Nguyễn An Ninh sinh năm 1900, mất năm 1943.
70 năm qua, kể từ ngày Nguyễn An Ninh qua đời, đã có nhiều cách đánh giá khác nhau về ông. Trong khoảng 30 năm trở lại đây, Nguyễn An Ninh đã được ghi nhận là nhà cách mạng, là một trí thức tầm cỡ…, đi vào quần chúng lao khổ vận động họ chống lại đế quốc và tay sai.
Bài viết này đề cập những suy nghĩ của Nguyễn An Ninh về truyền thống và đạo lý dân tộc, đặc biệt là những trăn trở của ông về một nền văn hóa đích thực Việt Nam, chủ yếu qua những gì ông đã viết trong những năm 1923-1925. Hồi đó, Nguyễn An Ninh là một thanh niên, là cử nhân luật đại học Sorbonne (Paris), là chủ bút báo Chuông Rè (La Cloche Fêlée)…, một Nguyễn An Ninh tràn đầy tâm huyết, nhức nhối trước nỗi nhục nô lệ của dân tộc, một Nguyễn An Ninh hùng biện mà thực dân Pháp phải gờm sợ ngay từ buổi diễn thuyết đầu tiên của ông.
I.
Hẳn rằng Nguyễn An Ninh là một trong số ít những nhà yêu nước hồi những năm 20 của thế kỷ trước đã có một tư duy thật mới mẻ, thậm chí táo bạo, khi giải thích với dân chúng – nhất là với thanh niên – thế nào là văn hóa dân tộc, cần hiểu như thế nào về di sản văn hóa của cha ông, và thế hệ thanh niên đang được lịch sử giao phó sứ mạng cao cả như thế nào để giữ gìn và phát huy di sản đó. Trong bài viết nhan đề Ước mơ của chúng ta, Nguyễn An Ninh cho rằng: “Nói đến sự trường tồn của một giống nòi, trước hết là nói đến văn hóa, nói đến sức sống của dân tộc, của giống nòi đó, nghĩa là tất cả những tiềm năng mà dân tộc đó đã để lại dấu ấn sâu đậm và tỏa sáng chói lọi trên tiến trình lịch sử của mình. Và người Việt Nam đã từng có một sức sống tạo nên một nền văn hóa như vậy”.
Nguyễn An Ninh dành những dòng tâm huyết nhất khi đề cập vấn đề này. Trong bài Gửi độc giả trước thềm năm mới, Nguyễn An Ninh viết: “Nhân dịp Tết, thắp nén nhang trên mảnh đất quê hương, mảnh đất từng nuôi dưỡng che chở giống nòi, mảnh đất thắm đượm tâm hồn tổ tiên ta… Mỗi ngọn cây, mỗi xóm làng cũng chứa đựng một tâm hồn, như muốn gửi gắm với chúng ta một điều gì đó về tổ tiên xưa… Rồi sang năm mới, chúng ta lại dũng cảm phấn đấu cứu giống nòi ra khỏi dòng xoáy khủng khiếp đang nhấn chìm những dân tộc nô lệ…”.
Nguyễn An Ninh đặt câu hỏi: “Số phận giống nòi ta sẽ ra sao? Mỗi dịp Năm mới liệu có đánh dấu một tiến bộ mới trên con đường thực hiện ước mơ của chúng ta hay không? Có lẽ nào nhựa sống của chúng ta đã vơi cạn? Có lẽ nào lịch sử nòi giống Việt Nam đã chấm dứt? Mỗi lần Tết đến, món nợ của chúng ta đối với tổ tiên, đối với quê hương lại càng thêm nặng…”.
Ông kêu gọi người Việt Nam hãy quyết tâm bảo vệ và phát huy nền văn hóa của mình, nhất là trong hoàn cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp thống trị, điều mà các thế hệ Việt Nam suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc đã từng làm và đã thành công: “Tôi cứ muốn được nói hoài nĩi mi về sự cần thiết phải xây dựng một nền văn hóa riêng của mình. Dân tộc nào để cho văn hóa ngoại lai ngự trị thì không thể có độc lập thực sự, vì văn hóa là linh hồn của một dân tộc (…). Ngày nào thanh niên Việt Nam ta biết khinh thường mọi bề ngoài giả dối, mọi luận điệu xảo trá, biết ngẩng cao đầu tiến bước trên con đường cao đẹp do chính lương tâm ta vạch ra… thì ngày ấy chúng ta mới có thể giải bài toán khó về việc tạo lập một nền văn hóa đích thực cho dân tộc ta…”.
Trong di sản văn hóa trải hàng ngàn năm - theo Nguyễn An Ninh - nhu cầu xây dựng và bảo vệ chủ quyền độc lập của đất nước đã trở thành một yếu tố mang tính đạo lý của người Việt Nam.
Ngược về những thời kỳ dân tộc ta bị các đế chế phương Bắc xâm lược và đô hộ, Nguyễn An Ninh viết: “Lịch sử Việt Nam không hề chứng minh rằng giống nòi ta hèn yếu, bất lực, cam tâm cúi đầu làm nô lệ. Tuy nhỏ yếu trước một đế chế Trung Hoa hùng cường và phải mang ách đô hộ, nhiều lần nòi giống bất khuất này đã đứng lên chống lại họ (…). Từ cái ngày Hai Bà Trưng đánh đuổi bọn hung tàn cho đến ngày đất nước ta buộc Trung Hoa phải bỏ bớt tham vọng của họ, thì cũng là ngày đánh dấu người Giao Chỉ có một vị trí biệt lập trong lịch sử Á Đông”(1)
Trong bài “Từ ước mơ đến hiện thực”, Nguyễn An Ninh muốn đánh thức một số người Việt Nam về nỗi nhục nô lệ: “Người ta chìa một chén cơm cho ta và bảo: mày làm cái này cái kia… đi, nếu không thì mày sẽ không được chén cơm này! Phải chăng chúng ta là những con người sẵn sàng hạ mình chỉ vì một chén cơm, sẵn sàng đổi lấy một chén cơm bằng cả cái quyền được sống mà tổ tiên ta đã dày công mới trao lại được cho con cháu bằng tất cả niềm kiêu hãnh!(2)
(1), (2) La Cloche Fêlée, số 2 (17-12-1923).
Từ ngàn xưa, từ trong tủi nhục và xương máu, dân tộc Việt Nam đã khẳng định một lẽ sống, một đạo lý cơ bản:
“Chúng ta sinh ra từ một dân tộc luôn phải trả giá rất đắt cho quyền sống của mình. Chúng ta sinh ra từ một dân tộc mà tên tướng Tàu kia đã ném lời nguyền rủa (ám chỉ Mã Viện với câu “Đồng trụ chiết Giao chỉ diệt”). Lời nguyền rủa đó cho đến nay hãy còn đeo đẳng mãi, và chúng ta lại càng phải ra sức gìn giữ để ngăn cản không cho cái cột đồng khốn nạn kia ngã xuống! Vậy chúng ta phải làm gì? Chúng ta chỉ có thể dựa vào sức mạnh của bản thân mình. Tổ tiên ta cũng đã làm như vậy, đã phải giành giựt hết sức gay go để giữ lấy non sông…
“Lịch sử đã chứng minh đầy đủ ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam. Đế chế Trung Hoa biết rất rõ điều này. Nhưng họ đã không thắng nổi dân tộc Việt Nam, dù họ đã có những cố gắng đôi khi rất quyết liệt”.(1)
II.
Tinh thần yêu nước thiêng liêng của người Việt Nam chính là xuất phát từ đạo lý nói trên. Nguyễn An Ninh trình bày quan điểm của mình về tinh thần yêu nước Việt Nam như sau: “Các bạn nói nhiều về Tổ quốc. Nhưng liệu các bạn đã hiểu sâu sắc lịch sử Tổ quốc mình chưa? Bạn bảo rằng bạn yêu Tổ quốc, rằng bạn là một người yêu nước. Nhưng bạn yêu nước như thế nào? Bạn có hiểu rằng yêu nước, ca ngợi quá khứ chính là để củng cố niềm tin vào tương lại của Tổ quốc, để từ những kinh nghiệm trong quá khứ mà tăng thêm sức mạnh thực hiện những sứ mạng mới. Như vậy, thực chất yêu nước là hướng về tương lai. Người yêu nước không chỉ tự hào quá khứ vẻ vang mà phải nuôi hoài bão và chuẩn bị thắng lợi trong tương lai”
(1) La Cloche Fêlée, số 13 (7-4-1924) v số 14 (21-4-1924).
Theo Nguyễn An Ninh, nói đến di sản văn hóa trước hết là nói đến sứ mạng phát huy sức sống của dân tộc nhằm thoát ách nô lệ. Muốn vậy, một điều quan trọng là phải tìm hiểu thấu đáo công lao dựng nước, đặc biệt là công lao giữ nước của tổ tiên. Đây là nền tảng của đạo lý dân tộc, và tinh thần yêu nước của người Việt Nam chính là con đẻ của nền đạo lý đó. Từ đó mà thấm thía công ơn để rồi kế tục xứng đáng sự nghiệp của cha ông.
Nguyễn An Ninh có cách giải thích thật lý thú khi nói về tục thờ phụng tổ tiên của người Việt Nam: “Trong mỗi gia đình Việt Nam, thờ phụng tổ tiên là điều quan tâm lớn nhất, có tác dụng hàng đầu trong việc giáo dục mỗi thành viên từ tuổi ấu thơ cũng như trong việc hình thành nhân cách khi đã trưởng thành”. Thấm thía công lao của tiền nhân - cũng là đạo lý giành giữ độc lập dân tộc - người Việt Nam thờ phụng tổ tiên trước hết là từ ý nghĩa đó.
Nguyễn An Ninh giải thích điều này theo cách của mình: “Nhân loại không thể chỉ sống bằng hiện tại. Nhân loại bao gồm người đang sống và người đã chết, và người đã chết thì nhiều gấp bội người đang sống. Mọi hành động của người đã chết đều được lịch sử phán xét, ghi nhận; và hình bóng của không ít người đã chết còn để lại dấu ấn đậm nét cho mai hậu, thậm chí còn sống động hơn cả người đang sống. Trong trường hợp này, “bất tử” không phải là một từ ngữ suông. Bóng dáng vĩ đại của họ dường như vượt ra khỏi đáy sâu của dĩ vãng để chỉ lối cho con cháu, giúp con cháu tránh vấp ngã khi chuẩn bị hành trang cho tương lai”.
Nguyễn An Ninh giải thích tiếp: “Nếu như những vĩ nhân đã chết vẫn đang dìu dắt số phận một dân tộc, thì cũng phải nói rằng tất cả những người quá cố khác không phải không có tác dụng gì đối với những người đang sống. Mỗi người quá cố vẫn đang góp phần vào việc xây dựng nhân cách cho con cháu, trước hết từ trong dòng họ mình…”. Vì vậy, theo Nguyễn An Ninh, ở Việt Nam “việc thờ phụng tổ tiên có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc củng cố giống nòi, bảo đảm sự bền vững của dân tộc”.
Giải thích như trên về truyền thống đạo lý Việt Nam, Nguyễn An Ninh đồng thời gián tiếp giải tỏa sự ngộ nhận rằng nền tảng văn hóa và đạo lý Việt Nam là học thuyết Khổng Tử “được xuất cảng từ Trung Hoa sang Giao Chỉ”. Điều đó cũng có nghĩa là: cách đây ngĩt 90 năm, Nguyễn An Ninh đã từng đặt hy vọng vào thế hệ thanh niên trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đích thực của dân tộc. Ông kêu gọi thanh niên, trí thức “phải tìm cho được một di sản trí tuệ vững chắc có thể dùng làm hòn đá tảng để thực hiện mơ ước của chúng ta”.
*
Thực tế lịch sử Việt Nam chứng minh rằng: bất kể ở thời kỳ nào, những nhà yêu nước chân chính, những nhà cách mạng lỗi lạc đều hết sức coi trọng truyền thống và văn hóa dân tộc, bằng tâm huyết của mình bảo vệ, khai thác và vận dụng di sản quý báu của tổ tiên.
Trong lĩnh vực này, với bối cảnh xã hội Việt Nam những năm 20 của thế kỷ trước, Nguyễn An Ninh đã tỏ ra rất nhạy cảm và rất sắc bén. Hẳn rằng Nguyễn An Ninh được tôn kính trước hết là vì lẽ đó. Và cũng chính vì lẽ đó mà hậu thế trân trọng Nguyễn An Ninh, lịch sử ghi nhận Nguyễn An Ninh l người con xứng đáng của dân tộc Việt Nam.
NPQ.
Nguồn: Ngược về nguồn cội -Tiểu luận và tư liệu, Nh xuất bản tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2010.
“Notre rve” - La Cloche Fêlée, số 8 (1924).
La Cloche Fêlée, số 2 (17-12-1923).
|