tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
13.09.2009
Lê Mạnh Chiến
Bác bỏ việc coi nạn cống vải là nguyên nhân khởi nghĩa Mai Thúc Loan (3)

Những câu thơ: Đường đi cống vải từ đây dứt, - Dân nước đời đời hưởng phúc chung đã được các nhà sử học dụng làm bằng chứng để dứt khoát khẳng định “sự thật” về “nạn cống vải”. Những câu thơ này cùng với những câu hát chầu văn kia đều không có lai lịch rõ ràng, và  cùng xuất phát từ một nguồn, mà rất có thể là của cùng một tác giả. Chúng  không độc lập với nhau, làm sao có thể dùng cái này để khẳng định cái kia?


 


Chính vì không thể lấy “cứ liệu lịch sử” từ các truyền thuyết, ca dao, thơ văn và những sách vở không  phải là chính sử, cho nên ở các phần trên kia, tuy chúng tôi đã  viện dẫn các bài thơ của Đỗ Phủ và của Đỗ Mục nói rõ mối liên quan giữa quả vải và Dương Quý Phi, nhưng không hề căn cứ vào đó để kết luận về việc “cống quả vải” theo yêu cầu của bà ta, mà chúng tôi phải tìm sự xác nhận về việc đó trong Tân Đường thư. Không phải hễ thấy ai viết điều gì phù hợp với ý của mình thì cứ vớ lấy điều đó làm chứng cứ, làm chỗ dựa.  Đấy không phải là cách nghiên cứu lịch sử nghiêm túc.


 


         Cũng xin nói thêm rằng, ở Trung Quốc, mọi sách lịch sử đều do những học giả uyên bác bậc nhất biên soạn, thường là theo sự giao phó của nhà vua ở triều đại sau để viết về lịch sử của triều đại trước đó. Những người đảm đương việc biên soạn sách lịch sử hầu hết đều có trách nhiệm rất cao, họ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước xã hội đương thời và với hậu thế; họ đặt tất cả giá trị, danh dự của bản thân, của gia tộc, của con cháu vào đó. Vả lại, họ viết về triều đại đã qua nên không chịu áp lực của chính quyền đương thời, do đó, bảo đảm được tính khách quan cần thiết. Hơn nữa, sách của họ để lại còn phải qua sự sàng lọc, qua sự xác nhận của đời sau thì mới tồn tại được. Cho nên, những bộ sách lịch sử được xếp vào hàng “Nhị thập tứ sử” đều có độ tin cậy rất cao. Đó là 24 bộ sách lịch sử chính thức của các triều đại Trung Quốc (được xác nhận từ các triều đại trước cho đến năm Càn Long thứ 4, tức là năm 1739, nhà Thanh),  thứ nhất là bộ Sử ký của Tư Mã Thiên  và thứ 24 là bộ Minh sử, tức là lịch sử của nhà Minh do người đời Thanh là Trương Đình Ngọc biên soạn.


 


Trên kia, chúng tôi có nói đến Cựu Đường thư (ban đầu có tên là Đường thư), vốn là một bộ sử chính thức  nhưng khi Tân Đường thư ra đời (từ đó nó được gọi là Cựu Đường thư) thì nó không được coi là một bộ sử chính thức nữa, cho đến  năm Gia Tĩnh thứ 10 (1538) triều Minh, nó mới được các học giả nổi tiếng đánh giá lại và được coi là một bộ  sách lịch sử chính thức, ngang hàng với Tân Đường thư. Vì nhận thấy bộ sách Nguyên sử (bộ thứ 23 trong Nhị thập tứ sử) vẫn còn thiếu sót, nên năm 1917, Kha Thiệu Mân (1848 - 1933) biên soạn sách Tân Nguyên sử để bổ khuyết, đến năm 1920 thì hoàn thành và sang năm 1921 thì được Đại tổng thống Trung Hoa Dân quốc thời bấy giờ là Từ Thế Xương quyết định cho đứng vào hàng chính sử, trở thành bộ sư thứ 25 trong “Nhị thập ngũ sử”. Tuy nhiên, điều đó không được giới học thuật và xã hội chấp nhận. Ngoài ra, còn có Triệu Nhĩ Tốn (1844 – 1927) biên sọan sách Thanh sử cảo để ghi chép lịch sử nhà Thanh nhưng cũng không được coi là chính sử. Vì vậy, cho đến nay ở Trung Quốc người ta vẫn chỉ thừa nhận “Ngũ thập tứ sử”, và bộ chính sử cuối cùng vẫn là Minh sử.


 


Qua câu chuyện này, ta thấy các nhà sử học hàng đầu ở nước ta hiện nay đã quá dễ dãi, quá tùy tiện, thiếu trách nhiệm khi viết về lịch sử dân tộc đến mức nào.


 


2. Hiểu sai nghĩa của các địa danh lịch sử có liên quan đến Việt Nam do chính quyền phong kiến Trung Hoa đặt ra


 


Có lẽ  mọi người Việt Nam ở độ tuổi trưởng thành, ai cũng từng nghe nói đến các địa danh lịch sử do chính quyền phong kiến Trung Hoa đặt ra và có liên quan đến nước ta, như Giao Chỉ, Giao Châu, Lĩnh Nam, v.v... Tuy vậy, rất ít người hiểu đúng nghĩa của các địa danh này. Chẳng hạn, Giao Chỉ được hiểu là tên do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam thời xưa. Hiểu như thế thì chỉ đúng được một chút nhỏ mà thôi, và nói chung là sai. Sở dĩ có cách hiểu hời hợt và phiến diện như vậy là vì suốt một thời gian dài trước đây rất thiếu công cụ để tra cứu nên cách hiểu đơn giản ấy mặc nhiên đi vào đầu óc của mọi người, không ai phân vân gì cả. Đến giữa thế kỷ 20, công cụ tra cứu càng ngày càng nhiều, muồn hiểu rõ các địa danh ấy thì chẳng khó khăn gì nhưng tuyệt đại đa số mọi người đều tự coi như mình đã biết rồi nên không mấy ai tra cứu lại, kể cả các nhà sử học hàng đầu. Cứ xem cách họ giảng giải trong Từ điển Bách khoa Việt Nam về Giao Chỉ thì rõ: GIAO CHỈ: tên do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam thời xưa. Thời Hùng Vương, GC là một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Trong thời Bắc thuộc, GC là một quận thuộc Giao Châu, tương đương với vùng Bắc Bộ, đứng đầu là một thái thú. Cùng với Cửu Chân và Nhật Nam ở trên địa bàn nước Việt Nam ngày nay. Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên GC, cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt. Nhà Minh diệt họ Hồ, chiếm Đại Việt, đặt lại tên quận GC, sáp nhập vào Trung Quốc.


 


Đã biết rằng, GIAO CHỈ là tên do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam thời xưa mà lại giảng giải theo cách hiểu của mình, không tra cứu sách vở của Trung Quốc thì quả là chưa biết làm việc, phạm sai lầm là lẽ đương nhiên.


 


Về tên gọi Giao Chỉ, từ điển Từ hải (ấn bản năm 1989 và 1999)  của Trung Quốc nêu ra 6  nghĩa:


1. Tên một vùng đất cổ, phiếm chỉ (chỉ chung chung, không quy đinh ranh giới cụ thể) vùng phía nam Ngũ Lĩnh. Như vậy, Giao Chỉ là tên gọi phiềm chỉ vùng đất trong phạm vi  các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc và địa phận nước ta thời xưa.


 


2. Tên của một trong 13 thứ sử bộ (còn gọi là 13 bộ hoặc 13 châu, mỗi bộ có một viên thứ sử đứng đầu, 13 bộ này là do Hán Vũ Đế thiết lập), địa phận của bộ Giao Chỉ tương đương đại bộ phận Quảng Đông, Quảng Tây, Bắc Bộ và Trung Bộ của Việt Nam. Thời Đông Hán (25 - 220), Giao Chỉ được đổi thành Giao Châu.


 


Cũng theo từ điển Từ Hải, năm Nguyên Phong thứ 5, đời Hán Vũ Đế (tức là năm 106 trước Công nguyên), để tăng cường chế độ tập quyền trung ương, trừ 7 quận phụ cận kinh sư, ông vua này đã chia cả nước thành 13 vùng là: Dự Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Ký Châu, U Châu, Tinh châu, Lương Châu, Ich Châu, Kinh Châu, Dương Châu, và Giao chỉ, Sóc Phương (phương bắc), gọi là 13 thứ sử bộ (còn gọi là 13 bộ hoặc13 châu), mỗi nơi đặt một thứ sử. Thời Đông Hán, nhập Sóc Phương với Tinh châu, đổi Giao Chỉ thành Giao Châu.


 


       3. Tên quận thời xưa, do Triệu Đà, vua  nước Nam Việt đặt ra từ thế kỷ 2 trước Công nguyên, địa phận tương đương  Bắc Bộ của Việt Nam. Từ năm 111 trước Công nguyên trở đi, quận này thuộc nhà Hán, trị sở đặt tại Luy Lâu. Thời Đông Hán, trị sở được dời đến Long Biên. Về sau, thu nhỏ dần, chỉ gồm vùng tam giác châu sông Hồng. (Tất nhiên, nhà Hán không  sử dụng từ "Giao Chỉ" theo cách gọi của Triệu Đà).


 


       4. Tên huyện thời xưa, là đất huyện Luy Lâu thời Hán. Năm thứ 10 niên hiệu Khai Hoàng nhà Tuỳ (591), đổi  huyện Luy Lâu thành huyện Giao Chỉ. Cuối thời Đường thì phế bỏ.


 


        5. Tên tỉnh thời xưa, đăt năm Vĩnh Lạc thứ  5 (1407), thời nhà Minh.  Năm Tuyên Đức thư 2 (1427) thời nhà Minh  lại gọi là An Nam.


 


        6. Biệt danh của Việt Nam ngàỳ xưa. Từ nhà Lý, Bắc Tống gọi Việt Nam là Giao Chỉ. Nam Tống tuy đã đổi là An Nam nhưng vẫn dùng tên Giao Chỉ.


 


Bộ Giao Chỉ do Hán Vũ Đế thành lập (năm 106 trước Công nguyên) gồm có 9 quận : Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (thuộc Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay), Đạm Nhĩ và Châu Nhai  (thuộc đảo Hải Nam), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (gồm phần đất Việt Nam từ Bắc Bộ đến Quảng  Nam ngày nay, nhưng lúc bấy giờ, vùng đất của người Việt Nam chỉ giới hạn đến Cửu Chân, tức là vùng Hà Tĩnh hiện nay).


 


Bởi vì Giao Chỉ vừa là tên phiếm chỉ một vùng đất cổ (không quy định niên đại và phạm vi cụ thể) ở phía nam Ngũ Lĩnh, tức là gồm Quảng Đông và Quảng Tây trở xuống phía nam, vừa là tên một bộ gồm 9 quận, lại vừa là tên một quận, hay một huyện, một tỉnh tùy từng thời kỳ, cho nên  khi thấy nói đến Giao Chỉ mà không đi kèm với các từ quận, huyện, tỉnh, thì đừng vội coi đó là Việt Nam. Chính vì các nhà sử học luôn luôn coi Giao Chỉ là Việt Nam (như họ đã viết trong Từ điển Bách khoa Việt Nam), cho nên, khi thấy trong một số sách cổ của Trung Quốc hay của nước ta nói đến việc các vua chúa phương bắc bắt dân Giao Chỉ cung cấp quả vải thì họ liền hô hoán rằng chúng bắt dân An Nam phải cống nạp quả vải, và chỉ ở An Nam mới có thứ quả ấy, và khi đã tin chắc như vậy thì họ bịa thêm các lý do khác một cách dễ dàng.


 


IX. Gỡ bỏ nỗi băn khoăn của một số độc giả: trước thời nhà Đường, “nạn cống vải” có xẩy ra hay không?


 


Trên kia, chúng tôi đã chứng minh rằng, cách vận chuyển quả vải như các nhà sử học miêu tả là bất khả thi, trước hết là vì quả vải chỉ tạm giữ được hương vị trong vòng một tuần là cùng chứ không thể theo đoàn dân phu dãi dầu mưa nắng trên con đường muôn dặm suốt hơn nửa năm (nếu người phu còn sống sót!). Hơn nữa, nếu không phải là quả vải mà là sỏi đá (không bị hỏng dọc đường) thì cũng không thể vận chuyển bằng đoàn dân phu hàng ngàn người  đi một mạch suốt hàng vạn dặm, bởi vì, con người không thể chịu đựng được cảnh dầm mưa dãi gió, khi thì nắng nóng sém da, khi thì rét buốt thấu xương, liên tục trong vài trăm ngày. Với cách vận chuyển như thế thì trên con dường vạn dặm ấy phải thiết lập cả ngàn trạm cho đoàn phu  ăn uống, nghỉ ngơi, rồi phải có kho chứa lương thực, bể chứa nước, bếp núc, v.v... Cho nên, không ai ngu dại gì mà chọn cách vận chuyển ngốc nghếch như thế, vừa phiền phức, vừa tốn kém, vừa chậm chạp. Người ta có thể sử dụng nhân công tại chỗ, nghĩa là mỗi địa phương chỉ vận chuyển một đoạn rồi chuyển giao cho địa phương tiếp theo; mỗi toán phu chỉ vận chuyển trên một chặng đường ngắn, cả đi lẫn về chỉ gọn trong một ngày hoặc một đêm, không ai phải lo việc nấu nướng và ngủ nghê dọc đường, và như vậy thì hiệu suất về sử dụng thời gian sẽ tăng lên gấp đôi.


 


Việc dâng hiến quả vải cho Dương Quý Phi là có thật nhưng quả vải được hái trên đất Trung Quốc (chứ không hái từ Hoan Châu hay An Nam) và được vận chuyển đến Trường An bằng ngựa của hệ thông dịch trạm kế tiếp thay thế nhau qua các trạm (chứ không phải do hàng ngàn dân phu gồng gánh lủi thủi một mạch hàng vạn dặm. Từ đó, chúng tôi đi đến kết luận: “nạn cống vải” ở nước ta dưới ách thống trị của nhà Đường như các nhà sử học “phát hiện” là hoàn toàn không có. Những  lý do dẫn đến kết luận này hoàn toàn không liên quan đến nhà nọ hay nhà kia, mà chỉ liên quan đến các quy luật của thế giới tự nhiên, cho nên nó cũng đúng đối với mọi triều đại khác, nghĩa là: trong lịch sử nước ta, qua các thời kỳ bị các triều đình phong kiến Trung Hoa thống trị kể từ nhà Hán trở đi, không thể xẩy ra “nạn cống vải” như các nhà sử học đã mô tả.


 


      So với “nạn cống vải”mà các nhà sử học mô tả thì việc dâng hiến quả vải cho triều đình ở Trung Quốc trên thực tế (như đối với Dương Quý Phi) nhẹ nhàng hơn hàng vạn lần, vì số người bị lôi cuốn vào đó rất ít, mối nơi mỗi lần chỉ dăm bảy người là cùng, số ngày vất vả, từ khâu chuẩn bị đến khi xong việc cũng chí vài ngày chứ không phải là vài trăm ngày. Tuy đó vẫn là một công việc nặng nề đối với một số người nhưng cũng nằm trong phạm vi lao dịch nói chung, không đáng coi là một tai họa của toàn dân.


 


Cũng cần nói thêm rằng, với phương thức vận chuyển quả vải bằng ngựa như thế thì số ngày vận chuyển chỉ đếm trên đầu ngón tay, cho nên, nếu hái quả vải ở quận Giao Chỉ  thì thời gian đi đường tăng lên gần gấp đôi, cũng chỉ độ 8 ngày, do đó, vẫn là điều khả thi. Như thế nghĩa là, triều đình phương bắc có thể mở rông hệ thống dịch trạm sang nước ta để vận chuyển quả vải từ đây về kinh đô bên ấy. Tuy về khả năng thì như thế, nhưng trên thực tế, nếu điều này xẩy ra thì cũng rất hãn hứu mà thôi, vì quả vải bên ấy nhiều và ngon hơn, đường vận chuyển lại ngắn hơn và tiện lợi hơn. Nhưng, điều cần lưu ý là, nếu có chuyện chuyên chở quả vải từ nước ta sang cống nạp cho triều đình Trung Quốc bằng ngựa qua các địch trạm thì việc đó cũng không phải là “nạn cống vải” như giới sử học đã mô tả.


Xin độc giả lưu ý, để kết luận rằng “nạn cống vải” mà các nhà sử học đã phát hiện là có thật, những kẻ ngụy biện thường cố gắng chứng minh việc chở quả vải sang Trung Quốc mà cố ý bỏ quên quy mô và phương thức vận chuyển


 


Sau khi công bố nội dung chính của bài này lần đầu tiên, chúng tôi được nhiều độc giả hoan nghênh, trong đó có nhiều nhà sử học, trừ các tác giả của những cuốn sách từng coi cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan là hậu quả của “nạn cống vải”. Từ đó đến nay (đầu năm 2008) đã 5 năm, chưa có môt lời phản bác nào của các tác giả này, nhưng cũng chưa thấy ai trong số họ thừa nhận sai lầm của mình, và họ vẫn tiếp tục viết và tái bản những quyển sách nói về cái “nạn cống vải” tưởng tượng kia.


Một số độc giả đọc nhiều biết rộng và quan tâm đến lịch sử nước nhà, tuy không có ý kiến phản bác, nhưng vẫn còn băn khoăn ở chỗ, từ xưa, ở Trung Quốc cũng đã có tài liệu nói đến việc dân Giao Chỉ phải cống quả vải và quả nhãn tươi cho triều đình Trung Quốc, ví dụ sách An Nam chí lược của Lê Tắc. Vậy thì phải lý giải ra sao?. Phải chăng, đó là bằng chứng về “nạn cống vải” thời Hán?, phải chăng, “nạn cống vải” tuy không có ở thời Đường, nhưng đã xẩy ra ở thời Hán, và “phát hiện” của các nhà sử học vẫn có cơ sở?


 


Chúng tôi đã tìm đọc sách An Nam chí lược của Lê Tắc (người Viêt, ở thế kỷ 13, theo giặc Nguyên, viết sách ở Trung Quốc), ở quyển 5, mục Tiền triều chi sớ  (nghĩa là Thư sớ của các đời vua trước) có ghi bức thư của Đường Khương yêu cầu Hán Hòa Đế bãi bỏ lệ cống quả nhãn và quả vải tươi. Nguyên văn chữ Hán do Lê Tắc viết như sau: (theo An nam chí lược, phần chữ Hán, trang 398, NXB Thuận Hoá, 2002)


 


 


漢 和 帝 永元元年 , 嶺 南 獻 生 荔 枝  .  唐 羌 上 書 諫 曰 : 臣 聞 上 不 以 滋 味 為 德 , 下 不  以 貢  獻 為 功 , 伏見 交 趾 七 郡 獻 生 荔 枝 龍 眼 等 ,十 里 一 置 , 五 里 一 堠 , 晝 夜 傳 送 , 南   土 炎  熱 , 惡 獸 不 絕 於 路 , 至 於  觸  犯 死 亡 之害, 此 二 物 昇 殿 , 未 必 延 年 益 壽 . 詔 曰 : 遠   國 珍 羞 , 本 以 薦 奉 宗 廟 , 苛 有 傷 害 , 豈 愛  民 之 本 . 勎  太 官 勿 復 入 獻.


 


(Phiên âm: Hán Hòa Đế Vĩnh Nguyên nguyên niên, Lĩnh Nam hiến sinh lệ chi, Đường Khương thướng thư gián viết: thần văn thượng bất dĩ tư vị vi đức, hạ bất dĩ cống hiến vi công, phục kiến Giao Chỉ thất quận  hiến sinh leej chi long nhãn đẳng, thập lý nhất trí, ngũ lý nhất hậu, trú dạ truyền tống, nam thổ viêm  nhiệt, ác thú bất tuyệt ư lộ, chí ư xúc phạn tử vong chi hại; thử nhị vật thăng điện, vị tất diên niên ích thọ. Chiếu viết: viễn quốc trân tu, bản dĩ tiến phụng tông miếu, hà hữu thương hại, khởi ái dân chi bản.  Lục thái quan vật phục nhập hiến).


 


Để độc giả dễ tra cứu, chúng tôi xin phép sử dụng lời dịch trong bản dịch của sách An Nam chí lược do Viện Đại học Huế xuất bản tại Huế năm 1961 và vài lần sau đó, rồi đến năm  2002 thì được Nhà xuất bản Thuận Hóa in lại: Trong năm đầu niên hiệu Vĩnh Nguyên (89), đời vua Hán Hòa Đế, các quan Lĩnh Nam dâng những  quả lệ chi tươi.  Đường Khương dâng thư can rằng: “Thần nghe người trên không lấy đồ ngon vật lạ làm  đức,  người  dưới không lấy việc cống hiến đồ ăn làm công, chúng tôi thấy bảy quận ở Giao Chỉ dâng những trái long nhăn, lệ chi v.v. thì phải trong khoảng mười dặm để một trạm ngựa, năm dặm một nơi nghỉ để tiện ngày đêm chuyển đạt. Xét lại đất Nam nóng nảy, khắp các ngả đường đều có ác thú khiến cho nhiều người bị chết dọc đường; vả lại, hai vật này được dâng lên triều đình, vị tất có thể làm cho sống lâu thêm”. Vua bèn hạ chiếu nói rằng: “Của quý của nước xa lạ mà đem về  vốn là  để dâng lên phụng thờ tôn tổ; nếu có sự tổn hại đến nhân dân thì trái với lòng thương dân. Vì vậy, hạ sắc dụ cho các quan lớn không nên cống hiến lệ chi và long nhãn nữa”. (Sdd, trang 125)


 


Chúng tôi đã tra cứu và tìm thấy sự việc này được ghi trong Hậu Hán Thư - bộ sách lịch sử chính thức về triều đại Đông Hán (còn gọi là Hậu Hán) của Phạm Diệp (398 - 445)  và Tư trị thông giám (hoàn thành năm 1084) của Tư Mã Quang (1019 - 1086) thời Bắc Tống. Hậu Hán Thư chỉ ghi sự việc này chứ không trích dẫn bức thư của Đường Khương, còn Tư trị thông giám thì trích dẫn gần giống như  ở An Nam chí lược;  ở hai đoạn trích dẫn ấy có những từ hoặc nhóm từ  khác nhau, nhưng nội dung của chúng thì hoàn toàn trùng nhau. Tuy nhiên, có hai điểm  đáng chú ý:


 


a. An Nam chí lược thì ghi sự việc này xẩy ra năm Vĩnh Nguyên thứ nhất, tức là năm 89, khi Hòa Đế mới lên ngôi; Hậu Hán Thư thì ghi ở cuối đời của vị vua này chứ không ghi rõ năm, nhưng cho biết là sau khi đã giết Đậu Hiến (quyền thần, ngoại thích), còn Tư trị thông giám thì ghi ở đoạn viết về năm Vĩnh Nguyên thứ 15, tức là năm 103, lúc Hòa Đế  24 tuổi. Có lẽ Lê Tắc đã ghi nhầm, bởi vì ông vua này sinh năm 79, năm Vĩnh Nguyên thứ nhất thì ông ta mới 10 tuổi. Lúc này, quyền bính nằm trong tay Đâu Thái Hậu (mẹ đích) và bọn ngoại thích họ Đậu. Cho nên, ở năm ấy thì ông ta không thể quyết định được gì, và có lẽ chẳng có ông quan nào dại dột dâng thư cho môt ông vua 10 tuổi vừa mới lên ngôi và còn nằm trong vòng kiềm tỏa của bọn ngoại thích, mà bọn này lại không có quan hệ huyết thống với ông ta. (Sự việc này xẩy ra ở năm này hay năm khác đều không ảnh hưởng đến việc có hay không có “nạn cống vải”, nhưng đã nói đến chứng cứ  lịch sử thì phải tra cứu kỹ càng).


 


b. An Nam chí lược chỉ ghi tên người dâng thư là Đường Khương, còn Hậu Hán thư và Tư trị thông giám thì ghi là Lâm Vũ trưởng Nhữ Nam Đường Khương, nghĩa là ông Đường  Khương quê ở Nhữ Nam (thuộc tỉnh Hà Nam, nơi có kinh đô Lạc Dương của triều đình Đông Hán) và là người đứng đầu huyện Lâm Vũ (thuộc tình Hồ Nam, nơi mà những con ngựa chở quả vải phải đi qua để đếnn kinh đô Lạc Dương).


 


Như vậy là, ông Đường Khương, tri huyện Lâm Vũ, tỉnh Hồ Nam, vì đã chứng kiến tình cảnh khốn khổ và nguy hiểm của những người ở bảy quận thuộc bộ Giao Chỉ phải  cưỡi ngựa chở quả nhãn  và quả vải tưoi  để cống nạp cho triều đình nên ông  đã dâng sớ lên Hán Hòa Đế, yêu cầu xóa bỏ cái lệ cống này, để cho dân chúng ở 7 quận đó bớt cực nhọc và hiểm nguy.


 


Trên kia, ở mục 2., phần VIII, chúng ta đã biết rằng, bộ Giao Chỉ  do Hán Vũ Đế thành lập năm 106 trước Công nguyên, gồm có 9 quận: Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (thuộc Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay), Đạm Nhĩ và Châu Nhai  (thuộc đảo Hải Nam), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (gồm phần đất Việt Nam từ Bắc Bộ đến Quảng  Nam ngày nay). Tất cả 6 quận thuộc Quảng Tây, Quảng Đông và đảo Hải Nam đều thuộc vùng đất “quê hương” của cây vải, cho nên, trong số 7 quận phải cống quả vải thì hiển nhiên là có 6 quận đó cộng thêm quận Giao Chỉ thuộc vùng Bắc Bộ của nước ta hiện nay. Qua bức thư của Đường Khương dâng lên Hán Hòa Đế để yêu cầu bỏ lệ cống quả vải cho 7 quận, chúng ta có bằng chứng để nói rằng, triều đình nhà Hán có đặt ra lệ bắt dân ta cống quả vải, nhưng phần lớn quả vải nộp cống là lấy từ đất Trung Quốc. Bức thư này cũng cho biết rằng, việc vận chuyển quả vải được thực hiện bằng ngựa (chứ không phải bằngngười gánh đi bộ từ đầu đường đến cuối đường) với hệ thống những trạm nghỉ và trạm đổi ngựa cách nhau không xa, cho phép người chở quả vải nếu cần nghỉ hoặc đổi ngựa thì  không phải gắng gượng đi xa. Bởi vậy, chính bức thư của Đường Khương là bằng chứng bác bỏ câu chuyện hoang đường về “nạn cống vải “ mà các nhà sử học đã  dựng lên.


 


Qua bức gián thư của Đường Khương, chúng ta được biết rằng, để vận chuyển quả vải tươi (đồng nghĩa với việc vận chuyển cấp bách, nhanh chóng đến mức tối đa), cứ mỗi 10 dặm thì có một trạm để thay ngựa, 5 dặm thì có một trạm nghỉ chân. Theo Cổ kim Hán ngữ từ điển (của Thương vụ ấn thư quán, Bắc Kinh, năm 2000) thi 1 dăm (1 lý) bằng 300 - 360 bộ (bước); thời Tần - Hán, mỗi bộ bằng 6 xích (thước), mỗi xích bằng 0,231m; một dặm xấp xỉ bằng 500 mét; từ năm 1929 người ta quy ước dặm(1 lý) bằng 500 mét. Như vậy là khoảng 2 - 3km  thì có một trạm nghỉ, khoảng 5 - 6km thì có một trạm để thay ngựa. Đương nhiên, mỗi cặp người và ngựa có thể vượt qua một số trạm như thế mới cần nghỉ hoặc thay bằng cặp khác; mỗi khi người hoặc ngựa hơi mệt mỏi thì chỉ cần đi tiếp thêm 1 - 2km nữa là có chỗ nghỉ, và đi 2 - 3km thì có người và ngựa khác thay thế ngay. Bài toán dựa trên “lý thuyết suông” của chúng tôi trên kia cũng không xa rời thực tế. Nhưng, vì quãng đường từ Quảng Đông đến Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) dài hàng ngàn dặm và phải vượt qua nhiều rừng núi hiểm trở nên  việc vận chuyển như vậy vẫn là một thứ lao dịch quá vất vả và nguy hiểm khiến Hán Hòa Đế phải bãi bỏ. Thế mà các sử gia hiện đại của chúng ta dám nghĩ đến việc gồng gánh quả vải “một mạch” từ Hoan Châu đến kinh đô Trường An! Quả là một ý nghĩ  “táo bạo” phi thường, không nghĩ gì đến quy luật tự nhiên.


Có thể sẽ có người hỏi rằng, trong chiếu thư của Hán Hòa Đế có nhóm từ “của quý của nước xa lạ” (nguyên văn: viễn quốc trân tu), vậy thì thứ của quý này là từ nước ngoài đem tới, chứ không phải từ trong nội địa Trung Quốc. Kẻ viết bài này xin thưa rằng, ngày nay, chữ  “quốc” có nghĩa là quốc gia, nhưng ngày xưa thì hoàng đế Trung Quốc được coi là thiên tử, là “con trời”, còn đất đai và dân chúng thuộc quyền  “thiên tử” thì được gọi là “thiên hạ”, là “xứ sở dưới bầu trời”, trong đó có nhiều “quốc”.  Theo từ điển Từ hải thì chữ quốc 國 có 6 nghĩa như sau:  1. quốc gia; 2. của quốc gia (tính từ), ví dụ như trong những từ như  quốc thổ, quốc khố, quốc tang, vv…, 3. thời xưa, chỉ vùng đất mà hoàng đế phong tặng cho các vị vương, hầu…;  4. thời xưa, chỉ thành quách của một quận; 5. chỉ một vùng đất, cùng nghĩa với  chữ  “phương”; 6, họ Quốc. Vì thế cho nên mấy chị em của Dương Quý Phi được phong là Tần quốc phu nhân, Quắc quốc phu nhân, Hàn quốc phu nhân. Từ  “viễn quốc” trong chiếu thư của Hán Hòa Đế có nghĩa là “viễn phương”, là phương xa.


LMC.


 


Nguồn: phongdiep.net


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »