tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
08.05.2010
Nguyễn Trọng Tạo
Tiễn biệt hồn thơ Kinh Bắc, NT Tạo, Xuân Ba, NTN Hải viết về Hoàng Cầm

Với tôi, Hoàng Cầm là nhà thơ lớn với bút pháp tân cổ điển. Ông làm mới thơ Việt cuối thế kỷ 20 trên nền tảng văn hóa Việt mà nổi bật là văn hóa Kinh Bắc.


 Tối chủ nhật vừa rồi, tôi đang đi từ Sóc Sơn về thì nghe điện thoại của Nguyễn Ðình Toán báo cụ Cầm vừa vào cấp cứu ở Bệnh viện Hữu Nghị, khó qua. Linh cảm điều bất ổn, tôi gọi ngay cho nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn, và hẹn sáng mai vào viện thăm ông. Ông nằm trên giường bệnh chụp ống thở oxy nhưng mắt vẫn mở nhìn chúng tôi và cố nấc lên mà không nói được. Hữu Thỉnh xúc động nói: "Cố lên anh nhé. Anh là nhà thơ xuất sắc, là người thầy, người anh đáng kính của bọn em".


Lòng trào lên một nỗi buồn khó tả, tôi nhớ đến câu thơ ngôn truyền của ông: "Sông Ðuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ". Những hình ảnh thân thương, gần gũi của quê làng vào thơ ông bỗng trở nên sang trọng lạ lùng. "Những cô hàng xén răng đen/ Cười như mùa thu tỏa nắng"... Những câu thơ gợi nhớ lại cả cuộc đời của ông...


Đắng cho đời thêm ngọt


Hoàng Cầm sinh ngày 22-2-1922 tại làng Phúc Tằng, huyện Việt Yên (Bắc Giang) nhưng quê gốc ở Thuận Thành (Bắc Ninh), nơi có con sông Ðuống "nằm nghiêng nghiêng" trong thơ ông. Tên thật của ông là Bùi Tằng Việt được ghép bởi tên làng và tên huyện, còn bút danh là tên một vị thuốc đắng: Hoàng Cầm. Ý ông là dùng cái tên đắng cho đời thêm ngọt. Nhưng sự đắng đót luôn theo đuổi ông suốt thời tuổi trẻ. Ông tốt nghiệp tú tài toàn phần năm 18 tuổi, bước hẳn vào nghề văn: dịch sách, làm thơ, viết truyện, viết kịch. 20 tuổi viết nên vở kịch thơ Hận Nam Quan tràn đầy lòng yêu nước.


Năm 22 tuổi viết kịch thơ Kiều Loan được công diễn đầu tiên năm 1946. Người vợ ông cưới năm 18 tuổi chết sớm để lại người con trai, ông lấy người vợ kế là Tuyết Khanh, người từng sắm vai Kiều Loan, rồi tham gia Vệ quốc quân. Tài năng của ông dồn vào thơ và lãnh đạo đoàn kịch quân đội phục vụ kháng chiến. Ông được đại tướng Võ Nguyên Giáp tặng thưởng bài thơ Ðêm liên hoan trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ với những câu thơ thật hào hùng: "Máu tôi mai sẽ chảy/ Trôi phăng hết kiếp ngựa trâu/ Xương tôi, tôi bắc nên cầu/ Cho đàn con bước lên lầu Tự Do!".


Thi sĩ của tình yêu và "màu dân tộc"


Sau năm 1954, Hoàng Cầm được bầu vào ban chấp hành Hội Nhà văn khóa đầu tiên. Nhưng ông cũng là người chủ trương nhóm Nhân văn - Giai phẩm. Vài năm sau Nhân văn - Giai phẩm bị đóng cửa. Trong những ngày ấy, ông kết hôn với bà Lê Hoàng Yến và mở quán rượu nuôi đàn con nhỏ. Tuy nhiên, nghiệp văn chương không bỏ người thi sĩ tài hoa, ông lặng lẽ viết nên tập thơ Về Kinh Bắc và hàng trăm bài thơ khác. Thời đổi mới đến, Hoàng Cầm được phục hồi hội tịch Hội Nhà văn và Về Kinh Bắc - tập thơ hay nhất của Hoàng Cầm - được xuất bản cùng nhiều tập thơ khác của ông.


Mảng thơ tình của Hoàng Cầm là một đóng góp đáng kể về cảm giác tình yêu trong thơ ta. Ðấy là một cảm giác si mê hưng phấn trong ái tình. Ví dụ những câu thơ rất gợi này: "Chân em dài đi không biết mỏi/ Má hồng em lại nổi/ Ðồng mùa nước lụt mênh mông/ Lưng thon thon cắm sào em đợi/ Ðào giếng sâu rồi đừng lấp vội đầu xanh". Những chân dài, má hồng, lưng thon đi vào thơ Hoàng Cầm trở nên lung linh tơ lụa bọc che những ẩn dụ xa xăm.


Những tác phẩm của Hoàng Cầm được công bố thời đổi mới đã đưa ông trở lại thi đàn đúng như tầm cỡ của ông - một thi sĩ của "màu dân tộc" và tình yêu. Bạn bè yêu thơ trong và ngoài nước luôn tìm đến ông thăm hỏi, xin thơ, trong đó có cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Ðảng. Tôi còn nhớ lần nhà thơ Nguyễn Khoa Ðiềm đến thăm, mời ông đến nhà sáng tác của Bộ Văn hóa - thông tin để sáng tác với chế độ ưu đãi đặc biệt. Hoàng Cầm rất vui, nhưng tiếc là sau đó ông bị ngã gãy chân, phải "nằm nghiêng nghiêng" trong ngõ phố Lý Quốc Sư cho đến lúc cuối đời.


Sự nghiệp văn chương của Hoàng Cầm cũng như con người ông luôn ẩn giấu những tầng dày văn hóa Việt Nam, sâu sắc và chân thành. Ngôn từ của ông sáng láng, dạt dào và thấm đẫm tâm linh. Dân tộc và tình yêu luôn là nguồn cảm hứng thơ ca bất tận của ông, nó vừa thủ thỉ chân tình vừa hào hùng sảng khoái, nó vừa nghiêm cẩn thiêng liêng vừa yêu kiều quyến rũ.


Có thể nói thơ ông ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ Việt kế tiếp với sự cách tân mang sắc thái dân tộc. Bởi cái tâm sâu xa của ông là luôn ủng hộ sự cách tân ngôn ngữ của các nhà thơ thế hệ đàn em. Người mê và thuộc thơ ông thì nhiều vô cùng. Tôi tin gia tài thơ văn của Hoàng Cầm còn tiếp tục được đông đảo công chúng tiếp nhận và chia sẻ.


Giờ thì thi sĩ Hoàng Cầm đã vĩnh viễn xa cõi đời này. Câu thơ ông viết 50 năm trước lại quay về giây phút cuối cùng ông: "Cúi lạy Mẹ, con trở về Kinh Bắc"...


Nguyễn Trọng Tạo


Tuoitre.vn


 


 


CÒN VE VÉ MÃI MỘT GIỐNG HOÀNG CẦM XANH


 


Kịch thi văn sĩ Hoàng Công Khanh ra đi hăm hai thì hăm ba tháng ba âm đùng cái, cũng kịch thi kiêm thi sĩ Hoàng Cầm về cõi.
Lạ thế, mới lử lả hai cơn nóng tiết lập hạ mà Chiếu kịch thơ Bắc Hà quạnh hẳn đi hai gò hai đống! Chút an ủi là nhị vị đây đều về cõi ở tuổi quá cửu tuần...


Chợt nhớ hai câu của Nguyễn Khuyến Tuổi là tuổi của gia tiên/ thế nên thày được hưởng niên lâu ngày. Tuổi của gia tiên, tuổi của trời. Giời cho hay giời hành đây, chả biết?


Thuở trai xanh tung ra những Bến nước Ngũ Bồ những Cung phi Điểm Bích giăng ra những Kiều Loan  những Sông Đuống  cùng váy Đình Bảng buông chùng cửa võng những lá diêu bông... rồi ông Xanh lại giành cho hơn nửa thế kỷ nữa của thời gian sống để mà hành tiếp nhị vị họ Hoàng, bắt phải hậm hụi vượt qua những gò những đống những cái mốc ấy! May mà giời lại thương, lại cho.


Hai thi sĩ kịch thi họ Hoàng, hai con tằm già đó chả chịu rợp lẫn cớm dưới những mốc giới sáng tạo ấy mà vẫn nhả vẫn dệt thêm những đường tơ óng ả ngõ hầu rung động tiếp những tâm của tao nhân mặc khách lẫn người đời. 


Tôi có ông bạn làm nghề điêu khắc tên là Khúc Quốc Ân. Không biết lọ mọ được bao nhiêu vốn mà gần 20 năm trước đã cho dựng ở mạn Láng Hạ một mái nhà sàn. Bên bếp lửa nhà sàn Láng Hạ những năm rét ấy, ánh lửa thêm nồng đượm thêm nhảy nhót bởi có những bàn tay xòe ra của những Hoàng Cầm, Kim Lân, Đỗ Chu, Nguyễn Khải...


Một bận cả đám được rinh sang Thuận Thành quê Khúc Quốc Ân. Đêm rét Thuận Thành ấy không có mưa,  lòng ngôi nhà cổ của họ Khúc ngay ngắn mấy vuông chiếu  đã qua đi một phần đêm của chương trình quan họ cổ.


Hoàng Cầm tóc nõn bông xoải người trên chiếu. Xoải là kiểu nửa nằm nửa ngồi theo thế nghiêng một tay chống đầu. Nghĩ cứ cười thầm, đám các em các cháu quan họ gọi ông con trai Hoàng Kỳ (hồi đó cũng trên lục tuần) của thi sĩ Hoàng Cầm là chú nhưng lại xưng em ngọt lịm với tác giả Mưa Thuận Thành.


Ánh mắt thi sĩ lim dim sang mạn những Thúy Hường, Thúy Cải thuở ấy đương nhấn nhá những âm sắc vang rền nền nẩy. Chả có cái chi thoát được sự soi của nhà văn Kim Lân cả khi ông gục gặc cái đầu sang mé tôi tuổi ấy mà mắt cứ ve vé xanh thế thì có chết không cơ chứ!


Tôi giật mình choàng tỉnh trước sự bình phẩm bất ngờ của lão Hạc! Hữu Loan thì bảo thơ Hoàng Cầm đĩ. Tô Hoài có bận dim mắt (những khi ấy không biết cụ khen hay cụ thoắt nhớ một thời trai) rằng Hoàng Cầm là cái... giống phong tình! vv... Nhưng cụm từ ve vé xanh dường như là sự toát yếu chất sống cùng chất thơ của thi sĩ Hoàng Cầm? 


Ngót chục năm trước, tôi có viết loạt bài về người đàn bà đa tình và cuốn hồi ký truân chuyên. Đó là người đẹp Trịnh Thị Phụng tức Minh Phụng quê ở xứ Đông những năm bốn mươi thế kỷ trước từng nổi danh trên sân khấu Hà Thành trong những đêm diễn hiếm hoi.


Nổi nhất là đêm diễn kịch thơ Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm. Đêm ấy, nhà văn Nguyễn Tuân đã vét sạch túi rồi lại mua chịu một phần hoa trước cửa nhà hát lớn Hà Nội để mua tặng diễn viên Minh Phụng.


Sau này, người con gái đa tình đa tài ấy đã bỏ nghề sân khấu đi giang hồ. Giọng hát cùng ánh mắt của mỹ nhân từng làm ngả nghiêng các salông sang trọng của nhiều nhà buôn đến chính khách. Nhưng  mỹ nhân ấy số phận khá truân chuyên. Phần cuối cuộc đời lặng lẽ, trải qua nghèo khó và mất ở Sài Gòn.


Trước khi mất bà Trịnh Thị Phụng đã hoàn thành cuốn hồi ký cuộc đời mình và ký thác việc giữ gìn cũng như xuất bản cho nhà gia phả học Dã Lan Nguyễn Đức Dụ. Đó là một nhà phả học nổi tiếng của Việt Nam có tên trong nhiều công trình phả trạng học của thế giới, nay cũng đã mất. 


Trước khi mất, cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ lại ký thác tiếp cho vài người khác trong đó có nhà nghiên cứu sử học Hoàng Lê và GS sử học Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học.


Tôi may mắn tình cờ được  GS Văn Tạo cho mượn cuốn hồi ký dạng bản thảo ấy. Và mùa xuân Canh Dần, may mắn cuốn hồi ký của mỹ nhân Trịnh Thị Phụng tức Minh Phụng, có tên là Vàng son huyết lệ đã được NXB Phụ nữ cho ấn hành với số lượng lớn nghe nói bán khá chạy...


Trở lại thời gian tiếp cận với cuốn Vàng son huyết lệ dạng bản thảo, tôi gạn thêm thi sĩ Hoàng Cầm hoàn cảnh vở kịch Kiều Loan ra mắt lần đầu ở Hà Nội cũng như đêm diễn đầu tiên lẫn người thủ vai chính. Điều kỳ diệu là thi sĩ sau một hồi suy nghĩ đã tuồn tuột kể ra nhiều điều...


Tôi nói kỳ diệu là bởi hồi ức của thi sĩ Hoàng Cầm sau nửa thế kỷ vẫn rành rọt và hầu hết đều trùng với những chi tiết trong cuốn hồi ký mặc dầu thi sĩ không hề biết trên đời đã có một cuốn Vàng son huyết lệ dạng bản thảo.


Tôi cũng được biết thêm, không phải sau buổi công diễn đầu tiên ấy thi sĩ mới biết Minh Phụng. Có điều sau buổi công diễn ấy, Hoàng Cầm mới giới thiệu với bạn bè để làm quen với diễn viên sắc tài thủ vai chính trong đó có nhà văn Nguyễn Tuân.


Tiện buổi gặp, tôi cũng trích để trình thi sĩ tâm sự của người bạn gái năm xưa


... Tin tưởng ký thác anh Dã Lan Nguyễn Đức Dụ cuốn hồi ký độc nhất của tôi. Sau này anh hoàn toàn sử dụng vào một thời điểm thích hợp để mai sau con cháu chúng ta biết rõ thăng trầm của một người sương phụ đại bất hạnh. Saigon 24-4 năm Tân Dậu tức là ngày 27-5-1981. 8 giờ sáng, viết trong lúc đang lâm trọng bệnh...


Và tâm sự của nhà phả trạng học Dã Lan Nguyễn Đức Dụ Bốn trăm trang hồi ký! Thú thật tôi chưa từng thấy tập bút ký nào như thế không phải độ dầy mà lạ!  Có điều các chính khách hay những danh nhân khác thường hay nói tốt cho mình nhiều hơn chớ mấy ai như chị lại đem phô bày hết những cái xấu xa trụy lạc của mình ra.


Tôi rất thán phục chị phải can đảm lắm mới viết ra như thế. Minh Phụng quả không hổ thẹn dòng dõi Nho gia. Chị là một phụ nữ đủ tài sắc. Tuy chị là gái nhảy chả tên tuổi gì nhưng để lại một tập bút ký như thế với mấy trăm bài thơ là đủ cho đời sau nhắc đến chị rồi.


Đọc những dòng ấy, thi sĩ mắt nheo nheo, giọng bồi hồi rồi bảo tôi đưa cho ông cuốn sổ. Một lát ông lại buông sổ, vớ lấy cái điếu. Đóm đã châm nhưng lập tức ông dụi chưa hút... Với nét chữ khoát hoạt cố hữu, lại có phần bay bướm nữa là khác. Thi sĩ giáng giữa trang hai câu Trăm loài súng sính có đôi/ Loài tình thui thủi đi về một- không. Hoàng Cầm.


Tôi lờ mờ hiểu hình như thi sĩ bất ngờ bật ra hai câu ấy ngay lúc ấy và cho suốt mãi những năm sau này, ông chưa kịp giăng kịp nối thêm cái kỷ niệm cùng cuốn hồi ký như ông nói đã gợi cho thi sĩ rất nhiều dự cảm... Dự cảm? Có lẽ chả bao giờ nữa!


Hoàng Cầm, vị thuốc đông y đắng lắm nhưng tính lại bình có tác dụng công phạt nhiều thứ... Có lẽ với không ít người, thơ Hoàng Cầm hàng bao năm nay đã góp nên những bình ổn cân bằng. Mà công trạng ấy có lẽ vẫn dằng dặc cùng năm tháng?  Vậy nên cứ ve vé mãi một giống xanh Hoàng Cầm như ý cụ Kim Lân chăng?


Đêm 6 - 5 tức 23 tháng Ba, Canh Dần


Xuân Ba


Tienphong.vn


 


 


Thi sĩ Hoàng Cầm - Nghĩ lúc nằm im


Hoàng Cầm – người thơ mang vị thuốc đắng ấy bây giờ lúc ngồi lúc nằm. Nếu không, phải chống tay thế này. Ngã gãy mất xương đùi trái. Đã 86 tuổi, bây giờ chàng thi sĩ đa tình và tài hoa xứ Kinh Bắc nằm yên một chỗ. Nhưng hễ có bạn bè lên thì vẫn nụ cười “như mùa thu toả nắng”.


 


Bây giờ chắc ông khó mà đưa em nào buồn về bên kia sông Đuống như ngày xưa nữa rồi?


(Cười) Gãy chân đã 5 năm (2003). Bác sĩ bảo mổ. Không. Thôi, què thế cũng được rồi. 24/24  giờ xoay xỏa mãi một kiểu nằm ở cái giường. Đám Thuỵ Kha, Trọng Tạo bảo thơ nó vận vào đó. Suốt đời “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” như sông Đuống. Vậy mà tôi vừa về quê năm ngoái đấy. 


Đi đứng thế nào ạ?


Ngồi xe lăn. Ô tô thuê. Về làng Lạc Thổ - Đông Hồ, còn một ông anh con bác ruột. Vài người bạn cũng thành cụ cả rồi. Yếu. Gặp nhau mừng lắm. Tôi về cùng các con dự giỗ tổ họ Bùi.


Bên kia sông Đuống vẫn xanh bãi mía bờ dâu, những cô hàng xén, những nàng dệt sợi đi bán lụa màu, những em sột soạt quần nâu.. giờ thay đổi nhiều lắm phải không ạ? Có còn “dấu vết” gì không?


Làng ấy nửa buôn bán nửa nông nghiệp, xưa nay vẫn thế. Đi chợ này chợ khác, không hẳn thuần tuý là cái làng Việt Nam. Tranh Đông Hồ thì xóm bên cạnh Tết vẫn làm. Vẫn con lợn con gà, đám cưới chuột.


 


Vậy làng còn đẹp như trong thơ không?


Nó đẹp hay không tự mình. Lúc nào tôi cũng thấy nó đẹp. Nhưng bến đò không còn cảm giác quê hương. Hai bên bờ đã khác. Văn minh hơn. Bến đò nay xây cầu sắt hẳn hoi, tiện cho dân. Mất thơ mộng, chả có cảm xúc gì. Chỉ thấy văn minh.


 


Thưa, thấy văn minh là cảm xúc…


Trước bến đò không nhà tầng bên sông, chỉ đi bộ xuống. Bây giờ thông thống cả. Mất đi không khí quê cũ. Chỉ cần một ngôi nhà ngói chen vào là hỏng rồi. Mất cái gì không biết, chỉ thấy mất. Đã gọi là bến mà, phải chờ phải đậu. Xưa có quán tạm để người chờ vào đó uống nước. Bây giờ có cầu, tất nhiên bến đò mất đi không phải chờ, vào đó uống nước làm quái gì. Văn minh phá không khí. Trẻ không có kỷ niệm. Càng già kỷ niệm càng gay gắt.


 


Trẻ lại có kỷ niệm khác chứ thưa ông. Nói họ không có kỷ niệm e là họ không đồng ý?


Kỷ niệm là cái đã qua, bao giờ cũng trôi về thuở ấu thơ ấy chứ. Bọn trẻ có kỷ niệm giống nhau hết cả. Thí dụ một anh 20 thì kỷ niệm của anh ta hồi 7-8 tuổi làm gì có nữa. Lúc đó bắt đầu đổi mới rồi. Không có thời gian, lấy đâu ra kỷ niệm. Mà họ giống nhau: Cùng được bố mẹ nuôi, sống ở thành phố, đi học…


 


Nhưng bây giờ tâm tưởng họ khác, phong phú nhiều bề, bận rộn, căng thẳng lắm chứ đâu có thong dong suy ngẫm kỷ niệm?


Cứ lấy thí dụ con cái thân thiết của gia đình mỗi nhà mà xem. Tâm tưởng thì chúng nó nghèo lắm đấy. Con tôi chẳng hạn, ngoan giỏi, yêu kính bố. Nhưng tập thơ tôi in ra. Sáng dậy nó còn ngủ. Tôi để cuốn thơ đầu giường, ngay mang tai nó, dậy nhất định thấy liền. Nó: Ờ, hay quá. Bố mới xuất bản ạ. Rồi giở lướt ra: In đẹp đấy nhỉ. Rồi để lại chỗ cũ, không cầm đi theo. Không có gì nó quý.


 


Vậy nó “quý” gì?


Bố có khách, nó quý người khách lắm. Họ nói chuyện thơ là nó thích, dù nó bận không nghe. Nó quý bạn thơ của bố mà chưa biết quý thơ. Đứa nào cũng phải tính làm ăn. Có tiền nuôi vợ con khá lên. Thời đại nó thế mất rồi. Giỗ vợ tôi mà đông khách khứa, bạn bè thăm bố, nó phấn khởi. Nhưng nghĩ ít. Hay là nó nghĩ gì không biết.


 


Con cháu có thuộc thơ ông không – cả nước phải học, vừa rồi cũng lại “Bên kia sông Đuống” là đề thi Văn mà?


Con cháu tôi đều đức độ, không phải loại vô học nhưng nó không quan tâm lắm dù cũng đã học qua rồi, bài của bố nó là tác giả. Nhưng đứa cháu lại thuộc, con chị học bên Hà Lan thì sưu tầm cẩn thận lắm.


 


Bài “Bên kia sông Đuống” dài lắm, đọc lên khi nào cũng nao lòng. Ông còn thuộc khômg?


Đây này, tôi sẽ đọc…(Ông đọc liền tới hơn 100 câu thì ngừng), như thế là mệt rồi. Giọng bây giờ nó cũng hỏng rồi. Hay gì. Trước sang sảng, nay có lúc khản hẳn.


 


Mặc dù có nhiều tác phẩm, ông có thể kể lại những cảm xúc nao lòng em ơi buồn làm chi, anh đưa em về sông Đuống… làm rung động nhiều thế hệ?


Chuyện này nghiên cứu văn học có phân tích nhiều nhưng tôi vẫn sẽ nói thêm cái cảm giác của một đêm khuya năm 1948 ở khu 12 Phú Bình Thái Nguyên. Mấy anh cán bộ Nam sông Đuống lên báo cáo tình hình Pháp chiến. Tư lệnh Lê Quảng Ba mời tôi sang nghe.


Lúc đó tôi thành lập một đội văn công nhỏ. Tôi nghe họ báo cáo ở Thuận Thành, Lang Tài, La Lương, nó bắt bao người, bắt bao nhà. Đêm về nghe rõ ràng giọng chính mình vang lên mấy câu đầu “Em ơi buồn làm chi…” nó trào ra rất nhanh. Không phải nghĩ nữa. Âm điệu chữ nghĩa cứ tuôn ra. Thương quê mình quá.


 


Nghe nói hồi đó ông cứ phải ngồi đọc cho các cán bộ ở Côn Đảo, Phú Quốc, Campuchia về hội nghị ở Việt Bắc chép bài thơ đó. Sau nó được in ở báo Cứu Quốc. Ông còn giữ tờ báo đó không?


Chiến tranh loạn lạc, làm gì còn.


 


Theo ông, cái gì làm cho khung cảnh một làng quê ông sống mãi trong mọi tâm hồn?


Gắn lòng với dân tộc, thương quê. Cái gì nói lên được quê hương và những người quê hương sẽ trường tồn. Đó là một quy luật.


 


Nhưng có thời hình như nó bị cấm?


Lúc đó tôi nghĩ: cứ cấm đi, chỉ 10 năm nó sẽ sống lại… Không gì dìm cho nó “chết” được.


 


Ông sống rất lâu ở Hà Nội, nhưng lại không làm thơ về Hà Nội?


Tôi ở từ năm 1941-1942 khi diễn vở “Kiều Loan”. Lúc đó mới biết Hà Nội nó ở chỗ nào. Không biết thích gì ở Hà Nội. Vì nó ít kỷ niệm, hoặc kỷ niệm không đáng nhớ lắm. Cũng đi học, đi thi…


 


Bây giờ những tứ thơ còn đến với thi sĩ nữa không?


Thơ đầy bụng nhưng không viết được. Chỉ 3 phút là tư tưởng loãng, rối dần. Biết thôi hết rồi.


 


Thì ghi âm, hoặc gọi con cháu ghi giùm, không thì phí quá.


Phải nhớ, là rắc rối rồi.


 


Vậy phải nằm suốt ngày, nhà thơ nghĩ gì?


Không có một việc gì để làm cả. Nghĩ về dĩ vãng, công việc, vợ con, bạn bè. Chỉ thoáng thôi. Nhớ giờ không sâu nữa.


 


Kể cả nhiều mối tình đã từng say đắm, thi sĩ đa tình cũng quên hết sao?


13 người giai nhân – kể những người có “thành tích” tên tuổi. Linh tinh không dễ. Hầu như họ ở Sài Gòn hoặc tản mạn đi đâu hết.


 


Ông nằm trên tầng lầu cao nhất của ngôi nhà gần sát Nhà thờ Lớn. Hàng ngày nghe tiếng chuông có gợi nhiều buồn vui, dĩ vãng?


Chuông nhà thờ ở thàmh phố không thể nào sánh với chuông chùa vùng quê. Xâm xẩm chiều buông, tiếng chuông chùa quê Việt Nam nó ghê lắm. Từng tiếng một, tắt hẳn dư âm mới tiếp tiếng khác, chìm dần, đưa vào cõi không. Vời vợi rồi chìm hết. Nghe tiếng chuông chùa ở nhà quê mới hay. Chùa Quán Sứ cũng có, nhưng nó ở thành phố, không thực không khí Việt Nam. Muốn hưởng cái hay phải ở nhà quê yên tĩnh. Mà phải nghèo.


 


Sao vậy ạ?


Nghèo – cảm thấy hư vô không còn gì cả. Tiếng chuông chùa lên là thôi, tan dần, mới thật là Phật. Chuông nhà thờ buồn chiều một tí, nhưng chuông chùa ở nhà quê đưa người ta hiểu đúng thế nào là hư vô.


 


Nằm “trên trời” thế này ông có theo thời sự không ạ?


Đọc báo. Xem TV cả ngày phát chán. Giá lên. Có cảm giác nhân loại này TV Việt Nam nói nhiều nhất thế giới. Thấy nói thừa nhiều quá. Mà các ông đi thăm chỗ này chỗ kia, chả thấy nói ông ấy làm gì, bàn gì không biết.


 


Cuộc sống sinh hoạt hiện nay của ông thế nào ạ?


Ăn cháo với thịt băm. Củ cải dầm ăn được. Còn thuốc lào thì không kể được. Anh Nguyễn Đình Toán còn nhớ đấy. Năm 1993 vào Huế, ông Hải Bằng về nhà chặt tre làm điếu đem đến không kịp. Chúng tôi ra đến Quảng Trị nhờ trẻ con đi mua điếu không có. Một lần ra sân bay, Toán uống bia xong đục cái vỏ lon bia làm điếu.  


Hút vậy hại sức khoẻ lắm.


Câu ấy ai cũng nói. Nhưng nó theo cả đời rồi. Mình phải cầm đóm lấy mới ngon, Để người châm hộ không ngon.


Thật ra sống đủ rồi, không muốn sống đau ốm, thế nên cho trách giời một tí.


 


Nguyễn Thị Ngọc Hải.


Nguồn: Báo Người Đô Thị. 2008


Bản điện tử Viet-studies.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »