Như Edith Piaf hát
Tháng 11/2008, tôi có dịp trở lại Pháp lần thứ tư. Chuyến đi này, ngoài việc dự sinh nhật đầy hai năm bé Võ Tiểu Lang, con gái nhà thơ Võ Văn Thận và Mme Lý Hồng Ngọc, với tư cách là cha đỡ đầu, tôi còn có một mục đích khác: thăm người bạn cố tri Albert Clavier. Câu chuyện hai người bạn già chúng tôi tìm lại được nhau sau hơn bốn mươi năm biệt vô âm tín hàm chứa nhiều điều mang dấu ấn của một thời đầy biến động.
Tôi quen Albert Clavier như bạn đồng nghiệp vào cuối năm 1955, một năm sau khi Hiệp nghị Genève lập lại hoà bình ở Đông Dương. Tôi từ Trung đoàn 66, Đại đoàn 304 chuyển ngành về làm phóng viên – biên tập ở Thông tấn xã Việt Nam, còn anh từ Cục Địch vận chuyển về báo Vietnam en marche với chiếc lon thiếu tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Việc Albert trở thành một trong những người “lính da trắng của Hồ Chí Minh1” dường như là một điều tự nhiên. Xuất thân từ một gia đình nghèo, rất sớm, từ tuổi 12, được sự giác ngộ của người anh trai Henri, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, Albert đã tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống phát-xít trong thời kì Đức chiếm đóng. Năm 1947, anh bị lùa vào quân dịch, điều sang Việt Nam cùng Đạo quân viễn chinh Pháp. Với xác tín chính trị được củng cố qua đấu tranh, anh cảm thấy cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống xâm lược Pháp cũng giống như cuộc kháng chiến chống Đức quốc-xã của nhân dân Pháp năm xưa. Bắt liên lạc được với một cán bộ hoạt động địch hậu, anh được đưa ra vùng tự do, nhận nhiệm vụ kêu gọi binh sĩ Pháp trong các trận công đồn và cuối cùng, phụ trách trại hồi chính cho đến khi trại giải tán vào tháng 7/1954. Các tù, hàng binh được hồi hương theo điều khoản trao trả tù binh của Hiệp nghị Genève 1954. Albert không thuộc số đó: anh bị toà án quân sự Pháp tại Hà Nội kết án tử hình vắng mặt ngày 27 tháng 12 năm 1950 vì tội “đào ngũ sang hàng ngũ địch”.
Vậy là Albert ở lại Việt Nam và trở thành nhà báo. Cùng chuyển từ trại hồi chính về làm báo, còn có Boudarel và Tarago, một cựu đại uý trong quân đội Pháp, đã từng tham gia cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha. Tôi thân với Albert hơn vì hai chúng tôi cùng phụ trách đưa tin về những hoạt động văn hoá - xã hội, thường gặp nhau gần như hằng ngày. Thời kì khó khăn của chúng tôi bắt đầu từ năm 1962, khi xảy ra xung đột quan điểm giữa Liên Xô và Trung Quốc, cụ thể hơn, khi BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 9 xác định lập trường đứng về phía Trung Quốc lên án “chủ nghĩa xét lại Khroutchtchev”. Cả Albert và tôi đều bị liệt vào danh sách “xét lại”. Tôi “dính” vào vụ đám tang Dương Bạch Mai, một trưởng lão cách mạng kiên quyết chống đường lối thân Trung Quốc. Cái chết của ông sau một cơn đột quỵ giữa một phiên họp Quốc hội ngay trước khi ông sắp đọc một tham luận mà người ta đoán là sẽ “nẩy lửa”, đến nay vẫn còn là một nghi án. Tôi đại diện cho một số bạn bè văn nghệ sĩ và nhà báo, mang tới một vòng hoa lớn toàn hồng thắm với chiếc băng ghi dòng chữ “Tinh thần người cộng sản chân chính Dương Bạch Mai bất diệt” vào phút cuối của nghi lễ viếng. Tấm băng đã bị xé bỏ ngay khi được chuyển ra ngoài. Hôm đó, khi chiếc xích-lô chở tôi tới trụ sở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cuối đường Tràng Thi, nơi tổ chức tang lễ, chính Albert là người giúp tôi một tay khiêng vòng hoa xuống xe và thúc tôi: “Dépêche-toi, la cérémonie commence déjà!” Tôi bị liệt vào “sổ đen” từ đấy. Đợt học tập “quán triệt” Nghị quyết 9, Albert được dự lớp của cán bộ trung, cao cấp. Trong một buổi lên lớp tại hội trường, do Tổng bí thư (đúng ra, lúc đó là Bí thư thứ nhất) Lê Duẩn đích thân giảng, khi nghe ông kịch liệt công kích Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Pháp, phê phán Maurice Thorez “phản bội giai cấp công nhân”, anh đã đứng dậy bỏ ra về, một cử chỉ mà chúng tôi, dù có bất bình đến đâu, cũng không ai dám làm. Ngay hôm sau, người ta chuyển Albert từ biên tập tiếng Pháp sang biên tập tiếng Tây Ban Nha, thứ ngôn ngữ mà anh hoàn toàn mù tịt! Sau cái đận ấy, chúng tôi hầu như không gặp nhau nữa, vì vào thời điểm này (và còn kéo lâu nữa), mọi tiếp xúc với người nước ngoài, kể cả những người đã công tác lâu năm trong cơ quan Nhà nước, đều bị xem là khả nghi. Giữa năm 1964, tôi được biết nhờ Đảng Cộng sản Pháp làm trung gian, Albert cùng Boudarel và Tarago được đưa sang làm việc ở Đông Âu. Từ đó, tôi bặt tin anh…
Thế rồi, hơn bốn mươi năm sau, do một tình cờ may mắn, cả Albert và tôi cùng có mặt trong số 7 (tháng 5/2005) của tạp chí Carnets du Việt Nam, anh trong một bài phỏng vấn và tôi với bài giới thiệu tổng quan về mĩ thuật đương đại Việt Nam. Eureka! Thì ra Albert đã về Pháp từ 1967 sau lệnh ân xá năm 1966! Tôi nhờ bạn bè bên đó tìm giúp địa chỉ và viết thư cho anh. Như vậy chúng tôi nối lại được liên lạc với nhau, chỉ còn làm sao gặp được nhau, tay bắt mặt mừng! Tình trạng sức khoẻ không cho phép Albert làm một chuyến đi dài cả chục ngàn cây số. Vậy tôi phải là người chủ động tìm đến anh. Tháng 6/2006, được một học bổng của Trung tâm quốc gia Sách (Centre national du Livre) dành cho dịch giả văn học, tôi có dịp thực hiện ý định ấy thì anh lại đang nằm viện. Vợ chồng một người bạn ở Lyon, anh Nguyễn Dư và chị Cúc, đã nhiệt tình lái xe hơn trăm cây số đưa tôi đến bệnh viện chuyên khoa phổi vùng Grenoble, nơi Albert nằm điều trị.
*
Từ trái sang phải: Dương Tường, France Thiên Nga, Albert Clavier
Đưa tôi từ Lyon đến Grenoble lần này là Dominique Foulon, biên tập viên tạp chí Carnets du Việt Nam, người mấy năm trước đã thực hiện cuộc phỏng vấn Albert, và Chánh Mouniama, người Pháp gốc Huế, phụ trách giao dịch và quan hệ công cộng của tạp chí. Lần này thì không phải đến bệnh viện, chúng tôi tới thẳng ngôi nhà hai tầng số 211 Đại lộ Victor Hugo, Saint-Laurent-du-Pont (Isère). Albert ở tầng lầu, tầng dưới anh để cho France mở một tiệm ăn nhỏ lấy tên cháu ngoại anh là Việt Trang. France (tên Việt là Thiên Nga) sinh năm 1962 tại Hà Nội, là con gái đầu của anh với người vợ đầu Việt Nam mà anh buộc phải li hôn sau khi sinh thêm cho anh một con trai. Ít hôm trước khi đến, tôi phone cho Albert, anh mừng rỡ báo tin tập hồi kí của anh (trong đó có vài trang nhắc đến tôi) vừa ra mắt độc giả. Anh đã bỏ phong bì một bản, định gửi đường bưu điện cho tôi, nhưng giờ giữ lại để trao tận tay. Khi tôi bước vào phòng anh, nó đã nằm sẵn trên bàn, vẫn nguyên trong phong bì ghi địa chỉ của tôi ở Hà Nội. Cuốn sách dày ngót 270 trang mang tên De l’Indochine Coloniale au Vietnam – Je ne regrette rien (Từ Đông Dương thuộc địa đến nước Việt Nam tự do – Tôi không hối tiếc gì hết)(*). Lời đề tặng tôi đầy kín cả trang bìa giả, chữ vẫn đều tăm tắp, đẹp theo kiểu cổ, lại có cả một tái bút: “Quel bonheur ce coup de fil du 12/11! Je vais enfin te revoir. J’attends ce jour avec impatience. (Hạnh phúc biết mấy, cú điện thoại của mày hôm 12/11! Cuối cùng, tao lại sắp được gặp mày. Tao nóng lòng chờ ngày ấy)”. Hình như vẫn chưa đủ, đêm 22/11, tức là trước hôm tôi hẹn đến, anh còn thức viết cho tôi một bức thư dài…
Albert bây giờ đã là một ông lão ngoài tám mươi, râu tóc bạc phơ. Một tháng trước đó, anh lại phải nhập viện vì một tai biến não, có lúc đã bị liệt nửa người. Hiện anh về nhà điều trị ngoại trú, hằng ngày tập đi quanh phòng.
Chúng tôi ngồi ôn lại chuyện cũ, những ngày tháng hoạn nạn, những kỉ niệm vui, buồn. Anh chỉ cho tôi tấm Huân chương Hữu nghị do Nhà nước Việt Nam trao tặng hồi tháng 10/2004. “Nhưng, anh trầm giọng nói với tôi, nó không thể thay thế những Huân chương Kháng chiến và Chiến thắng mà tao đã đánh mất trong những năm phiêu bạt sau này, những tặng thưởng cho thành tích kháng chiến của tao trong lòng nhân dân và đất nước Việt Nam, tổ quốc thứ hai của tao. Đó chính là cuộc đời tao.” Gần như suốt buổi, anh cứ nắm chặt tay tôi…
Chiều xuống, chúng tôi chia tay. Khi xe chúng tôi đi được khoảng 300 – 400m, tôi ngoái lại vẫn thấy Albert đứng ở cửa sổ phòng mình nhìn theo. Trong trí tôi, hiện lên những dòng thư anh viết cho tôi đêm trước: “Không một lời nào có thể diễn tả niềm vui của tao được gặp lại mày. Năm tháng qua đi nhưng kỉ niệm vẫn còn lại, những kỉ niệm tốt và những kỉ niệm xấu. Nhưng người ta thường chỉ giữ những kỉ niệm tốt, người ta nói thế! Đối với tao, những kỉ niệm tốt đó là mười sáu năm sát cánh với nhân dân của mày, đất nước của mày mà tao tôn thờ, mà tao coi như tổ quốc thứ hai của tao, những năm sống trong chiến khu chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân, vì độc lập dân tộc… Phải, tao không hối tiếc gì hết. Nếu cần làm lại, tao vẫn sẽ làm lại như cũ…”
Ừ, Albert, tao cũng vậy. Nếu cần làm lại, tao sẽ làm lại nguyên như cũ. Chúng mình, mày và tao, chẳng có gì phải hối tiếc. Và tao cũng nói như mày: tôi không hối tiếc gì hết. Je ne regrette rien.
Như Edith Piaf hát.
DT.
________
1 Theo cách gọi của Jacques Doyon, tác giả cuốn Les Soldats blancs d’Ho Chi Minh. Les transfuges anti-fascistes et les communistes français dans le camp du Việt-Minh, nxb Fayard 1973.
Dịch giả Dương Tường: Thiếu thời của tôi ở trong không gian Văn hoá Pháp
Không muốn “phát biểu” nhiều về Huân chương Văn hoá Nghệ thuật Pháp mà ông sẽ được vinh danh vào ngày 16/01 tới vì sợ không khách quan. Nhưng câu chuyện về tấm lòng yêu văn học, nghệ thuật, yêu nền văn học Pháp cũng dần dần được dịch giả bộc lộ qua câu chuyện rất thú vị vào một buổi trưa thanh tĩnh tại căn nhà của ông ở phố Phan Huy Chú.
- 80 năm tuổi đời và có đến gần 60 năm tuổi làm công việc dịch thuật văn học Anh, Pháp, Nga… nhưng dường như trong số ấy, Văn học Pháp vẫn luôn nhận được sự ưu ái riêng của dịch giả?
Thật ra tôi không được đào tạo trường lớp gì cả. Năm 14 tuổi tôi bỏ học đi theo cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bao giờ trong balô của tôi cũng có từ điển tiếng Pháp và tiếng Anh.
Có một điều anh em trong đoàn đều nhớ là khi hạ đồn địch nào, trong khi anh em đi thu chiến lợi phẩm thì tôi đi tìm sách. Tôi coi đó là chiến lợi phẩm của riêng mình. Khi hoà bình, tôi rời khỏi bộ đội về thông tấn xã, thì lại tiếp tục tự học. Tôi toàn tự học ở Thư viện Quốc gia, Thư viện Thông tin… Nên có thể nói trường học của tôi chính là thư viện. Tôi học nhặt nhạnh như người ta đi mót lúa.
Tôi bắt đầu dịch những tác phẩm đầu tay hoàn chỉnh vào năm 26 tuổi và đó là một cuốn của văn học Nga. Sau đó, tôi dịch nhiều hơn những tác phẩm văn học Pháp. Tôi mày mò đọc những tác phẩm kinh điển của Pháp như của Vichto Huygo, Banzac, Rút xô… Và điều thúc đẩy tôi chính là lòng yêu văn chương nghệ thuật. Cả thiếu thời của tôi ở trong không gian Văn hoá Pháp.
- Đi đánh Pháp nhưng lại yêu văn học Pháp và tự nhận là mình được “nuôi dưỡng bằng văn hoá Pháp”. Có nghịch lý nào ở đây không thưa dịch giả?
Nghiên cứu và dịch thuật các cuốn văn học Pháp, tôi nhận thấy tinh thần rất nhân văn của những đại văn hào Pháp là lên tiếng chống lại tất cả những gì áp bức, xúc phạm đến nhân phẩm, những nước lớn chèn nước nhỏ. Đấy là những tinh thần mà tôi tiếp thu được ở Văn học Pháp.
Cho nên bạn có thể thấy nghịch lý ở chỗ, mặc dù tham gia kháng chiến chống Pháp nhưng tôi lại mang trong lòng một tình cảm đặc biệt ưu ái học hỏi những tinh tuý của nền văn học nghệ thuật Pháp. Nhưng cũng vì yêu chính cái tinh tuý đó lại là động lực thúc đẩy tôi đi đánh Pháp.
- Điều gì khiến dịch giả thấy mình bị thu hút bởi những tác phẩm kinh điển của Pháp trong khi các nền văn học khác cũng rất phát triển và có nhiều thành tựu?
Với văn học Pháp, tôi tìm những tác giả là trụ cột văn học và tư tưởng Pháp. Về tư tưởng dân chủ thì tôi tìm Rút-xô, Vôn-te…, còn văn học kinh điển thì tìm Banzac, Vichto Huygo…
Sau thời gian dịch thuật tiếng Pháp, tôi cũng có chuyển sang dịch tiếng Anh. Bởi vì các nền văn học khác hầu như cũng đều được dịch thông qua thứ tiếng này. Vì thế nên qua tiếng Pháp tôi có thể biết đến văn học Mỹ, Đức, Nhật Bản.
Có thể nói nền văn học Pháp có ảnh hưởng rất lớn tới văn học Việt Nam. Nếu không có văn học Pháp chúng ta sẽ không có Thơ Mới với những tên tuổi như Thế Lữ, Xuân Diệu… Nếu không có văn học Pháp thì không có Tự lực Văn đoàn. Tiếp tục, những người của thế hệ sau đều chịu ảnh hưởng văn học Pháp hết. Trong sự nghiệp dịch thuật của tôi, thì văn hoá Pháp cũng chiếm tới phân nửa, khoảng 20 trên 50 cuốn tôi đã dịch.
"Cây" thơ Dương Tường tại Ngày thơ Việt Nam 2008
- Người ta biết tới, những cuốn sách mà dịch giả Dương Tường dịch thuật và hiệu đính luôn đạt ở mức độ chuẩn nhất. Dịch giả có đặt ra cho mình một nguyên tắc làm việc nào không?
Tôi làm việc rất kỹ với các sản phẩm của mình. Tất cả các tác phẩm đều không qua ai hiệu đính mà tôi làm thật kỹ càng, hoàn chỉnh thì mới giao. Có những nhà xuất bản khi họ làm biên tập có chỗ có ý kiến thì họ để nghị tôi sửa lại chứ họ cũng không sửa được. Tôi không đặt cho mình một mẫu số chung nào trong công việc này. Thường thì tôi dịch đoạn nào xong đoạn đó. Khi đặt bút chấm hết nghĩa là hoàn chỉnh.
Tuỳ tác phẩm khó hay dễ mà tôi dành cho nó thời gian ngắn hay dài để hoàn chỉnh. Có những cuốn 200 trang tôi dịch một tháng là xong nhưng có những cuốn rất khó, dịch cả năm cũng không hoàn thành nổi. Ngay như hiện tại tôi đang dịch một cuốn “Chết chịu” của Mortà Ce’line cũng rất khó, đánh vật từng trang một. Đây là cuốn sách đã được nhiều người dịch nhưng chỉ được vài chục trang là họ bỏ. Vì cuốn đó rất khó, như đi vào mê cung câu chữ mà suốt 5 tháng qua tôi cũng mới chỉ dịch được 200 trang.
- Sau thời của dịch giả, dường như văn học Việt Nam đang thiếu vắng một thế hệ các dịch giả trẻ cho văn học Pháp?
Ở cùng thời của tôi giờ chỉ còn lại vài người còn theo đuổi dịch văn học Pháp. Còn thế hệ trẻ thì hiện nay chỉ có mỗi Cao Việt Dũng. Có lẽ bây giờ người ta theo trào lưu luôn thích văn học Mỹ hơn, thực tế hơn vì mọi người đua nhau học tiếng Anh nhiều hơn tiếng Pháp. Và hơn nữa, đa số họ học tiếng Anh, tiếng Pháp để làm giao tiếp, kinh doanh còn học vì văn chương, vì văn học thì ít.
- Yêu văn học nghệ thuật và dành cả đời cho sự nghiệp dịch thuật những tác phẩm kinh điển ở các nền văn học lớn, đặc biệt là Pháp, dịch giả có thể chia sẻ được cảm xúc của mình khi được vinh danh với Huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp?
Tôi cũng đã trả lời báo chí về việc này và nói chung tôi cảm thấy mình thật vinh dự khi được đất nước Pháp trao tặng cho tôi danh hiệu cao quý Huân chương Văn học Nghệ thuật Pháp (Officier des Arts et des Lettres).
Tôi cũng chỉ muốn nói, động lực làm việc chính của tôi là vì tôi yêu văn học, yêu nghệ thuật. Hơn nữa, tôi muốn đóng góp cho nền văn học Việt Nam bằng những cái tinh tuý của thế giới để đem đến cho công chúng và những người làm nghề ở Việt Nam biết thêm, mở rộng chân trời tri thức.
Xin cảm ơn dịch giả Dương Tường!
Thiên Lam
vnmedia.vn
|