tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Những bài báo
28.02.2012
Cao Tự Thanh
Cao Tự Thanh: “Tôi không xả thân tự cao thì phí đi!”

“Tôi biết tôi giỏi, tôi quan trọng”. Đó là kiểu nói dễ gây sốc của Cao Tự Thanh – một hàn Nho kiêu ngạo.


Lâu nay ông sống gần như ẩn sĩ, không thích xuất hiện chỗ đông người. Lần này, một chiều cuối năm, bên ly rượu suông tại một căn nhà nhỏ ở quận 12, Cao Tự Thanh trầm ngâm: “Trong sinh hoạt có thể bừa bãi bậy bạ chút ít nhưng với khoa học thì phải hết sức nghiêm túc, vì nghề này phải chịu trách nhiệm với nhiều người nhiều đời. Đó là một loại đền thiêng, bọn người bừa bãi bậy bạ trước sau gì cũng sẽ bị tống cổ ra”.


Cách nói chuyện của ông luôn cuốn hút người đối diện vì những câu chuyện được nói ra hầu như không bao giờ lặp lại, với kiến thức uyên thâm, với một cái nhìn sắc thẳng, ngang tàng. Nhưng thỉnh thoảng gương mặt ấy lại giãn ra bởi nụ cười hiền lành như trẻ thơ.


Làm người để học sử


Ông vừa công bố bản dịch Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên. Đây là cuốn quốc sử - chính sử duy nhất về giai đoạn 1889-1916 và lần đầu công bố. Nhưng nó không dễ đọc?


+ Cũng tùy chứ, ai cần và muốn đọc thì sẽ dễ. Tôi nghĩ cuốn này có khoảng 10.000 người như thế, ví dụ một số trí thức khoa học xã hội, những người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, các nhà Việt Nam học ở nước ngoài…


Một cuốn sách được dịch và giới thiệu công phu mà chỉ có chừng ấy người cần đọc, liệu có quá phí với ông?


+ Đó là tôi tự huyễn hoặc đấy, chứ nếu chỉ có một người đọc nhưng thích và nhớ cũng đâu có sao. Nếu làm sách cứ viết những chuyện không mới hay không đúng, hoặc mới mà không đúng, hay đúng mà không mới thì dù có một triệu người đọc cũng có giá trị gì đâu. Khoa học là phải tìm ra cái mới và đúng!


Một chuyên gia nghiên cứu lịch sử đã nói đây là một cuốn chính sử có tầm cỡ, đáng được đầu tư bằng dự án của Nhà nước. Sao ông lại một mình bỏ sức ra làm?


+ Dự án thì loại thảo dân như tôi làm sao có tư cách như các viện, các hội, các trường mà xin xỏ. Tôi thích, thấy làm được thì làm, làm rồi sẽ biết có ai cần đọc không. Có người nói ở Tây thế này thế kia, viết một cuốn sách có khi đủ sống cả năm, vậy thì cứ qua Tây mà ở! Ở Việt Nam thì phải biết dùng những điều kiện có thật của Việt Nam mà sống và làm việc theo ý mình. Chỉ là nước ta chưa có thị trường khoa học thật sự, thuê dịch vài trang gia phả cả triệu đồng thì cám ơn, mua một bộ quốc sử cả ngàn trang vài trăm ngàn thì than đắt. Thị trường như thế nên nhiều vị công chức khoa học nghe tới chương trình, đề án là hỏi được bao nhiêu tiền, bọn cai đầu dài thì nhân đó kiếm chác; rồi còn hội đồng chỉ đạo, người hiệu đính, người phản biện, hội đồng nghiệm thu này nọ, ồn ào lắm. Tôi tự làm, làm xong cứ để người đọc đánh giá không hay hơn à!


Có vẻ như những người trẻ chưa đủ tài năng và kinh nghiệm để tiến hành những công trình sử học quan trọng?


+ Không, một số người lớn tuổi cũng không làm được mà. Chủ yếu là họ làm người chưa đủ. Khi họ thành người ngay thẳng, có can đảm, có độ lượng và ý thức trách nhiệm thì học vấn chỉ còn là chuyện điều kiện và thời gian, không nghiên cứu viết lách thì đi bán giấy số dạo cũng không hề gì. Lịch sử thường bị chia tách thành hai phần, phần lịch sử và phần lịch sử nhận thức lịch sử, nếu không để ý thì cái thứ hai sẽ chi phối, thậm chí tới mức làm méo mó cái thứ nhất. Chừng nào người ta quan tâm điều chỉnh những sai lầm về sự nhận thức lịch sử thì lúc ấy sử học mới có đường phát triển. Nhưng muốn hiểu cái lịch sử nhận thức lịch sử ấy tới nơi tới chốn thì có khi phải trả giá bằng cả cuộc đời và số phận của mình đấy, kẻ tham công cầu danh hay hẹp hòi nông nổi không học được đâu.


Hôm trước tôi thấy trên bìa một tạp chí chuyên ngành về lịch sử có một câu slogan “Học sử để làm người”. Với nhiều người bình thường thì câu ấy cũng có chỗ đúng nhưng với những người nghiên cứu, giảng dạy lịch sử mà nói “Làm người để học sử” thì chắc chắn không sai.


Ngôn ngữ đồng phục, tôi không chơi


Vì sao nhiều người tin sách của ông?


+ Có lẽ vì tôi không làm hàng giả, hàng dỏm, mà cố gắng đưa tới họ cái tốt nhất trong điều kiện và khả năng của mình. Chuyện này cũng giống như nấu cơm, người ta ăn ít nhất cũng thấy không tệ, ăn xong ít nhất không đau bụng là được, chứ nêm nếm nấu nướng là chuyện của anh, kể lể làm cái gì! Có điều riêng chuyện dịch thì phức tạp, ví dụ dịch sử phải bám sát câu chữ của nguyên bản, dịch văn phải giữ gìn phong cách của tác giả. Nắm vững các thao tác cơ bản ấy thì mới không bị chê, bị chửi.


Nhưng cũng có người chê ông trong chuyện dịch sách võ hiệp mà?


+ Dễ hiểu thôi, vì đó chủ yếu là những người chỉ biết đọc truyện chứ không biết đọc văn, càng không biết gì về ngôn ngữ. Tiếng Việt là một ngôn ngữ nhị nguyên, có quá nửa là từ Việt Hán, đặt trong tương quan với tiếng Anh, tiếng Pháp hay tiếng Hoa hiện đại thì nó là một ngôn ngữ đối dịch thuần nhất, nhưng để dịch Hán văn thì khác đấy. Ví dụ “Tướng quân kỵ bạch mã” dịch là “Tướng quân cưỡi ngựa trắng” thì được, nhưng “Bạch Mã tướng quân” mà dịch thành “Tướng quân Ngựa Trắng” thì nhất định sẽ bị chửi. Sách võ hiệp Trung Quốc có hình thức ngôn ngữ “cổ trang” nhưng các đại từ nhân xưng chỉ là một phần nhỏ của hệ thống “thuật ngữ” truyện võ hiệp. Những người đó thấy tôi cứ theo nguyên bản dịch là ta, ngươi, y mà ít thấy tiểu muội, đại ca nên họ chê, nhưng “Thẩm Thăng Y vọt lên không, ưỡn lưng chênh chếch bay ra khỏi màn bóng đao, kế đó lật người một cái, đầu dưới chân trên phóng kiếm đâm xuống” mà dịch đại khái như “Thẩm Thăng Y tung người lên không, vặn lưng bay quẹo qua một bên tránh màn lưới đao, sau đó lộn mèo trồng cây chuối quơ kiếm đâm xuống” thì còn ra khinh công, kiếm pháp gì nữa!


 


Tửu                                          Rượu


Tống tử chân giai phẩm,            Tống tử là quà tốt,


Vong sầu thị diệu phương.        Quên sầu ấy thuốc hay.


Hồ trung thiên địa khoát,            Đất trời trong chén rộng,


Túy lý cổ kim trường.    Kim cổ lúc say dài.


(Cao Tự Thanh cũng thường làm thơ. Đây là một bài ngũ ngôn tứ tuyệt có thi, có họa mà phóng viên tình cờ nhìn thấy trên màn hình máy tính của ông, “Chẳng ra cái gì đâu, nhưng may cho cô là tôi chưa xóa”)


Chắc ông cũng đã có lúc dịch sai?


+ Có chứ, nhưng không nhiều mà cũng không lớn. Tôi vốn cẩn thận, cái gì hơi nghi là xem lại ngay, dịch cũng thế mà viết cũng thế. Người xưa nói có ý mà không có văn thì lời không đi được xa, đừng có khệnh khạng khoe chữ, nhưng viết lách mà dùng ngôn ngữ đồng phục thì tôi không chơi. Tôi ghét những người sửa câu chữ trong bản dịch, bài viết của tôi là vì vậy. Tại sao các vị chấp nhận ngôn ngữ, phong cách của các nhà văn mà không chấp nhận ngôn ngữ và phong cách của những người nghiên cứu và dịch thuật chuyên nghiệp, những người có học vấn và ý thức trách nhiệm chưa chắc đã thua kém các vị? Thừa nhận phong cách tức là thừa nhận cá nhân, thừa nhận cá nhân thì xã hội trong đó có khoa học và văn nghệ mới phát triển lành mạnh được.


Ta còn sống ta còn giãy chết


Hơn mười măm nay ông ở nhà thuê, “dịch mướn kiếm cơm”, vậy sao ông không chọn dịch những cuốn sách bán chạy hơn, dễ kiếm cơm hơn?


+ Dịch mướn là một khâu trong một quy trình sản xuất phức tạp, chỉ cần một khâu khác trục trặc thì có làm cũng không có ăn. Ví dụ tôi có hợp đồng dịch bộ Thẩm Thăng Y truyền kỳ hệ liệt, nhờ mua ở Trung Quốc được có 19 cuốn, phải nhờ một tiến sĩ người Mỹ gốc Nga dạy toán ở Đài Loan scan năm cuốn còn lại, dịch xong giao hơn một năm rồi mà bên đối tác không in, gửi thư hỏi cũng làm lơ. Còn chuyện chính sách nữa. Như bộ Liêu Trai chí dị trọn bộ tôi được bên xuất bản thông cảm trả tiền nhuận bút trước cho 3.000 cuốn, chưa đầy một trăm triệu, nhưng lúc lãnh thì phải đóng thuế thu nhập vì vượt mức thu nhập không phải đóng thuế trong một năm, mà tôi dịch ròng rã suốt mười năm đấy! Kiếm cơm trong bối cảnh thị trường bất trắc, chính sách bất ưng này thì không ai dám nói mình hay mình giỏi, thôi cứ nghĩ ta còn sống ta còn giãy chết để còn can đảm sống tiếp mà học hành, nghiên cứu.


Trước kia ông từng ở trong biên chế, sao không ở trong đó cho yên thân?


+ À, tôi nghiên cứu, quản lý, lãnh đạo gì gì cũng được, chỉ là làm việc nhà nước lại không hợp lắm, ở đâu cũng khó sống thì nghỉ cho rồi, người ta đỡ gai mắt mà mình cũng được yên thân. Bây giờ tôi tới các cơ quan cũ thì người ta niềm nở hỏi han, chứ hồi tôi làm việc ở đó thì nhiều người lại không ưa. Tóm lại, kẻ biết tự trọng thân phận cứ làm khách là hay, chủ nhà mà trở mặt thì bất quá chỉ mất một câu chào là hết chuyện.


Người tôi đề phòng nhất là tôi


Thưa ông, sao ông không đào tạo học trò?


+ Đào tạo thế nào, mở lớp thu tiền à? Thẳng thắn mà nói, tôi học, nghĩ, viết, dịch với năng suất và hiệu quả không phải ai cũng đạt được. Đó là vì tôi nhất hóa được những việc ấy vào hoạt động sống của mình. Nhưng nếu nói đó là ưu điểm thì nó cũng tiềm ẩn một nguy cơ. Cái khác thường luôn bất trắc hơn cái bình thường, mà sống trong các khuôn mẫu phổ biến thì cứ bình thường để được an toàn. Cho nên, tôi khó có được học trò hiểu theo cái nghĩa là truyền nhân. Còn nói thêm thì người tôi đề phòng nhất là tôi, vì tôi mà viết bậy, nói sai thì tác hại có khi lớn hơn so với nhiều người khác. Không làm được anh hùng thì cũng cố để đừng thành tội nhân.


Nhưng nếu hậu thế có một Cao Tự Thanh thứ hai thì cũng nên chứ?


+ Không. Đã, đang và sẽ có nhiều người học vấn hơn tôi, xử sự hơn tôi, xã hội cần những người như thế hơn chứ như tôi thì đáng cái gì. Với lại số phận của tôi có nhiều yếu tố ngẫu nhiên, không hẳn là một tất yếu. Nếu tất yếu thì đã có hàng trăm gã như tôi rồi.


Phải chăng vì vậy mà ông “chết” danh “Thanh tự cao”?


+ Đó là lúc đầu vài người như bác Trần Văn Giàu, chú Trần Bạch Đằng gọi đùa, về sau nhiều người trong đó có bác Võ Văn Kiệt cũng gọi theo. Cung kính bất như phụng mạng, được các đại nhân vật ấy gọi như thế mà không xả thân tự cao cho nó chính danh thì phí đi. (Cười)


 


Cao Tự Thanh tên thật là Cao Văn Dũng, sinh năm 1955, tốt nghiệp ngành Hán Nôm khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977, xin nghỉ việc nhà nước lúc đang là quyền giám đốc Bảo tàng Long An năm 1990. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn học cổ, văn hóa và lịch sử Việt Nam, dịch nhiều tác phẩm văn học, sử học, triết học Trung Quốc.


 


Giáo sư Đặng Vũ Khiêu nói: “Tôi đánh giá một người qua hiệu quả công việc của họ, tức họ đã làm được gì cho khoa học, cho xã hội. Cao Tự Thanh là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, am hiểu sâu sắc về Nho học, Hán Nôm; có kiến thức uyên bác. Anh nghiên cứu nhiều về Sài Gòn-Gia Định, lịch sử miền Nam Việt Nam, nghiên cứu sâu xã hội Trung Quốc… Tính anh rất thẳng. Những điều anh nói ra không phải ai trong giới nghiên cứu cũng hài lòng vì đã là nghiên cứu thì thường có những ý kiến trái chiều nhau. Trong số những nhà nghiên cứu Nho học, Hán Nôm uy tín đếm không hết trên đầu ngón tay hiện nay có tên Cao Tự Thanh. Đó là một con người tôi quý trọng”.


 


Làm sáng tỏ nhiều quá trình lịch sử


Đại Nam Thực lục của chính nhà nước phong kiến triều Nguyễn viết về thời Nguyễn gồm chín bộ nhưng vẫn còn hai bộ chưa được phiên dịch và công bố. Mới đây, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã dịch và giới thiệu một trong hai bộ này là Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên. Cuốn sách cho thấy bức tranh lịch sử đời Thành Thái (1899-1907) và Duy Tân (1907-1916), hai vị vua yêu nước đã bị thực dân Pháp phế truất và bắt đi đày. Về bộ còn lại, tức Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ viết về lịch sử đời Khải Định (1916-1925), ông cho biết đang cố gắng để có thể công bố trong năm sau.


 


Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ Phụ biên có làm sáng tỏ lịch sử so với trước hơn không, thưa ông?


+ Nhiều chứ! Ví dụ câu chuyện “Vua Thành Thái với đoàn nữ binh” kể việc Thành Thái bí mật tuyển chọn các thiếu nữ trong dân gian vào đại nội, bí mật rèn luyện võ nghệ chờ ngày khởi sự là rất vô lý. Nhưng câu chuyện đó bắt nguồn từ việc khâm sứ Pháp ở Huế yêu cầu triều đình giải tán bốn đội kịch gồm 66 đồng nữ vì họ sử dụng các trang phục, đạo cụ là “áo mũ xiêm quần gươm súng Tây dương” (điều 0589), tức đề phòng họ lợi dụng những đạo cụ ấy để chống Pháp. Tuy nhiên, những chi tiết cụ thể ấy không quan trọng bằng hệ thống các sự kiện về việc chính quyền thực dân từng bước thu tóm quyền lực kinh tế trên vùng Trung Bắc vào tay mình qua hệ thống nghị định về thuế khóa, hay việc họ từng bước nắm giữ quyền hành thực tế của triều đình qua các viên Hội biện người Pháp được cử qua tham dự vào công việc Lục bộ. Sự tan rã của thiết chế phong kiến trên vùng Trung Bắc thời gian 1899-1916 đã được phản ảnh có hệ thống trong bộ sử này, mặc dù chưa phải là chi tiết và trọn vẹn. Đó là một quá trình rất cụ thể mà nhiều người chưa biết nếu chỉ đọc các sử sách trước nay.


 


Thanh Mận


phapluattp.vn



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
www.trieuxuan.info sắp ra mắt giao diện mới! - Triệu Xuân 27.03.2020
Phùng Quán: Thèm được làm Người - Trần Mạnh Hảo 24.03.2020
Đối mặt với Covid – 19: Sự yếu đuối, cô độc và bất lực của văn học - Diêm Liên Khoa 24.03.2020
Một số bài viết về Danh ca Thái Thanh vừa từ trần - Nhiều tác giả 22.03.2020
Mấy suy nghĩ nhỏ giữa mùa Dịch Vũ Hán - Tạ Duy Anh 20.03.2020
Ba tờ báo in bài về tác phẩm Triệu Xuân Sống & Viết - Phùng Hoàng Anh 17.03.2020
Triệu Xuân - Nhà văn sống hết lòng vì bạn - Dương Ngọc Khánh 17.03.2020
Bà Tiến hay ông Lùi cũng rứa thôi! - Huy Cường 16.03.2020
Ngọc Kiều - Nguyễn Thị Huệ: nữ ca sỹ cứu cả Hà Nội thoát bệnh dịch - Nguyễn Xuân Diện 08.03.2020
Bây giờ là mùa Xuân - Nguyễn Hàng Châu 06.03.2020
xem thêm »