tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
12.10.2010
Dương Trung Quốc
Bài của DTQ và bài phản biện của Cao Đức Trường

Lẽ phải và lòng người


Dương Trung Quốc


… Quan trọng hơn lời khen hay chê chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải và lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự đổi thay tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập.


 


Sử học và sử gia


Phải thừa nhận rằng một thời giới “sử gia-công chức” thực hiện xuất sắc vai trò minh hoạ và là vũ khí đấu tranh tư tưởng trong một thời kỳ đòi hỏi bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh-cách mạng để đạt tới mục tiêu chiến thắng, không chỉ ngoại xâm mà cả những “tàn dư của chế độ cũ”.


Đọc “Tạp chí Văn Sử Địa” và tiếp đó là “Nghiên cứu lịch sử”- cơ quan ngôn luận của Viện Sử học Việt Nam, cơ quan “quản lý nhà nước” trên lĩnh vực lịch sử dân tộc sẽ thấy quan điểm lập trường là “thẳng tuột” không nương nhẹ đối với những vấn đề lịch sử, đúng với tinh thần “đưa 4000 năm vào trận đánh”. Điều đó không chỉ diễn ra hồi đánh Pháp rồi Mỹ, mà cả thời “chống bành trướng”.


Đặt vào bối cảnh ấy, những vấn đề của các chúa Nguyễn nhất là Vương triều Nguyễn được đặt ra liên tục vẫn với tinh thần “phản đế, phản phong”, trừ các chiến công giữ nước của các triều đại phong kiến, mà thời các chúa Nguyễn hầu như chỉ diễn ra hình thái nội chiến (Trịnh-Nguyễn, Lê-Mạc, Nguyễn-Tây Sơn), có chăng là sự kiện các chúa Nguyễn đánh bại hạm thuyền Hà Lan ở Đàng Trong nhưng không có mấy ý nghĩa so với một đánh giá chủ đạo là tiêu cực. Còn với nhà Tây Sơn, với chiến công hiển hách dẹp bỏ phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài, đánh Xiêm đuổi Thanh thì đương nhiên được tập trung nghiên cứu đánh giá cao, đến mức có người coi đó là “cách mạng Tây Sơn”.


Nhiều đề tài đã liên tiếp được đưa lên mặt tạp chí để thảo luận nhưng chủ yếu là để khẳng định nhiều hơn, để tranh luận nhằm đánh giá trực tiếp hay gián tiếp triều Nguyễn thông qua các chủ đề như “ai thống nhất quốc gia”, “khởi nghĩa nông dân”... và các cuộc thảo luận về các nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt... cho tới cả Nguyễn Công Trứ... đều trở thành những diễn dàn để công kích nhà Nguyễn một cách triệt để.


 


Tại cuộc hội thảo vừa rồi, bài tham luận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An từ cố đô Huế nhắc lại những đoạn trích trong lời giới thiệu bản dịch sách “Đại Nam thực lục” của Viện Sử học (1961) hay các bộ sách khi đó được coi là chính sử do Uỷ ban KHXH tổ chức biên soạn (Lịch sử VN tập I, 1971 , tập II, 1985) là sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “Tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn” v.v...dành cho thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.


Quan điểm ấy có thể thấy được trong nhiều ứng xử xã hội như huỷ hoại các di tích có liên quan, xoá bỏ các hình thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” như Duy Tân cũng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội...


Nhà nghiên cứu xứ Huế cũng lần ra người đầu tiên trong giới “sử gia-công chức” là GS Trần Quốc Vượng- người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ “Sông Hương” (Huế) vào năm 1987 khi ông bày tỏ : “Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình, và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Điều ông nói diễn ra một năm sau “Đổi mới”(1986) và sáu năm (1987) trước khi quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại (1993).


 


Đổi mới nhận thức lịch sử


Có thể nói rằng chính cái nguyên lý khởi động công cuộc đổi mới là “Dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật” đã thúc đẩy và mở ra một điều kiện mới cho nhận thức lịch sử. Kể từ đó đến nay đã hơn hai thập kỷ thời gian gắn với đổi mới. Chính những yêu cầu của cuộc sống và phát triển đã đòi hỏi sự nhận thức quá khứ vượt qua được những quán tính của thời chiến tranh và cũng thoát ra khỏi những quan điểm ấu trĩ về đấu tranh giai cấp, về một chủ nghĩa duy vật lịch sử giáo điều.


Nhưng liệu có phải như cảm nhận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đứng trước sự đánh giá lại các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, là như một “sự đảo lộn về nhận thức” hoặc tìm câu trả lời cho nhà thơ Nguyễn Duy, người đang làm bộ phim về ba ông vua yêu nước rằng: “Không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hoá của vương triều này”, và vì sao lại phải “khơi dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này?


Thực ra những chuyển biến trong nhận thức về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn đã khởi động qua cả một quá trình. Ai cũng biết khi vấn đề đấu tranh chứng lý để bảo vệ chủ quyền các quần đảo ngoài biển Đông, không thể không nhắc đến thời các chúa Nguyễn đã tổ chức những hình thức thể hiện quyền quản lý lãnh thổ gắn với những hành động vô cùng dũng cảm của những người lính phụng mệnh các chúa thực hiện nghĩa vụ của mình. Tấm bản đồ được vẽ thời vua Minh Mạng có dải “Vạn lý trường sa” là những bằng chứng đanh thép bảo vệ lợi ích quốc gia.


 


Năm 1988, Hội Sử học VN tái phục hồi (được thành lập từ 1966 do cố Viện trưỏng Viện Sử học Trần Huy Liệu sáng lập, nhưng sau khi ông qua đời vào năm 1969 thì hội cũng chỉ còn duy trì một vài hoạt động đối ngoại). Kể từ đó nhiều cuộc hội thảo về đổi mới sử học, trong đó có những hội thảo đổi mới nhận thức về nhà Nguyễn và các chúa Nguyễn đã được tổ chức ở nhiều trung tâm giảng dạy và nghiên cứu, có những đề tài cấp nhà nước và giới sư phạm cũng đã bàn về việc giảng dạy những vấn đề liên quan trong nhà trưòng, trong biên soạn sách giáo khoa...Tiếp đó, cố đô Huế là di sản sớm nhất được công nhận Di sản thế giới.


Cũng trong năm 1988, giới sử học tổ chức kỷ niệm 130 năm thực dân nổ súnng xâm lược (1858) tại TP Đà Nẵng. Khi nghiên cứu kỹ chúng ta thấy triều đình thời Tự Đức hoàn toàn không buông vũ khí, mà đã tổ chức kháng chiến với một năng lực tổ chức và ý chí mạnh mẽ, khiến đạo quân viễn chinh không chiếm được địa đầu này, buộc chúng phải chuyển hướng đánh vào Nam bộ. Những khu mộ Tây Ban Nha và cả một “nghĩa chủng” (nghĩa trang liệt sĩ) của những ngưòi lính triều đình cho đến nay vẫn còn trong thành phố Đà Nẵng là bằng chứng...


Việc để mất nước là một trách nhiệm nặng nề và không thể bào chữa đối với triều Nguyễn. Tuy nhiên không thể đơn giản dùng chữ “bán nước” mà phải đi sâu vào những hạn chế lịch sử của dân tộc ta, chứ không chỉ của triều đình nhà Nguyễn đã không ứng xử được như Nhật Bản hay Xiêm (Thái Lan) khi ứng phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây.


Nhưng số phận của Việt Nam cũng là số phận chung của số đông các quốc gia phương Đông trước họa bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, kể cả nước Trung Hoa khổng lồ vào thời đại đó. Việt Nam không duy tân nổi đất nước có những nguyên nhân căn cốt của xã hội Việt Nam chứ không chỉ do sự tăm tối trong đường lối hay phẩm chất của bộ máy cai trị đất nước đương thời.


Một ông vua Tự Đức, người trực tiếp tổ chức đánh Pháp rồi cũng lại là người chịu trách nhiệm về sai lầm để mất đất, bất lực để mất nước, ngay khi còn sống đã tự vấn về tội lỗi của mình, làm hẳn một tấm bia lớn khắc lời tự hối trên sinh từ của mình (Khiêm Lăng), cũng lại là một nhà thơ lớn với khoảng 4000 bài thơ, trong đó có nhiều bài vịnh lịch sử, tự hào về tổ tiên và tự hổ thẹn vì mình không xứng.


Ta nghĩ gì khi đọc thấy trên vách của điện Thái Hoà, nơi trang trọng nhất trong cung đình triều Nguyễn bài thơ khắc trên gỗ với những vần thơ đầy khí phách và niềm tự tôn dân tộc của vị vua khai sáng triều Nguyễn:


“Văn hiến thiên niên quốc/ Xa thư vạn lý đồ/ Hồng Bàng khai tịch hậu/ Nam phục nhất Đường ngu”. Tạm dịch :“Nước ngàn năm văn hiến/ Vạn dặm một sơn hà/ Từ Hồng Bàng mở nước/ Thịnh trị nước Nam ta”.


Ta nghĩ gì khi biết rằng vua Gia Long đã truất quyền nối ngôi của Hoàng tử Cảnh, người con đã gửi gắm cho giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang triều đình Versaille cầu viện mà không chịu giữ đạo thờ cúng tổ tiên, để trao ngai vàng cho Minh Mạng, con người đầy năng lực cải cách. Con người này đã hướng tầm nhìn ra biển, không chỉ vẽ hải đảo xa xôi trên bản đồ mà còn chỉ huy việc đóng tàu chạy hơi nước bọc đồng và cho người tham quan các tàu biển của Anh và Mỹ “học tập hàng hải biển để phòng khi cần”.


Ta nghĩ gì khi tiếp xúc bộ địa bạ hàng vạn trang do quan lại triều Nguyễn tổ chức đo đạc và biên vẽ, hầu hết các thửa ruộng trên cả nước để quản lý đất đai, hay tổ chức viêc mở mang kinh doanh mà tiêu biểu như doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập ra hai huyện lấn biển Tiền Hải-Kim Sơn hay Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế đến nay càng thấy tài giỏi v.v...


 


Đổi mới tư duy chính trị


Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng đi thị sát con sông đào này với lòng thán phục quan lại và dân chúng xưa đã để lại một công trình mẫu mực của trị thuỷ kết hợp với quốc phòng và ngoại giao. Có thể nói thêm rằng chính cố TT đã là người động viên mạnh mẽ và thiết thực để tiến tới cuộc hội thảo vừa rồi. Đúng hơn, ông đã là người đồng hành và hỗ trợ cho những nỗ lực của giới sử học tổ chức từng buớc, thúc đẩy quá trình nhận thức lại, bắt đầu từ những việc nhỏ đến lớn.


Tôi không quên, sau cuộc hội thảo về “Thời Gia Long” do Hội Sử học TP.HCM tổ chức bị vài người “phát giác” với các nhà quản lý, khiến có một vài sự phiền phức đối với các nhà tổ chức, thì cuộc hội thảo tiếp theo về Lê Văn Duyệt được tổ chức ngay tại địa phương toạ lạc ngôi Lăng Ông.


Lãnh đạo địa phương trong thâm tâm rất ủng hộ việc làm này vì biết nó thuận lòng dân, nhưng đầy e ngại với những nhà quản lý cấp trên của mình nên né tránh xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt đã đến, ngồi lắng nghe các tham luận rồi phát biểu với những lời đánh giá biện chứng về một chính khách thời Nguyễn đã có công đối với vùng đất và thành Gia Định xưa.


 


Kết thúc hội thảo, ông ra thẳng Lăng thắp nén hương như một lời tạ lỗi. Cho đến cuối đời ông vẫn suy nghĩ về việc con đưòng Lê Văn Duyệt của Sài Gòn xưa đã bị xoá tên vào lúc ông đang có quyền, để rồi trước khi mất không lâu ông đã nói với những người có trách nhiệm của thành phố rằng cần sớm đặt lại tên của vị Tả quân tài năng nhưng bất hạnh này (vì bị cả vua Minh Mạng và cách mạng xử tệ).


Tết vừa rồi Hội Sử học VN cùng những người có tâm đức đã đặt một bức tượng đồng lớn vào Lăng của Ngài với sự đồng thuận của Cục Di sản (Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch) và chính quyền như một sự kiện có ý nghĩa. Ông đã có mặt với một tinh thần cầu thị và quyết vượt qua những nhận thức hạn chế của quá khứ, đồng hành cùng giới sử học tổ chức các cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản.


 


Sau những cuộc hội thảo này ngôi trường tư thục mang tên Trương Vĩnh Ký đã ra đời, và mới đây bức tượng bán thân Phan Thanh Giản do chính cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cung tiến đã được đặt ở quê hương ông...


Gs Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN tại cuộc hội thảo vừa rồi ở Thanh Hoá đã cho biết, chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ lịch sử do UBKHXH chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã nói ở trên, cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (?!).


Có thể có nhiều cách nhìn nhận về vấn đề này, nhưng điều quan trọng hơn lời khen hay chê, chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải, của lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập, đang từng bước vượt qua những quán tính của một thời kỳ lịch sử đã qua, gắn với những yêu cầu của “chiến tranh-cách mạng”, khắc phục những ấu trĩ trên bước đường trưởng thành vì lợi ích phát triển của dân tộc.


 


Vĩ thanh


Tôi muốn kể lại một “kỷ niệm nghề nghiệp” cách đây cũng đã 15 năm khi vào Quảng Bình chủ trì việc tổ chức hội thảo về nhân vật Đào Duy Từ, một người tài năng bị chúa Trịnh bạc đãi nhưng được chúa Nguyễn biệt đãi. Ông chính là tác giả của Luỹ Thày bên sông Nhật Lệ và và Luỹ Trường Dục chặn đứng quân Trịnh bên dòng sông Gianh, chấm dứt binh lửa giữa hai thế lực, giúp các chúa Nguyễn rảnh rang phía Bắc để mở mang bờ cõi về phương Nam.


Mọi việc đã chuẩn bị chu đáo để hôm sau khai mạc hội thảo. Bỗng có tin vì có người bình luận rằng tại sao lại đề cao con người có tội đã đắp luỹ chia cắt đất nước khiến dân tộc phải mang “mối hận sông Gianh”, nên có thể nhiều vị lãnh đạo quan trọng của địa phương sẽ vắng mặt, cho dù trước đó đã hồ hởi nhận lời tham dự. Người chủ trì hội thảo của địa phương vô cùng lo lắng.


Tôi trấn an rằng hội thảo khoa học thì cứ tiến hành, hy vọng kết quả sẽ làm sáng tỏ “công-tội” của người xưa. Lan man sang những câu chuyện bên lề, có ai đó hỏi: “Học giả Đào Duy Anh có phải là hậu duệ cụ Đào Duy Từ không nhỉ?”. Tôi nói rằng không rõ, nhưng thường có chung họ, lại cả đệm nữa thì có thể không cùng nơi phát tích (quê) nhưng thường “suy cho cùng” thì rất có thể có chung dòng máu (thân tộc)... Câu chuyện lan man tiếp rồi đụng đến tên tuổi một nhà lãnh đạo quan trọng hồi đó cũng trùng họ và đệm với cụ Đào Duy Từ. Tôi cũng trả lời tương tự...


Thế rồi, cuộc hội thảo ngày hôm sau thành công rực rỡ, không chỉ vì chất lượng nội dung của nó mà còn vì, và rất quan trọng đối với địa phương là hầu hết các vị lãnh đạo ở tỉnh đều tham dự rất... hồ hởi.


 


Dương Trung Quốc


 


PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ VỀ BÀI VIẾT:


Ho ten: Hồng Quân


Dia chi: 43 Nguyễn Chí Thanh


Email: dangbahongquan@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Tieu de: Công lao vua Nguyễn.


Noi dung: Dù có tranh cãi thế nào đi nữa thì vẫn không thể phủ nhận rằng Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, trăm trận trăm thắng, không thua bất kỳ một chiến dịch nào, một trận chiến nào. Đó là chưa kể đến công lao đánh thắng quân xâm lược Xiêm, Thanh, dùng thuyền thúng mà bắn cháy được cả tàu đồng của Hà Lan và Pháp. Đối với một đất nước giàu truyền thống giữ nước như Việt Nam, công tích của Nguyễn Huệ viết thêm một trang sử oai hùng. Về vấn đề ai là người có công thống nhất đất nước, phải thấy được quyết định táo bạo vượt tầm thời đại của ông. Rất nhiều ý kiến vào thời đó coi Đàng Trong và Đàng Ngoài là hai quốc gia láng giềng. Khi Nguyễn Huệ cưới Ngọc Hân, các quan trong triều vua Lê nói với nhau rằng “Vậy là nước ta đã có một nước dâu gia” (Hoàng Lê Nhất thống chí). Sau khi lấy được giang sơn của các chúa Nguyễn, Nguyễn Huệ đã không ngồi yên ở Đàng Trong mà quyết định vượt sông Gianh, tiến ra Bắc. Người đặt nền móng cho sự thống nhất đất nước là Nguyễn Huệ. Còn các vua Nguyễn, dù có tranh cãi thế nào cũng không thể quên được sự trả thù tàn khốc của Nguyễn Ánh đối với Nguyễn Huệ và Tây Sơn, ngay cả khi Nguyễn Huệ đã qua đời. Không thể xóa bỏ một sự thật lịch sử là các vua nhà Nguyễn, trước sự thay đổi của thời đại, đã không nhận thức được xu thế tất yếu, duy trì đất nước trong cảnh tăm tối, đạo học cổ hủ, như Nguyễn Trường Tộ đã chỉ ra, “ngồi ở phương Nam mà bàn chuyện phương Bắc, đất Nghệ An, Hà Tĩnh mà lại đi nói chuyện Sơn Đông, Sơn Tây, v.v…” Để đất nước yếu kém, rơi vào cảnh ngoại xâm, anh em trong nhà giết hại lẫn nhau, xây lăng tẩm tốn kém, khởi nghĩa nổ ra rất nhiều.


 


Ho ten: Nguyễn Ngọc Hà


Dia chi: TP Phan Thiết


Email: nguyenhabt@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Noi dung: "Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị. Thời đại nào, ở đâu và ai cầm bút viết sử cũng vậy. Chỉ có điều chính trị biết phục tùng quy luật, căn cứ vào tính chân thực trong nhận thức quá khứ, đó sẽ là nền chính trị bền vững và trường tồn, cho dù đạt tới tiêu chí đó không dễ dàng. Và ngược lại, nếu bất chấp quy luật, duy ý chí thì chỉ có thể đạt đựoc những mục tiêu trước mắt nhưng


sẽ không bền vững. Sử học bao giờ cũng là sự phản chiếu nền chính trị đương thời". Tôi tán đồng nhận định trên. Mong rằng các học giả uyên thâm có cao kiến để chúng tôi được học hỏi.


 


Email: anhld@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Noi dung: Đánh giá về lịch sử (thời xưa) là một vấn đề không đơn giản. Làm sao để có cái nhìn biện chứng, khách quan, công bằng là một vấn đề quan trọng. Theo tôi, cần có cái nhìn toàn diện, đúng đắn về những gì đã qua (như triều đại nhà Nguyễn) là một việc đáng làm!


 


Ho ten: Không họ tên


Noi dung: Tôi đồng ý với nhận định của nhà sử học Dương Trung Quốc.


 


Ho ten: Bong


Dia chi: Lâm Đồng.


Email: phanvanbong_linh@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Tieu de: Xin cám ơn


Noi dung: Xin cảm ơn bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc. Người La Mã nói "Hãy trả lại cho Xeda...". Rồi đến lúc nào đấy chân giá trị sẽ sáng tỏ, công- tội sẽ phải rõ ràng. "Người lớn" và "người nhỏ" rồi cũng có lúc ngồi lại với nhau mà hướng về "người xưa" một cái nhìn công tâm nhất, để "người trẻ" sau này biết yêu biết ghét cho phải đạo hậu sinh. Phải không ạ?


 


Ho ten: Nguyễn Anh


Dia chi: Việt Nam


Noi dung: Xin chân thành cảm ơn nhà sử học Dương Trung Quốc có cách nhìn nhận cực kỳ khoa học và khách quan, đúng với lương tâm của một nhà khoa học. Những quan điểm sử học đúng đắn sẽ góp phần định hướng cả dân tộc Việt Nam là một khối đoàn kết


trên con đường phát triển.


 


Ho ten: Nguyễn Đình Thảng


Dia chi: Nha Trang- Khánh Hòa


Email: khang060903@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Tieu de: Chính trực- tiêu chí số 1


Noi dung: Tôi rất vui đọc hai bài của NSH Dương Trung Quốc. Tôi chia sẻ với ông về sự "chừng mực" cần thiết. Tôi nghĩ sự cực đoan cũng có lúc rất "cần"; tuy nhiên, trong sử học thì phải hết sức tránh.


 


Ho và ten: KTS Trần Thanh Vân


Noi dung: Tôi không phải là nhà sử học, nhưng là kiến trúc sư, tôi lại nghĩ rằng lịch sử và các nhân vật lịch sử đã tạo nên dấu ấn quan trọng của thơì đại sinh ra họ, đó là lãnh thổ, kinh đô và kiến trúc


.


Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại đã từng có rất nhiều anh hùng và có nhiều bạo chúa, có các cuộc chiến tranh đẫm máu và có những cuộc xây dựng bền bỉ và vĩ đại, tạo nên những công trình bất hủ tồn tại mãi mãi với hậu thế, đó là những kỳ quan ở Athens và ở La Mã mà ngày nay vẫn được cả thế giơí ngưỡng mộ và thán phục. Ai Cập cổ đại cũng để lại cho chúng ta những kim tự tháp hùng vĩ mà giơí khoa học hiện đại vẫn chưa hết kinh ngạc bởi tài sáng tạo kỳ lạ của các Pharaoh. Ở Trung Quốc hơn 2000 năm trước, Tần Thuỷ Hoàng cũng là một bạo chúa, nhưng người Trung Quốc ngày nay rất tự hào viết lên dòng chữ ngợi ca di sản vĩ đại: “Bất đáo Trường Thành, phi hảo hán”, bởi vì chính là Tần Thuỷ Hoàng chứ không ai khác, đã được hậu thế ghi nhận là người có công đầu trong việc hợp nhất và mở mang cương thổ đất nước Trung Hoa bao la thành một quốc gia thống nhất. Ở thành phố Arga Ấn Độ, vua Shajehan xây Đền Taj Mahan nôỉ tiếng đẹp và tinh xảo chỉ để kỷ niệm tình yêu với vợ là Hoàng hậu Mumjaz Mahal.


 


Ở đất nước ta, công trình kiến trúc cổ được lưu lại không nhiều lắm, nhưng cũng đủ để cho chúng ta ghi nhận những bước thăng trầm của Lịch sử. Cổ xưa nhất là khu di tích Đền Hùng ở xã Phong Châu tỉnh Phú Thọ và kế tiếp là khu Đền Cổ Loa thờ Thục Phán An Dương Vương và thờ Ngô Quyền. Do kiến trúc của Việt Nam chỉ là kiến trúc gỗ, nên hầu hết các khu di tích đều đã được trùng tu nhiều lần, chúng ta không thể đánh giá nghệ thuật kiến trúc nguyên thuỷ của khu di tích đó khi nhìn vào các công trình đã trùng tu này, nhưng ta có nhiều cơ sở để đặt niềm tin vào thời kỳ huy hoàng của những triều đại đã tạo ra các khu di tích, cho dù lúc này chỉ còn phế tích. Đến thăm khu di tích Đền Hùng và được nhìn thấy rất nhiều cổ vật thu nhặt được, trong đó có chiếc trống đồng Đông Sơn đường kính tới gần 100cm và cao tới 60cm, người tham quan không thể không thừa nhận các Vua Hùng và nước Văn Lang xưa đã có một thơì rất thịnh vượng. Đến thăm đền Cổ Loa, câu chuyện truyền thuyết về môí tình Mỵ Châu- Trọng Thuỷ và việc tồn tại một cái am thờ một người con gái cụt đầu trong suốt nhiều thế kỷ qua đã được dân ta trân trọng thờ phụng, tất phải nói lên một dụng ý sâu sắc nào đó. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng thơì kỳ đó dân ta khá giầu và nghề đúc đồng rất phát triển. Ông cũng cho rằng thời kỳ đó dân ta đã có một bài học đắt giá về lòng nhân hậu và tình yêu chung thuỷ đã đặt không đúng chỗ.


 


Trở lại việc đánh giá Vương triều Nguyễn, tôi cho rằng “công và tội ” sẽ được đánh giá không khó lắm bởi vì đây là triều đại cuôí cùng, mới kết thúc hơn 60 năm thôi. Tuy vậy, dù triều Nguyễn có “công” hay có “tội”, thì Kinh thành Huế, một di sản văn hoá của đất nước, mà đã bị đập phá như đã từng bị đập phá nhiều năm qua là lối hành xử thiếu văn hoá, thiển cận không thể chấp nhận được. Cũng tương tự như vậy, việc vua Nguyễn Gia Long đã cho đập tan Hoàng thành Thăng Long năm 1803, nhằm xoá quyền uy của hào khí Thăng Long, rôì sau đó vua Minh Mạng lập ra tỉnh mang tên Hà Nôị, có nghiã là “trong sông” tầm thường, làm cho giơí chí sĩ Hà thành ôm hận hơn 200 năm qua cũng không thể được. Việc phục hồi những dấu tích giá trị của Hoàng thành Thăng Long và phục hôì tên Thủ đô Thăng Long trong dịp kỷ niệm 1000 năm là vô cùng cần thiết, cũng như việc tu tạo cố đô Huế, để Huế mãi mãi là một di sản văn hoá của đất nước, là trách nhiệm của cả nước. Các thế kỷ sau này, hậu thế có thể cho qua “công và tôị” của các nhân vật lịch sử, nhưng hậu thế sẽ rất trân trọng kho tàng văn hoá do các nhân vật lịch sử để lại, cho dù khơỉ đầu họ làm là vì ham muốn riêng của cá nhân họ


 


Ho ten: Nguyễn Trung


Dia chi: Hà Nội


Email: tritrung1963@...Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó


Tieu de: Một bài viết hay.


Noi dung: Tôi rất tâm đắc với bài viết của nhà sử học Dương Trung Quốc.Cổ nhân nói, nếu lấy cái tội mà lấp mất công lao của người ta là bất nhân. Hơn ai hết, sử gia phải là người trung thực, công bằng và có lòng nhân. Vì có lòng nhân mới đánh giá đúng công và tội, mới không có đen, trắng thay đổi. Còn nếu không có thì chỉ viết ra ngụy sử mà thôi. Nhân đây cũng mong muốn giới sử học nước nhà sẽ có những hội thảo đánh giá đúng bản chất công và tội của các triều đại Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung, chúa Trịnh và Tây Sơn.


 


 


Đâu là “Sử học minh hoạ” và đâu là “Sử gia công chức”?


Cao Đức Trường


Thưa nhà sử học Dương Trung Quốc:


Tôi đã đọc bài “Lẽ phải và lòng người” của ông đăng trong Tạp chí Xưa & Nay số 320, tháng 11-2008. Qua bài viết của ông, tôi thấy có nhiều điều chưa ổn nên trao đổi với ông mấy ý sau đây:


Mở đầu bài viết ông đặt vấn đề sử học và sử gia nước ta thời trước đây: “Phải thừa nhận rằng một thời giới “sử gia công chức” thực hiện xuất sắc vai trò minh hoạ và là vũ khí đấu tranh tư tưởng trong một thời kì đòi hỏi bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh - cách mạng để đạt tới mục tiêu chiến thắng, không chỉ ngoại xâm mà cả tàn dư chế độ cũ”. Từ luận điểm đó dẫn đến việc ông cho rằng các “sử gia công chức” ấy đã “minh họa” bằng sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn…” hoặc theo ý nhà thơ Nguyễn Duy mà ông đã tán dương: “Không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa của vương triều này?” (Câu sai ngữ pháp: cái gì “lại bị…”?). Như vậy, những sử gia như ông miêu tả đó phải gọi là các “sử gia chiến sĩ” chứ sao lại miệt thị là “sử gia công chức”.


 


Như vậy, những sử thần - là các bậc tiền bối - đã từng chép sử cho chúng ta học là những ai? Ngay như các ông ở Viện Sử học bây giờ và cả ông nữa chẳng lẽ đều không là “sử gia công chức” đấy sao?


 


Theo ý ông, những người làm cái công việc minh hoạ đã áp đặt những sai lệch về nhận thức đối với một giai đoạn lịch sử - cụ thể là giai đoạn chúa Nguyễn và triều Nguyễn - đã làm biến dạng, đã hạ thấp những giá trị lịch sử và văn hóa của triều Nguyễn một cách “oan sai”.


 


Ông Nguyễn Duy là nhà thơ, có lẽ vì vậy mà ông ấy hơi bốc đồng một chút, nhưng ông, với tư cách là một nhà sử học, lại đi ca ngợi một câu nói có vẻ như ông ấy mới từ trên trời rơi xuống hoặc từ một xứ sở xa xôi nào đó mới đến đất nước này nên ông ấy thắc mắc “không hiểu tại sao và từ lúc nào…”. Chẳng lẽ ông ấy và bản thân ông trước nay lại vô tâm với lịch sử nước nhà đến vậy sao?


 


Ông Nguyễn Duy không phải là nhà sử học thì không nói làm gì nhưng ông thì khác, những điều ông nói sử sách đã ghi chép cả rồi, tôi tin ông là người có chuyên môn, ông thuộc nó hơn tôi. Song khi đọc những dòng của ông viết tôi thật sự ngạc nhiên: Hóa ra những tên tuổi như Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Đinh Xuân Lâm, Văn Tạo… và cả bản thân ông nữa, cách đây không lâu, đã gây một tác hại ghê gớm do thiếu trách nhiệm với lịch sử, với dân tộc và vì là những “công chức” nên các ông ấy đã “minh hoạ” không đúng sự thật, không hợp với “lẽ phải và lòng người”.


 


Ông cần bình tâm mà nghĩ lại coi về những điều tôi đề xuất sau đây:


 


Nhà Nguyễn không có ông vua nào rước giặc về giày xéo quê hương, giết hại đồng bào mình ư? Kẻ thù rắp tâm cướp nước mình, ai mới đánh mấy trận đã vội đầu hàng? Đòi bắt, đòi giết và thực tế đã bắt người kháng chiến, đánh giặc nộp cho kẻ đang cướp nước mình mà không gọi là phản động, phản bội thì gọi bằng gì? Thôi thì gọi là “đại nghịch vô đạo” có được không?


 


- Trong việc học hành thi cử, chính vua Minh Mạng cũng cho đó là “hủ lậu” chứ đâu đợi đến bây giờ chúng ta đem ra để tranh cãi. Hoặc như cụ Phan Bội Châu đã viết: “Nhìn chung lại, nước ta bị diệt vong, do rất nhiều điều tệ. Tội nhiều không thể kể hết, nhưng trong đó có bốn cái tội lớn: Một là ngoại giao hẹp hòi, hai là nội trị hủ bại, ba là dân trí bế tắc, bốn là vua tôi trên dưới tự tư tự lợi”. Như vậy, khi nói đến sự hủ lậu hoặc hủ bại của triều Nguyễn lại không hợp với “lẽ phải và lòng người” ư?


 


- Kiêu căng, tự mãn, gọi người Nhật là “đông di”, gọi kẻ thù là “bạch quỷ” nhưng khi đánh nhau với nó có mấy trận, thấy võ khí nó tối tân hơn mình thì hoảng sợ rồi đầu hàng. Đánh giặc mà không biết địch biết ta, tự cắt đất trao thành cho giặc thì không gọi là tối tăm, ngu xuẩn hay sao? Hoặc như Tự Đức khi bình luận về chiến công của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo lại cho là do tướng giặc dở chữ ta cũng đâu có tài ba gì. Trường hợp này không biết có nặng hơn sự tối tăm, ngu xuẩn hay không?


 


- Một triều đại đã đi từ làm mất nước đến làm tay sai cho giặc thì không thể gọi đó là một triều đại mục nát, phản động hay sao?


 


Đâu chỉ có chừng đó. Còn việc “bế quan tỏa cảng”, việc bỏ chữ Nôm phục hồi chữ Hán một cách triệt để, khư khư ôm lấy hệ tư tưởng của đạo Nho đã quá lỗi thời làm cho dân trí chậm phát triển. Rồi cấm đạo, giết giáo sĩ, đàn áp giáo dân. Gạt bỏ tất cả những đề nghị canh tân, mở mang đất nước. Tất cả những vấn đề như vậy đâu phải là những “minh họa” tạo ra “oan sai” nhằm “hạ thấp thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa” như các ông nói? Tôi nghĩ chúng ta cần bình tĩnh xem lại coi đó có phải là những sự thật lịch sử hay không? Nếu đó là những sự thật lịch sử thì ai đã mạt sát ai khi các ông cho rằng các nhà sử học trước đây là “ấu trĩ, giáo điều”.


 


Một vấn đề hệ trọng khác là vấn đề bán nước. Triều Nguyễn có bán nước không? Tôi đã từng thấy một số ý kiến khi bình luận câu “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân”, người ta nói cụ Phan đến khi chết vẫn chỉ ở trong gian nhà cỏ. Cụ đã được vua Tự Đức tặng bốn chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán” và như một người Pháp rất có thiện cảm với cụ Phan đã viết: “… ông kinh lược đã chết trong một gian nhà cỏ mà ông đã ở, trong thời kỳ nắm quyền cai trị, như thế muốn mỗi người thấy gương xả kỷ, nghèo nàn và liêm khiết đến một mức cao lúc ông tại chức” (Tập san Sử Địa số 7 - 8 năm 1967 - Sài Gòn). Thông thường, mại quốc là để cầu vinh, nhưng cụ đâu có được gì ngoài chén thuốc độc và gian nhà cỏ. Người ta đã cố tình lý giải một cách đơn giản rằng: khi mua bán thì phải có tiền, vàng đem về nhà. Phải nói ngay, nhận định như vậy là sai lầm! Sau hàng ước năm 1862, khi nói bán nước, chúng ta phải hiểu hai từ này ở một cấp độ khác. Khi nhân dân kết tội “Phan Lâm mại quốc, triều đình khí dân” là nhân dân đã kết tội cả tập đoàn vua quan phong kiến nhà Nguyễn bán nước để được cái “cầu an” để được tiếp tục yên vị trên ngai vàng, tiếp tục được nắm quyền lực thống trị. Thà cắt cho giặc một ít đất để được yên còn hơn đánh nó, chống nó thì chắc chắn sẽ thua, khi đó có thể mất tất cả. Cái “cầu an” đó giá trị hơn vàng bạc châu báu biết bao nhiêu, giá trị đó đâu có cân đong đo đếm được.


Từ năm 1942 ở Việt Bắc, Bác Hồ đã viết về trách nhiệm của nhà Nguyễn:


“Nay ta mất nước thế này


Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà


Khác gì cõng rắn cắn gà


Rước voi giày mả thiệt là ngu si


…


Nay ta nước mất nhà tan


Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn


…


Ngàn năm gấm vóc giang san


Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây


Tội kia càng đắp càng dày


Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”…


Bác Hồ viết và nói về triều Nguyễn chắc còn nhiều, nhưng chỉ với mấy dòng như trên chúng ta thử nghĩ xem Bác Hồ đã “minh hoạ” cho ai? Có thuộc loại “sử gia công chức” trong quan niệm của ông không? Còn cụ Phan Bội Châu, không biết “minh họa” cho ai mà cụ đã viết: “Nỗi đau thương của Sài Gòn, toàn lục tỉnh bị cắt, thì mới như một ngọn roi quất mạnh vào đầu người ngủ. Nhưng “con ma ngủ” nhập vào rồi, đau đớn như không còn biết làm thế nào mà vẫn cứ mơ mơ, màng màng, thân không chuyển, mắt không động, vẫn say mê thơ phú như xưa, vẫn đắm đuối cung đàn nhan sắc như xưa, vẫn chôn cất tiền bạc như xưa, vẫn đóng cửa giữ điều ngu muội như xưa, vẫn xem ba quân là phường vô dụng như xưa, vẫn bắt nhân dân mù điếc như xưa. Một giấc ngủ kéo dài từ bé đến già, đến chết. Thật cũng là một vật kỳ quái trong thế gian!”.


 


Năm 1999, Nhà xuất bản TP.HCM đã xuất bản quyển “Lịch sử Việt Nam - Thế kỷ XIX” của nhà sử học Nguyễn Phan Quang, theo ý ông, chắc cũng là một “sử gia công chức” đã “minh họa” ý của Bác Hồ ở câu “tội kia càng đắp càng dày” (vì Bác Hồ viết sử khi còn ở chiến khu, Bác đâu có đủ tư liệu như chúng ta bây giờ). Ở tập lịch sử này, nhà sử học Nguyễn Phan Quang đã cung cấp cho chúng ta nhiều tư liệu rất quý mà ông đã đem về từ các kho lưu trữ của Pháp (Việc này nhiều nhà nghiên cứu sử học khác cũng đã cung cấp được một ít và đã công bố ở các tập san Sử Địa trước đây). Tôi thấy dường như các ông đã cố tình lờ đi những sử liệu này không có lợi cho ý định làm trạng sư bào chữa - thậm chí tô son trét phấn - cho những tội lỗi của triều Nguyễn trước những sự thật khách quan của lịch sử.


 


Ông đã hỏi người ta thấy gì từ việc Gia Long truất ngôi của Hoàng tử Cảnh, thấy gì trên bia đá ở Khiêm Lăng? Ông hỏi nhưng không thấy ông nói là ông đã thấy gì. Ông đã đánh đố thì tôi cũng xin thử trả lời dù biết rằng sẽ không trúng ý ông, dù đó là sự thật lịch sử. Làm sao Gia Long trao ngai vàng cho Đông cung Cảnh khi Minh Mạng lên ngôi thì Đông cung Cảnh đã chết từ lâu và nếu còn sống ông ấy cũng khó mà làm vua khi ông ấy đã theo đạo Thiên chúa, từ chối không chịu lạy bàn thờ Tiên tổ. Phải trao ngai vàng cho Minh Mạng để ông này hành xử với đạo Thiên chúa sắt máu hơn và khỏi bị ràng buộc vì ơn nghĩa với đám Bá Đa Lộc đang bộc lộ dần ý định chi phối triều đình với cá nhân Nguyễn Ánh… Suy cho cùng, đó là hệ quả của việc làm tệ hại là đem sinh mạng của con mình, cả ấn tín tượng trưng cho quyền lực của mình thế chấp cho người ta để phục hồi cái ngai vàng đã sụp đổ, để rồi bọn Pháp sau này gây khó dễ với triều đình nhà Nguyễn, và cũng còn một lẽ khác nữa là khi Minh Mạng lên ngôi, Đông cung Cảnh bị bệnh đậu mùa đã chết từ lâu, nếu có truyền ngôi cho vị trí gọi là chính thống thì phải truyền ngôi cho con của Đông cung Cảnh là Mỹ Đường nhưng có vụ án không biết có thật hay không và cũng chẳng hay ho gì để nhắc ở đây. Đó là việc Lê Văn Duyệt sai người dìm bà Tống Thị Quyên - mẹ của Mỹ Đường - xuống nước cho đến chết. Nếu vụ án Mỹ Đường và Tống Thị Quyên là có thật thì quả là tệ hại, còn nếu đây là thủ đoạn chính trị để tranh giành quyền lực của con cháu Gia Long thì càng tệ hại hơn nhiều.


 


Không biết ông thấy gì từ tấm bia đá ở Khiêm Lăng? Riêng tôi, tôi thấy đau xót và nhục nhã vì mất nước và càng đau xót nhục nhã hơn khi dân tộc này phải chịu cảnh nô lệ gần một trăm năm. Và tấm bia đá ấy có rửa được cái nhục, cái đau của dân tộc này không? Nói tới vua nhà Nguyễn, tôi nhớ tới bài học lịch sử mà thầy tôi đã giảng hồi còn đi học ở Sài Gòn, cách mấy chục năm rồi giai thoại về nhà Nho yêu nước Phan Văn Trị khi viết về vua nhà Nguyễn “Vừa đi vừa đái vẽ nên rồng”. Và sau đó cụ Phan Bội Châu cũng nói “Thanh triều Trung Quốc cũng như Nguyễn triều Việt Nam đều là phường chó chết mà thôi”. Như vậy thái độ coi khinh vua nhà Nguyễn xem ra còn nặng nề hơn mấy ông “sử gia công chức” theo ông nói rất nhiều.


 


Ông có nhắc tới khoảng bốn ngàn bài thơ của Tự Đức, tôi cũng xin bắt chước cụ Phan Bội Châu mà nghĩ rằng: giặc đang đánh tới bên hè mà còn ung dung ngồi làm thơ than mây khóc gió thì không phải là “kỳ quái” lắm sao? Chưa kể tới việc từ năm 1862 đã mất ba tỉnh miền Đông, trong khi giặc đang lâm le chiếm luôn ba tỉnh miền Tây thì năm 1864 Tự Đức ra lệnh xây Khiêm Lăng, có lúc huy động tới 3.000 người. Cũng có thể coi đây là việc ‘kỳ quái” nữa không? Ông có trách rằng: “Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội…”. Ông đã trách oan Đảng và Nhà nước rồi. Ngay từ năm 1976, khi đất nước còn bộn bề, ngổn ngang, cả nước đang vật lộn với muôn vàn khó khăn, NQ Đại hội Đảng lần thứ IV vẫn không quên ghi câu: “Làm tốt công tác bảo tồn bảo tàng, xây dựng những tượng đài kỷ niệm cách mạng và kháng chiến, giữ gìn và tu bổ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tổ chức tốt việc triển lãm và các cuộc tham quan nhằm giáo dục truyền thống đấu tranh, lòng yêu nước và tự hào dân tộc”. Như vậy, nếu việc giữ gìn và tu bổ các di tích lịch sử có sơ xuất, chậm trễ thì đâu phải xuất phát từ nhận thức về giá trị lịch sử, văn hóa.


 


Ông có đề cập tới một số nhân vật lịch sử như: Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký nhưng tới đây bài viết cũng đã khá dài, chúng ta sẽ bàn tiếp vào dịp khác. Dù vậy tôi cũng cần nói trước mấy câu:


 


- Về nhân vật Phan Thanh Giản, riêng tôi và bạn bè của tôi, từ lâu đã có đủ tư liệu, chứng cứ để kết luận cụ Phan đã mang trọng tội, khó có thể bào chữa được.


 


- Về Lê Văn Duyệt, chắc ông cũng thừa biết rằng Lê Văn Duyệt có công hai lần hộ giá Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm. Nguyễn Ánh qua Xiêm để làm gì chúng ta đều biết cả rồi. Việc cầu viện nước ngoài, đương nhiên Nguyễn Ánh phải chịu trách nhiệm chính, nhưng ai cũng biết “thần linh nhờ bộ hạ”, vậy vai trò then chốt của Lê Văn Duyệt trong tập đoàn của Nguyễn Ánh chẳng lẽ không dính dáng gì sao? Công trạng của Lê Văn Duyệt lớn đến mức được phong đến tột phẩm chẳng phải là cái công vừa giúp cho Nguyễn Ánh bằng mọi thủ đoạn để giành lại ngai vàng đó sao? Ông có nhắc đến cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trong những trường hợp này, không đơn giản như ông nghĩ. Đối với Đảng ta không ai có thể vượt qua nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt hành xử như vậy là đúng nguyên tắc của Đảng. Ở đây chúng ta không nên lợi dụng chuyện cá nhân, nhất là những người có danh vị lồng vào chuyện chung để đảm bảo tính nguyên tắc và tính khách quan của lịch sử. Cũng như không nên dựa vào đó để khuynh đảo phải, trái, đúng, sai. Do đó, khi chưa định rõ công và tội thì chưa đặt tên đường, chỉ có vậy thôi.


 


Về trường hợp Trương Vĩnh Ký cũng vậy, bản thân ông ấy đã tự phê “Cuốn sổ bình sinh công với tội”. Tội của ông ấy là tội gì? Cả cuộc đời của ông ấy gắn với lợi ích của ai? Năm 1886, ông được toàn quyền Paul Berl đề cử vào Cơ mật viện của Nam triều, ông đã làm gì trong ấy? Trước và trong thời điểm đó ông đã làm gì nên tội? Người Pháp đã ghi công cho ông ấy như thế nào? Cũng đã có hội thảo về Trương Vĩnh Ký nhưng đã có kết luận thỏa đáng chưa?


 


Để kết thúc bài viết này, qua bài viết của ông (kể cả bài viết của ông Phan Huy Lê và ông Tương Lai đã đăng ở Xưa & Nay số tháng 10-2008) tôi thấy các ông đã nhắm mắt bắn súng lục vào quá khứ khi các ông đả kích nặng nề đối với các nhà sử học ở vào hàng tiền bối, là bậc thầy của mình, đó là điều tôi thấy các ông cần tự vấn.


 


Những vấn đề đã kết luận ở hội thảo vừa qua, tôi thấy các ông đã nặng về kể công và gần như phủ định các kết luận về tội lỗi của triều Nguyễn. Thậm chí ông cho rằng: “Nó phản ánh một sự không cưỡng nổi lẽ phải, của lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập…”. Phải chăng nói ngược lại ý kiến của cụ Phan Bội Châu, của Bác Hồ và của các nhà sử học chân chính lâu nay mà các ông cho là họ đã “chửi tràn chửi lấp” là giá trị của sự công bằng và là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị. Tôi cho rằng các ông đã thiếu thận trọng khi cái công của các ông kể chưa đủ khoả lấp cái tội của nhà Nguyễn mà cụ Phan Bội Châu cho là “nhiều không kể hết” hay như Bác Hồ cũng đã viết “Tội kia càng đắp càng dày”. Tôi cũng không tin rằng nền chính trị này đang thay đổi bằng các kết luận của các ông hôm nay bởi không ai có thể che lấp, phủ mờ được sự thật lịch sử. Nói như ông Dương Trung Quốc chỉ là sự tố cáo mưu đồ lợi dụng sử học vào mục đích chính trị của chính ông mà thôi.


 


Cuối cùng, đổi mới và hội nhập là để dân giàu nước mạnh trên cơ sở chúng ta phải có nhận thức đúng đắn những sự thật lịch sử của quá khứ chứ nhất định đất nước này không thể phát triển bằng những kết luận lập lờ, trắng đen lẫn lộn được thể hiện bằng thứ ngôn từ học thuật có vẻ cao sang, bóng bẩy. Tôi cũng tin rằng những người thông thuộc lịch sử nước nhà chắc chắn còn nhiều, nhiều lắm. Họ không bị đánh lừa bởi các luận điệu gian dối của các ông.


 


Nguồn: Báo Văn Nghệ, Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh. Số 49, ra ngày thứ Năm 12-02-2009. trang 1 và 16-17.


 


blog nguyenxuandien  10h30, ngày 12.10.2010


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »