, bởi vì đây là bài thơ chứ không phải là bài giảng lịch sử.
Nay chúng ta hãy trở lại những câu hát chầu văn sưu tầm được ở Nam Đàn:
Sâu quả vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đã héo hon.
Các sách giáo khoa lịch sử ở Việt Nam hiện nay đều coi đây là bằng chứng về việc nhân dân châu Hoan, trong đó có Mai Thúc Loan, phải làm phu gánh vải sang kinh đô Trung quốc để nộp cống. Thực ra, tác giả của những câu này đã lấy ý từ thơ của Đỗ Mục và vẫn giữ nguyên nhóm từ “ngựa hồng trần” chứ không hề nói đến đoàn dân phu còng lưng gánh quả vải. Tác giả sử dụng lời thơ của Đỗ Mục như một điển tích, phải biết điển tích đó thì mới hiểu được ý của hai câu hát chầu văn này là: người dân phải vạch lá tìm sâu để chọn những quả vải thật ngon, rồi con ngựa thì phải phi nhanh đến kiệt sức để đưa những quả vải ấy về Trường An. Nếu không biết bài thơ của Đỗ Mục thì không thể hiểu được mấy câu hát chầu văn kia. Tôi đã đem những câu ấy đọc cho hơn một chục người nghe, tuổi từ 60 đền 70, có vị là đại tá kỹ sư, có vị là tiến sĩ, ba vị là giảng viên văn hoc, các vị khác đều tốt nghiệp đại học trở lên và đều giàu kinh nghiệm xã hội, nhưng không một ai cắt nghĩa được. Vậy mà trong sách Hỏi đáp lịch sử 6 của Trương Hữu Quýnh (Nxb Giáo dục, H.2002), ở cuối trang 63 có câu hỏi và câu trả lời như sau:
- Hỏi: Theo em, những câu nào trong bài hát chầu văn (trong SGK) nói lên nỗi khổ của dân ta?
- Đáp:
Sâu quả vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đã héo hon.
Khi giảng đến những câu này, không biết các thầy giáo hoặc cô giáo có giảng về điển tích lấy từ thơ của Đỗ Mục hay không? Hẳn là không, bởi vì các nhà sử học tai mắt vốn là bậc thầy của các cô còn chưa biết bài thơ quá nổi tiếng của Đỗ Mục thì làm sao mà các cô biết đựợc? Sao họ dám khẳng định rằng, đây là bằng chứng về việc chính quyền nhà Đường bắt từng đoàn dân phu hàng ngàn người còng lưng gánh vải sang Trung Quốc? Ở đây chỉ nói đến ngựa chứ có nói gì đến dân phu đâu?. Hơn nữa, đây là những câu hát chầu văn, sao có thể coi là sử liệu? Thật là một kiểu suy luận “lấy dược”, rất gượng ép. Phải chăng, câu hỏi và câu giải đáp này chỉ cốt bắt học sinh lại như con vẹt để lấy điểm?
LMC,
(còn tiếp)
Nguồn: phongdiep.net |