tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
24.01.2014
Lưu Văn Khuê
Mạc Đăng Dung

9. Nghĩa Quốc công Nguyễn Văn Lang  mất, Tương Dực cảm cái công đã dấy binh giúp mình lên ngôi nên cho làm ma cực to, truy phong làm Nghĩa Quốc vương, khi tế lễ lại gọi là nghĩa phụ, sau đấy lại ban cho nhiều tiền bạc để con cháu xây lăng mộ. Nhưng cũng vì việc ma chay mà Nguyễn Văn Lự, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim đều phải về Tống Sơn nên ở kinh đô quyền hành rơi hết vào tay anh em nhà họ Trịnh.                                                


   Từ khi thợ thuyền bắt tay xây dựng điện trăm nóc và Cửu Trùng đài hôm nay Tương Dực mới có dịp thăm công trường. Chỗ này đào ao, chỗ kia đục đá, chỗ khác xẻ gỗ, chạm trổ, quang cảnh hết sức tấp nập. Các Đô lực sĩ đi trước một quãng và đi sau một đoạn hộ vệ. Chỉ có Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản, Hiệu uý Hữu Vĩnh, Thừa vụ Thái giám Ngô Khoái và Vũ Như Tô là được đi gần vua. Vũ Như Tô nói:


   - Nghĩa Quốc công tuy không còn để chỉ đạo nhưng mọi sự bố trí thần vẫn theo ý trước đây của ông ấy. Chỗ này sẽ là hồ, hồi còn sống Nghĩa Quốc công tạm gọi là Lạc Thanh Trì. Bây giờ đang cần nơi để thợ làm việc nên chưa đào, chỉ nay mai thần sẽ cho vật đất. Giữa hồ sẽ chất đá làm núi,  bờ hồ phía Đông trồng thông, phía Nam trồng trúc, phía Bắc trồng liễu, bên dưới trồng toàn hoa thơm cỏ lạ và treo những lồng chim quý, lông đẹp hót hay. Phía Tây hồ trồng hai cây quế Thanh, ở giữa dựng một toà điện, cũng lấy tên Lạc Thanh để gọi. Phía sau điện Lạc Thanh đào hai hồ tả hữu hình bán nguyệt, một hồ bắt người ở Hải Đông chở nước mặn chứa vào đấy để nuôi các loài hải sản như đồ mồi, ba ba, cá biển, một hồ thì bắt người Hoá Châu chở cá sấu tới thả. Đằng kia đào hồ nữa hình tròn, gọi là hồ Hồng Thanh Ngư chuyên nuôi cá thanh phụ là loài cá diếc quý đuôi đỏ, vảy biếc. Đất đào từ các hồ sẽ chuyển tới kia đắp thành núi, gọi là Trúc Sơn vì trên núi trồng toàn trúc, thứ trúc đốt ngắn và bầu bầu như đùi gà, lấy giống từ Tứ Xuyên bên Bắc Quốc. Cạnh Hồng Thanh Ngư dựng điện Nguyên Huyền cao ba tầng nên gọi là Nguyên Huyền Các. Điện này cao hơn và còn rộng hơn gác Vọng Nguyệt bệ hạ thường tới ở Ngự viên Thượng uyển. Cạnh điện có đá cảnh và tre trúc. Đá lấy từ Đà Giang, Thanh Hoa. Thần đang cố tìm hòn đá 100 lỗ tượng trưng cho bệ hạ trăm tuổi, đem về đây. Biết bệ hạ yêu thích thơ văn và thú thanh tao, trước khi mất Nghĩa Quốc công còn dặn đi dặn lại thần phải làm Nguyên Huyền Các thật đẹp để bệ hạ luôn tới đây câu cá, ngắm trăng, làm thơ. Bệ hạ có thể gọi ông Đàm Thận Huy, ngôi sao còn lại trong “Tao Đàn nhị thập bát tú”, lập lại hội thơ như thời Thánh Tông ở Khuê Văn Các. Để bệ hạ có thể đi suốt khu vườn ngự uyển mà không lo mưa nắng, thần sẽ làm dãy hành lang uốn lượn dọc theo lối đi, từ cửa Hoàng Phúc đến tận cửa Đại Triều.


   Quay về phía Vũ Như Tô, nhà vua hỏi:


 - Thế việc ở Cửu Trùng đài ra sao?


   - Tâu bệ hạ, xưa nhà Lý dựng điện cao bốn tầng đã khó khăn trong việc tìm kiếm gỗ cho đủ kích thước. Nay Cửu Trùng đài những chín tầng nên còn khó khăn hơn nhiều. Thanh Hoa không thiếu gỗ quý và đủ kích thước nhưng hạ được cây, đem được cây khỏi rừng, đóng bè xuôi sông Chu, sông Mã rồi vào cửa Ba Lạt, ngược sông Cái, đưa được cây lên bờ và kéo được đến đây là rất kỳ công. Thần nghe nói  thợ sơn tràng xứ Thanh, sẩy chân, bị cây đè chết mất hơn chục người, voi kéo gỗ cũng rơi xuống vực mấy con. Bè đầu tiên vào được sông Cái thì giữa chừng mắc cạn, hơn trăm người ròng dây kéo mới vượt được chỗ cạn, hiện còn chưa qua được địa phận Sơn Nam Hạ. Nghĩa Quốc công có nói ...


   Từ nãy đến giờ Vũ Như Tô cứ một điều nhắc đến Nghĩa Quốc công, hai  điều lại Nghĩa Quốc công làm Trịnh Duy Sản rất khó chịu vì thấy Nguyễn Văn Lang tuy đã mất mà cái bóng của ông ta vẫn trùm lợp, cho dù chỉ từ cửa miệng một tên đồ đệ của Lỗ Ban và Nguyễn An. Từ lâu Duy Sản đã không coi đám họ Nguyễn ở Tống Sơn ra gì, nay đám ấy không còn kẻ to đầu nhất, Duy Sản càng coi thường. Nên nhân câu Như Tô vừa nói, Duy Sản bảo:


   - Ngươi kể ra đây làm gì, Văn Lang có còn đâu nữa cho ngươi kể. Vả lại ngươi có phải lên rừng xuống biển đâu mà kêu vất vả?


   - ừ, thôi không phải kể lể nữa. - Tương Dực nói.


   - Thần không vất vả công việc thổ mộc nhưng lo không xong việc. Cửu Trùng đài là điều tâm huyết, hoài bão của thần nên thần khao khát hoàn thành sớm ngày nào hay ngày ấy để chóng được chiêm ngưỡng thành quả của mình. Thần quên ăn quên ngủ, quên cả vợ con, chỉ biết có Cửu Trùng đài huy hoàng, tráng lệ mai sau...


   - Vậy là tốt. - Tương Dực ngắt lời Như Tô làm Như Tô đang say sưa bày tỏ bị chưng hửng. Nhà vua quay sang phía các hoạn quan - Thưởng cho Như Tô ngự tửu rồi các ngươi đưa trẫm đến Tây Hồ.


   Thừa vụ Thái giám Ngô Khoái rót cho Vũ Như Tô chén rượu, chờ hắn uống xong, y quay về phía các hoạn quan dưới quyền:


- Chuẩn bị hành cung và bến Đá.


   Hồ Tây buổi chiều hè lộng gió, nước hồ lăn tăn sóng. Nắng chiều biến cả một vùng nước mênh mông trở nên muôn hồng ngàn tía. Trong khi đám quan lại theo xa giá và quân Túc vệ dừng ở rừng bàng thì nhà vua, các hoạn quan và cung nữ men theo hồ đi tiếp lên Nghi Tàm, tới hành cung. Tương Dực bảo:


   - Trẫm muốn tắm ở bến Đá, cho các cung nữ được tắm. 


   Lập tức đám cung nữ reo lên rồi không ai bảo ai, cùng trút hết xống áo. Hoạn quan giúp vua cởi bỏ cân đai mũ mãng và đưa vua ra bến. Cung nữ líu ríu theo sau, tồng ngồng một đám. Bến Đá Nghi Tàm chỉ dành cho nhà vua và hoàng hậu, vua và hoàng hậu muốn cho ai tắm mới được tắm. Nước ở đây lúc nào cũng trong nhờ những phiến đá lát dưới nước không cho bùn vẩn lên, cũng nhờ có đá mà vào mùa hè nước rất mát.


   Vua tôi mấy chục người ùm ùm lội nước, ai nấy trắng hêu hếu. Vua té nước đùa các cung nữ, thỉnh thoảng lại ôm lấy một người. Rồi vua đứng yên cho họ xoa xít kỳ cọ, chỗ nào và lâu bao nhiêu tuỳ họ, riêng có một chỗ ai cũng được đặt tay vào nhưng chỉ được một lần, các cung nữ bên cạnh đếm từ một đến mười là phải thôi, nhường cho người khác. Nhiều cung nữ gần như run lên khi đặt tay vào đấy. Có người còn quỳ hẳn xuống áp cả mặt vào, xúc động, rạo rực vô cùng. Vua và cung nữ  cười như nắc nẻ, cười ngặt ngoẽo, đám hoạn quan trên bờ cũng nhe răng, ngú ngớ. Riêng hoạn quan vẫn mặc quần áo vì họ không là đàn ông cũng chẳng là đàn bà, cái của họ quái đản đến nỗi không ai muốn nhìn. Tương Dực đế chợt hỏi đám cung nữ:


   - Các khanh ai chưa biết bơi, trẫm dạy!


 Ai cũng bảo mình chưa biết bơi để được vua ôm ấp.


   Hoạn quan đưa đến chiếc thuyền rồng nhỏ, nhà vua, chín hoạn quan và bày cung nữ lên thuyền. Tám hoạn quan chèo, một người bẻ lái đưa thuyền ra giữa hồ. Cung nữ vẫn trần truồng mà đàn sáo. Tương Dực đế không rời cung nữ trong lòng, hết người này đến người khác cho họ khỏi tị nhau. Nhưng các cung nữ vẫn chí choé ghen tuông, nhất là khi cung nữ nào đang trong lòng vua mặt mũi bỗng ngây dại. Nhà vua bảo:


   - Trẫm xin báo tin mừng cho các khanh: Quý tần Phi Yến đã mang long thai! Nàng bảo khi trước con với chồng cũ của nàng chân có một ngấn nên đứa này sẽ lại con trai. Hôm nay ta quá vui là vì vậy.


 Cung nữ nghe chẳng ai mừng mà tất cả đều sị mặt ra. Nhà vua lại nói:


   - Còn đêm nay ai vào hầu trẫm, nếu được như Phi Yừn, sau sinh con trai trẫm sẽ đặt tên là Thái Đàm để ghi nhớ ngày may mắn trên đầm nước mênh mông này, nếu con gái sẽ đặt tên là Ngọc Đàm.


   Các cung nữ náo nức hẳn lên. 


   - Bây giờ trẫm và các khanh cùng làm thơ. Trẫm đọc một câu, các khanh đọc câu tiếp cho đến hết tám câu. “Say hoa đắm nguyệt bởi vì đâu”.


   Cung nữ lúc nãy đỏ mặt đọc tiếp:


   - “Bởi biết rằng đây thú có mầu”.


   - Hay lắm! - Nhà vua khen - “Tây hồ nước trong leo lẻo”.


 - “Bến Đá trời biếc làu làu”.


   - Hai câu tiếp các khanh để trẫm đọc cả hai, vì chả ai nghĩ được hay hơn trẫm đâu. Câu đầu tặng các cung nữ, câu sau tặng các hoạn quan. Nhưng ta nói trước, đừng có ai tự ái đâu đấy: “Bé vú thở than người cả vú/ Không râu hiềm tị kẻ nhiều râu”.


   Tất cả cùng cười. Mấy cung nữ tới xoa cằm trêu đám hoạn quan và cười như nắc nẻ. Cung nữ đang ngồi trong lòng vua liền đưa tay vuốt râu vua, đọc:


- “Mặc trời phú tính yên đòi phận”.


Nhà vua dí ngón tay vào giữa hai đùi cung nữ:


- “ở đời chẳng mấy được lâu”.


Tất cả cùng vỗ tay cười. Tương Dực nói thêm:


   - Cuộc đời như chớp mắt nên phải tận hưởng mọi thú vui, các khanh ạ.  


   Trăng lên, thuyền đưa vua trở lại bến Đá để nhà vua trở lại hành cung và về Cấm thành. Dọc đường về Cấm thành, xe lắc lư, bánh xe lăn đều đều lộc cộc cùng không gian yên tĩnh, mát mẻ ru vua vào giấc ngủ. Buổi tắm ở bến Đá vui nhưng  quá hoan lạc nên vua mệt.


   Tương Dực đang bị đánh thức bởi những tiếng huyên náo, rồi nhà vua nhận ra bên ngoài có xô xát. Tiếng hô giết, tiếng cung nữ la hét như xé vải, tiếng hoạn quan e é như bị ai chọc tiết. Nhà vua vừa định vén màn xem sao thì một ngọn giáo từ bên ngoài phi xuyên qua bức gấm che đằng trước, cắm phập vào thành xe, cách đầu vua chưa đầy gang tay, đầu mũi giáo ròng ròng máu tươi! Nhà vua hoảng hồn nằm rạp xuống sàn xe. Chợt xe chúc xuống khiến nhà vua lăn khỏi xe: Con ngựa kéo xe vừa bị đâm chết. Đám hành thích khoảng chục tên, không nhiều nhưng hung hãn, tất cả đều bịt mặt và liều chết lăn xả vào xe vua. Hữu Vĩnh ra sức đâm chém, trúng mấy tên liền. Các hoạn quan bao quanh xe vua, họ không có vũ khí nhưng đông và liều chết bảo vệ vua nên đám hành thích không thể tới gần vua. Cuối cùng, những kẻ hành thích bỏ chạy, cố mang theo hết xác đồng bọn bị giết. Hoạn quan gần chục người thiệt mạng, còn lại hầu như ai cũng bị thương. Hộ thảng Thái giám Nguyễn Nhữ Vi bị đâm lòi ruột, tay ôm bụng, tay vịn vào người bên cạnh, cố đến xe nhà vua, nói:


   - Thần là người của Kính phi, cùng Kính phi lập Mẫn Lệ công lên ngôi, sau khi Mẫn Lệ công không còn, đám họ hàng thân thích của thần ở Hoa Lăng làm loạn bị bệ hạ diệt trừ, vậy mà riêng thần vẫn được dùng, thần thật lấy làm cảm động; đã vậy, khi Khắc Hài đánh lừa thần, thần tưởng y lòng ngay dạ thẳng thật bụng quy hồi nên dẫn đến hầu bệ hạ khiến tí nữa bệ hạ bị hại, vậy mà bệ hạ tha mạng, chỉ giáng chức, thần thật ơn sâu. Nên lúc nãy thần đã quyết lấy cái chết để đền ơn. Nay trước khi vĩnh biệt bệ hạ, thần có đôi lời tâm huyết xin dâng bệ hạ: Khoan thư sức dân, bao dung quần thần, hạn chế sắc dục, ấy là ba điều cần của bậc quân vương!


 Tương Dực đế nhìn Nhữ Vi như nhìn cái gì đó lạ lùng rồi phẩy tay:


 - Thôi, khanh đi đi!


   Nhữ Vi rũ xuống, máu mồm máu mũi ộc ra, tắt thở. Thừa vụ Thái giám Ngô Khoái cố đến gần xe vua để Tương Dực nhìn thấy y bị thương như thế nào: Một nhát chém vào cánh tay, máu vẫn còn đầm đìa. Tương Dực thấy thế bảo:


   - Chức Quảng vụ Thái giám còn trống, nay thăng Ngô Khoái giữ chức ấy và ban quốc tính.


   Đêm đó Tương Dực thức trắng, đầu tiên gọi Trịnh Duy Sản đến trách mắng: 


   - Trẫm giao cho khanh giữ quân Cẩm Y, chỉ huy Cấm binh, lại kiêm Phụng Thiên phủ doãn, vậy mà những kẻ muốn hại trẫm đâu đâu cũng thấy, thế thì ra làm sao?


   - Tâu bệ hạ, hiện Cẩm Y vệ đang lần theo vết máu của thích khách để tìm ra hung thủ.


   Đang lúc ấy, Hiệu uý tướng quân Hữu Vĩnh vào tâu quân Cấm vệ lần theo vết máu truy tìm hung thủ, gần đến phủ Thông vương Dung thì mất dấu vết và thấy người của phủ này đang quét dọn cổng, có lẽ là xoá dấu vết. Vì là phủ Thông vương nên Cấm vệ không dám vào. Hữu Vĩnh nói:


   - Lúc đầu thần nghĩ rằng tại đám Phù Chẩn, Đông Ngàn và Hoa Lăng, Thuỷ Đường còn chưa trừ hết nhưng hoá ra không phải. Thần nghe có người nói các con của Hiến Tông bảo họ là ngành trưởng, Tuy Túc Tông mất, Uy Mục không còn và Hoàng tử trưởng là An vương Tuân cũng đã mất cách đây vài năm thì ngôi báu vẫn phải thuộc anh em họ, như Ninh vương Trị, Ân vương Mỹ, Thông vương Dung, chứ sau lại sang ngành thứ được. Họ còn nói Uy Mục đế tuy có tàn bạo nhưng là anh, là vua; vua Hồng Thuận là em, là bày tôi mà lại giết anh, giết vua, như thế có phải không?


Tương Dực nghe thấy chối tai, gạt đi, bảo:  


    - Đám con cháu của các vương Thuyên, Tung, Cảo, Tranh, Khâm, Tác, Tương, Chiêu, Cảnh, Huyễn, Thoan, Kiện có dính dáng gì không? Giết, dù trong hoàng gia cũng phải giết mới xong.


   Trịnh Duy Sản nói:


   - Tâu bệ hạ, vừa rồi Hiệu uý tướng quân chỉ tấu trình một câu nói, chứ chưa khẳng định một ai, ngay với Thông vương cũng chỉ phỏng đoán, vì vậy bệ hạ định giết một loạt hoàng thân mà không có bằng cớ xác đáng, thần e...


   Tương Dực ngắt lời Duy Sản:


   - Khanh giữ vệ Cẩm Y đã không tròn chức phận lại còn cản trở công việc, khanh lui ra đI, không có lại trách trẫm quá tay!


Duy Sản lại nói:


   - Một số hoàng thân và quan đại thần phàn nàn rằng cung nữ Phi Yến vốn là kẻ có tội, không những được khoan dung mà còn được vào hàng Quý tần, thế là không phải!


   - Ai nói? Chắc đám anh em nhà Hiến Tông cho rằng ta làm vậy là hạ nhục cha chúng chứ gì? Bọn họ định làm gì trẫm đây?


   - Tâu bệ hạ, thần không lo bọn họ mà lo một kẻ tên là Cảo, họ Trần, xưng là con cháu nhà Trần đang nổi dậy chiếm giữ Đông Triều, Thuỷ Đường, trong tay vài nghìn quân lại nói phóng là vài vạn và tung tin sắp sửa tiến về Thăng Long.


   - Trước hết không thể nuôi ong tay áo, bắt hết đám anh em nhà Hiến Tông rồi lo diệt giặc Cảo cũng chưa muộn.


   Trịnh Duy Sản không nói sao, xin lui. Duy Sản đến than thở với Thái sư Thiệu Quốc công Lê Quảng Độ. Quảng Độ thở dài nói:


    - Chánh sứ Bắc quốc Trần Nhược Thuỷ, phó sứ Phạm Hy Tăng dạo trước sang tấn phong cho nhà vua nói với một số người, tôi cũng nghe được: “Quốc vương An Nam mặt thì đẹp mà người lại lệch, tính thích dâm, đó là vua lợn, loạn vong sẽ không bao lâu”! Điều ấy chả nhẽ lại đúng sao?


   Ngay đêm ấy Hữu Vĩnh bắt về 15 hoàng thân. Những người bỏ trốn, những người dây mơ rễ má đằng nội đằng ngoại có nghi vấn bị truy lùng ráo riết.


   Nghe tin dữ, Trịnh Duy Sản định vào cung can vua. Trịnh Duy Đại bảo:


   - Lúc này nhà vua đang rất giận và hoang mang, em không nên vào.


   Duy Sản nói:


      - Vua Hồng Thuận được ngôi báu một phần cũng nhờ anh em mình chứ đâu chỉ riêng cha con Nguyễn Văn Lang. Còn như diệt Trần Tuân rồi Lê Hy, Lê Minh Triệt ở Nghệ An, Thanh Hoa, Phùng Chương ở Tam Đảo thì chính là em đây chứ còn ai. Nay Văn Lang đã chết, con y là Văn Lự thì kém cỏi, anh em mình là chỗ dựa của triều đình chứ còn ai nữa? Em can vua cũng là củng cố cái địa vị cho họ hàng mình. Anh chớ lo cho em.


   Trịnh Duy Sản vào cung trong lúc Tương Dực đang cơn bực nên Sản mới nói được vài câu đã bị Tương Dực ngắt lời:


   - Ngươi đến thật đúng lúc. Ta đang muốn tìm kẻ thật xứng đáng để trị tội làm gương. Ngươi chính là kẻ ta đang cần! Thứ nhất, ngươi là cháu nội khai quốc công thần Hiển Khánh vương Trịnh Khả; thứ hai, ngươi có công lớn dẹp mấy đảng giặc phản loạn; thứ ba, thấy ta gần đây tin cậy, ngươi bắt đầu tỏ ra kiêu ngạo. Trị ngươi vừa đe được những kẻ âm mưu phản loạn, vừa ngừa được những kẻ như ngươi kéo đến đây nói điều ngu ngốc. Nhân đây ta phải nói cho ngươi biết: Vua Thánh Tông truy phong cho ông nội ngươi làm Hiển Khánh vương, đó chẳng qua khi Quang Thục hoàng thái hậu, mẹ vua Thánh Tông, lúc còn là Tiệp dư vì đã làm trái ý  Hoàng hậu và giở thói ghen tuông nên bị Thái Tông bắt giam ngoài vườn hoa, ông nội ngươi xin cho Quang Thục được ra ở chùa Huy Văn, nên sau này Thánh Tông lên ngôi đã truy phong để trả cái ơn ấy. Chứ có người nói ông nội ngươi kết bè đảng làm phản nên cùng với con trưởng là Trịnh Bá Quát bị vua Thái Tông trừ diệt.


Duy Sản giận tái mặt nhưng cố lấy giọng mềm mỏng:


   - Tâu bệ hạ, việc ấy đã được triều đình thanh minh là không có, chỉ vì ông nội thần bị những kẻ hủ bại ghen ghét tài năng mà gièm pha. Vua Thánh Tông vì thế mới truy tặng là Thiếu phó Liệt Quốc công, sau truy thăng làm Hiển Khánh vương. Vua Thánh Tông còn lưu ý về sau nhớ ưu đãi con cháu nhà vương và nói: “Anh em họ Trịnh mười người thẩy đều quý hiển”. Mười người ấy là các bác, các chú và thân phụ của thần. Nay thần có gì không phải thì bệ hạ cứ việc quở trách, không thể đem ông cha của thần ra mà làm lệch lạc đi. Vả lại, Huy Từ hoàng thái hậu thân mẫu của bệ hạ cũng chính là cháu Hiển Khánh vương, có lẽ trong lúc nóng giận bệ hạ chưa kịp nhớ ra? 


   Tương Dực càng tức vì câu nói ấy, liền sai người lôi Trịnh Duy Sản ra phạt lấy lệ 5 trượng, không cho giữ vệ Cẩm Y. Tuy bị đánh không mấy đau đớn nhưng Duy Sản lấy vậy làm nhục nhã nên rất căm phẫn.


   Vệ Cẩm Y được giao cho Hữu Vĩnh. Vừa lúc đó tướng giữ vệ Kim Ngô là Cù Khắc Xương mang quân đi đánh Trần Cảo bị thua, Duy Sản nghĩ không nắm quân đội không được nên nói với Thái sư Lê Quảng Độ và Lê Nghĩa Chiêu, hai người cùng dâng biểu lên Tương Dực xin cách chức Khắc Xương, giao vệ Kim Ngô cho Duy Sản. Quảng Độ nói: “Duy Sản nhất thời có làm bệ hạ phật ý nhưng đó là tướng giỏi, không nên để phí.”. Tương Dực nghe theo.


   Tương Dực dùng hình phạt nặng tra tấn các thân vương nên có người không chịu nổi đã cung khai. Quả là trong bọn họ có người định thay thế Tương Dực bằng vua khác. Các thân vương bị chém không còn một ai. Pháp trường lại một lần nữa đầm đìa máu tươi. Thanh đao chém người không dây máu của lão đao phủ thọt chân lại được lấy ra. Cứ mỗi cái đầu rụng xuống, người phụ trảm lại nhặt lấy tung  lên cao cho mọi người xem đều được thấy. Đúng 15 lần như thế. 


   Trong khi đó anh em Trịnh Duy Đạt, Trịnh Duy Sản bàn nhau. Duy Sản nói với Duy Đại:


   - Oánh quên chúng ta là chỗ ngoại thích họ hàng với mẹ hắn và còn là bậc cha chú hắn, quên cả việc anh em ta liều chết tổ chức cướp ngục, đưa hắn chạy về Thanh Hoa, cùng chiêu tập binh mã dựng hắn lên ngôi, sau đó còn vì hắn mà không quản vất vả đánh dẹp các đảng giặc! Oánh còn nói những điều trái ngược về Hiển Khánh vương! Thật vuốt mặt chẳng nể mũi tí nào.


 Duy Đại bảo:


   - Không thể để thằng cháu ngoại hỗn xược ấy ngồi yên trên ngai vàng được. Anh em mình dứt khoát phải hành động, mỗi người tìm lấy một người, giao hẹn nếu người của anh lên ngôi thì em thôi, người của em lên ngôi thì anh thôi. Việc này phải tuyệt đối bí mật nếu không sẽ liên lụy đến cả họ bởi Oánh tàn bạo không từ một ai. Với lại, đám Nguyễn Văn Lự, Nguyễn Hoằng Dụ mà biết hành động của anh em mình, thể nào chúng cũng phá, hoặc phò Oánh, hoặc đưa người của chúng lên. Mặc dù vậy, vẫn cần liên kết với một số đại thần chứ riêng anh em mình không đủ sức.


   - Anh nói phải lắm, Lê Quảng Độ, Trình Chí Sâm, Lê Nghĩa Chiêu và một vài người nữa cũng có ý không tuân phục Oánh, có thể bàn việc lớn với họ được. Nhưng dẫu sao trước hết vẫn phải liên kết anh em con cháu trong họ lại. Duy Liệu, Duy Thuận, Duy Duyệt, rồi đám Tuy, Hựu, Hưng bọn họ sao lại chẳng đồng tâm với ta.


    - Ông Vũ Tá hầu Phùng Mại vẫn giận cái việc Oánh sai Thái giám ép ông ta đưa Lê phi trở lại cung làm ông ta mang tiếng với thiên hạ; đã vậy, chưa được ba bảy hai mươi mốt ngày Oánh đã ruồng rẫy Lê phi, đi say đắm Phi Yến. Người này có thể liên kết với chúng ta được.


    Quả như Duy Đại nói, chỉ mới nói xa gần úp mở, Phùng Mại đã sôi nổi bàn việc phế lập với Duy Đại. Phùng Mại muốn lập con Cẩm Giang vương là Lê Y lên thay. Duy Đại thấy hợp lý, về nói với Duy Sản, Duy Sản lại muốn lập con của Mục ý vương là Quang Trị. Mục ý vương Lê Doanh là em Cẩm Giang vương Lê Sùng và Tương Dực đế Lê Oánh. Mấy năm trước, khi Lê Oánh mạo danh Cẩm Giang vương khởi nghĩa chống lại Uy Mục, Cẩm Giang vương và các em là Lê Vinh và Lê Quyên đều bị Uy Mục giết. Mục ý vương không bị bắt vì ốm thập tử nhất sinh, sau đó mấy ngày thì mất nên không bị hành hình. Vợ Cẩm Giang vương nhờ đưa các con về quê ăn giỗ nên thoát được. Vợ Mục Ý vương cũng may mắn đem con trốn được.


    Anh em Trịnh Duy Đại, Duy Sản vẫn lo đằng họ Nguyễn Tống Sơn. Thấy vậy, Trịnh Tuy, cháu gọi hai người là chú nói:


   - Cháu coi đám Tống Sơn chẳng khác gì đồ hổ giấy, thổi phù cái là bay. Giờ chúng chỉ có ba kẻ đáng ngại là Văn Lự, Hoằng Dụ và con Dụ là Nguyễn Kim. Nhưng Văn Lự bất tài, Hoằng Dụ thấp mưu mà Nguyễn Kim thì chưa thể quyết đoán. Các chú cứ lo liệu việc nội cung, việc họ Nguyễn cháu lo. Cháu sẽ chia quân làm hai, mặt bộ chặn đèo Tam Điệp; mặt thuỷ chặn hết các cửa sông, từ cửa Đáy ra đến cửa Nam Triệu, tất cả 8 cửa sông lớn. Quân Tống Sơn chỉ có thể qua được một khi bước qua xác cháu.


   - Khá lắm! - Duy Đại khen - Chim hồng hộc bay cao bay xa được là nhờ các trụ xương cánh cái to cái nhỏ. Cháu ta là cái trụ xương cánh nhỏ ấy.


   Đang lúc ấy, tin bay về kinh đô: Trần Cảo xưng là Đế Thích giáng thế, giương cờ khôi phục nhà Trần, nổi dậy ở Đông Triều, Thuỷ Đường, hiện đang đánh sang Bắc Giang, lực lượng còn mạnh gấp mười lần Trần Tuân ngày trước. Được tin, Trịnh Duy Sản vỗ tay:


   - Hay lắm, đang chưa có cách nào hành động bí mật thì đây chính là dịp may để thừa gió bẻ măng đây!


   10


    Hai anh em Duy Đại, Duy Sản bàn nhau dù có thế nào cũng phải chặn giặc Cảo không cho chúng tiến sâu xuống mạn Nam, do vậy Duy Đại mang quân lên Kinh Bắc. Duy Sản lo việc ở kinh đô.


   Trịnh Duy Sản lấy cớ Trần Cảo nổi loạn, triều đình cử hết người này đi đánh đều không nổi, bèn đem binh thuyền, khí giới tới bến Thái Cực ở sông Hồng, nói là để đưa thuyền vào sông Đuống chuẩn bị tiến lên mạn Bắc đánh giặc Cảo. Lúc ấy đang đầu tháng Tư, sông cạn, bãi Phúc Xá trơ đất nên quân lính vệ Kim Ngô của Duy Sản ban ngày đổ lên bãi, chia thành từng đám tập trận. Người các phường gần đấy rủ nhau lên đê xem rất đông, không khí thật khác thường. Chiều tối quân lính thổi nấu, khói bếp bay từng đám trên bãi, cứ như cảnh đốt rơm đốt rạ trên những cánh đồng, chuẩn bị cho vụ mới, không khí đầy vẻ yên bình. Nhưng về đêm, khoảng canh hai, khi phố phường các nhà đã cửa đóng then cài đi ngủ từ lâu thì từ các thuyền 3000 quân của Duy Sản miệng ngậm tăm, ngựa tháo nhạc lặng lẽ lên bờ, tới cửa Bắc, đàng hoàng gọi mở cổng thành. Cổng thành mở rồi chúng mới hò reo kéo tới Hoàng thành.


    Lúc đó Tương Dực đang nằm cùng Phi Yến. Phi Yến sinh hoàng tử nên được Tương Dực hết sức chiều chuộng, nàng cậy thế, không chịu nhường nhà vua cho hoàng phi, cung tần nào. Hoạn quan vào báo có giặc, Tương Dực cuống cuồng trở dậy, hốt hoảng hỏi:


   - Giặc nào? Trần Cảo à? Hắn đã đến kinh thành nhanh vậy sao? Quân Kim Ngô của Duy Sản đóng ở bến Thái Cực không ngăn được chúng ư? Vậy Hữu Vĩnh đâu? Quân Cẩm Y hay Vũ Lâm đâu?


   Đám hoạn quan nói đang đêm tối quá nên không biết ai với ai. Khâm Đức Hoàng hậu dẫn ba công chúa con mình tất tả chạy đến, Quý tần Phi Yến cũng bế hoàng tử sẵn sàng cùng nhà vua chạy khỏi kinh đô. Chỉ có Lê Quý phi ở xa không tới được. Hoạn quan kiếm được một chiếc xe. Quan Thừa chỉ Nguyễn Vũ mang được ấn tín đến, lại dẫn được tới ba con ngựa, một con cho nhà vua, một con để kéo xe còn một con cho mình. Chiếc xe phải chở những năm người. Tất cả theo lối cửa Bảo Khánh, chạy đến Da Kiều, tên Nôm là cầu Dừa, định sang với vệ Thiên Vũ của Mạc Đăng Dung bên kia sông thì thấy cầu bị phá và trên bờ lố nhố bóng người mang vũ khí, sợ là quân giặc nên lại phải tìm đường quay lại cửa Nam thành. Trời tối, không dám thắp đuốc vì sợ giặc biết nên lọ mọ rất khổ.


   Mạc Đăng Dung và vệ Thiên Vũ đóng bản doanh bên kia Da Kiều, đây là của ngõ phía Nam kinh thành đồng thời cũng là lối đi Sơn Nam, từ đó vào Tây Đô, Thanh Hoa, vì thế vị trí rất trọng yếu. Khoảng nửa đêm thấy bên kia sông có ánh đuốc, Mạc Đăng Dung liền sai Mạc Đốc tới xem. Mạc Đốc đi rồi về báo đó là Trịnh Tuy đem quân vệ Kim Ngô tới phá cầu Dừa, nói là giặc Cảo đã đánh tới kinh thành, nay phải phá cầu không cho chúng tiến xuống phía Nam. Mạc Đăng Dung ngẫm nghĩ rồi bảo:


   - Chưa chắc đã phải vậy. Ta đồ rằng triều đình lại có chuyện gì đây.


   Mạc Đăng Dung liền báo động toàn vệ quân, tất cả sẵn sàng chờ lệnh.


   Vua Tương Dực và đám thị vệ chạy giữa chừng thì lạc mất xe Hoàng hậu và Phi Yến. Tới gần hồ Chu Tước phường Bích Câu nhà vua định lánh vào đền An Quốc chờ đến sáng thì một toán quân kéo đến, trong ánh đuốc chập chờn của toàn quân ấy, Tương Dực thấy có Trịnh Duy Sản, Lê Nghĩa Chiêu nên mừng quá, hỏi:


   - May quá, được gặp các khanh ở đây! Giặc ở phía nào? 


    Duy Sản không trả lời, quay mặt đi cười ầm lên, vẫy gươm cho đám lính. Tương Dực biết là nguy liền quay ngựa chạy, bị quân của Duy Sản giơ giáo chặn lại. Duy Sản sai tì tướng Vũ Hạnh đâm cho vua ngã ngựa rồi bắt lấy. Duy Sản trỏ gươm về phía Thừa chỉ Nguyễn Vũ:


- Thằng này họ hàng với Nguyễn Văn Lang, cho nó đi theo hầu lão ta!


   Nguyễn Vũ bị đâm chết ngay tức khắc. Duy Sản thu ấn tín và chĩa gươm vào Tương Dực:


   - Trước kia tên bạo chúa này rất thích hình phạt lăng trì, nay hãy cho hắn biết tùng xẻo thì người ta đau đớn thế nào!


    Tương Dực bị xẻo một miếng to bằng ngón tay ở vai, y cắn răng chịu đau không kêu một tiếng, chỉ trừng mắt nhìn Duy Sản. Ai đó nói:


    - Hắn loạn luân với cả vợ của anh, vợ của cha, để lại cái của nợ cho hắn  làm gì!


    Tất cả cùng cười ầm lên coi là câu nói đùa nhưng nhiều tiếng đồng thanh: “Đúng rồi, xẻo cái của khỉ ấy đi, để làm gì!”. Tương Dực bị đè nghiến xuống, lột quần, trong nháy mắt hạ bộ đã không còn, đến lúc này Tương Dực mới kêu thét lên và ngất đi, chỗ hạ bộ bằng tịt, máu mê nhoe nhoét. Duy Sản sai đâm cho Tương Dực chết hẳn rồi đem thi hài về quán Bắc Sứ, chất củi đốt một đống lửa lớn quăng xác vào. Không khí thoáng chốc khét lẹt mùi da thịt cháy. 


    Xe Hoàng hậu Khâm Đức và Quý tần Phi Yến bị lạc một lúc thì người đánh xe nói là đi xem đường đất thế nào rồi trốn biệt. Hai bà hoàng và đám hoàng tử, công chúa không biết đánh xe ra sao nên bảo nhau xuống xe. Họ dẫn nhau vào quán nước bỏ không bên đường. Các công chúa con Hoàng hậu bảo đã biết nghe lời nên không dám khóc, con của Phi Yến còn bé nên khóc như xé vải. Hoàng hậu bực quá, bảo:


   - Bạch Yến! Ngươi có bịt mồm nó lại được không thì bảo? Nói cho ngươi biết, quỷ kế của ngươi sao che mắt được ta? Thằng bé này đâu phải là máu mủ của Hoàng thượng! Ngươi có mang với chồng cũ rồi đánh lừa Hoàng thượng. Đã bao nhiêu lần ta định nói cho Hoàng thượng biết nhưng lại thương Hoàng thượng nên thôi, định bao giờ Hoàng thượng thật có hoàng nam ta mới lột trần quỷ kế của ngươi. Nhưng giời thật có mắt, ngươi khôn ngoan đáo để nay lại hoá dại. Giặc mà bắt được ngươi, liệu có tha cho ngươi không, có tha cho con của ngươi không?


   Bạch Yến sợ quá sụp lậy Hoàng hậu, bảo mình không muốn trở lại cung như Lê Quý phi nhưng thấy nhà vua quá mong hoàng tử nên đâm liều, biết đâu lại sinh được con trai, chứ lúc đầu cũng chỉ mong được sống chứ không dám ham địa vị. Hoàng hậu nghe xong bỗng thở dài:


   - Thật không ai như Hoàng thượng, nghe kẻ xấu bói toán bảo phải ăn nằm với ai đã từng sinh con trai thì mới có thể sinh hoàng tử, Hoàng thượng đã ăn nằm với... với ai ngươi có biết không? Với cả vợ lẽ của Kiến vương là cha mình! Bà này hơn Hoàng thượng 10 tuổi. Thực ra thì sau khi Kiến vương mất bà ấy đã đi lấy chồng khác. ở với người chồng mới bà này sinh hai năm đôi mà cả hai lần đều đẻ sinh đôi và đều con trai, vậy nên  Hoàng thượng mới hám. Nhưng về với Hoàng thượng chẳng bao lâu thì bà này mất. Ai cũng bảo đó là tại Kiến vương quá giận nên bắt bà ấy đi. 


   Bạch Yến đỏ mặt xong rồi lại tái mặt đi khi nghĩ đến mình. Hoàng hậu nói  tiếp:


    - Nên ta giận ngươi dám lừa Hoàng thượng nhưng nghĩ cho cùng, tại Hoàng thượng là chính. Nhưng bây giờ, nói dại khuất mặt Hoàng thượng, nếu Hoàng thượng bị giặc làm hại thì chẳng những ta mà cả ngươi cũng không còn bấu víu vào đâu. Ta giặc còn có thể để sống chứ ngươi thì giặc chẳng thể tha vì giặc nghĩ con trai ngươi là con Hoàng thượng! Còn nếu giặc tan, Hoàng thượng quay về thì tội của ngươi chẳng những ta mà ba con của ta kia, chúng nghe thấy hết, lúc đó tội ngươi đáng bị lăng trì! Vậy nên ta bảo thật ngươi hãy trốn đi đâu thật xa, thay tên đổi họ và về với ruộng vườn, cá mú của ngươi, chăm lo mà nuôi con khôn lớn, đừng bao giờ nghĩ đến nơi lầu son gác tía nữa!


   Bạch Yến vâng dạ khóc lóc, lạy Hoàng hậu rồi bế con đi.


   Lúc đó trời đã sáng. Nghe người hàng phố nói với nhau và kéo đến quán Bắc Sứ xem thiêu xác vua Hồng Thuận, Hoàng hậu vội dắt con tới đấy. Lúc đó đống lửa thiêu vẫn chưa tàn, vì xác Tương Dực vẫn chưa cháy hết nên người ta vẫn tiếp tục kiếm thêm củi vứt vào. Thấy xác nhà vua đen như than, không còn ra hình hài, cả Hoàng hậu và ba công chúa cùng khóc ầm lên.  Hoàng hậu vật vã:


   - Hoàng thượng ơi, thần thiếp thực có tội, thần thiếp không kịp nói cho Hoàng thượng biết con của cung nữ Bạch Yến không phải là cốt nhục của Hoàng thượng! Nó là con của gã nông phu, anh tên quan hoạn Khắc Hài!  Tội này của thiếp không thể dung tha nên trời bắt thiếp phải đi theo Hoàng thượng đây! - Khâm Đức Hoàng hậu quay về phía bọn Duy Sản - Ta thất đức nên sinh được ba mụn con gái. Khốn khổ cho chúng, sau khi ta đi rồi mong các ngươi tha cho chúng, chúng không có tội, lại là con gái! Còn con của Bạch Yến, ta nói rồi đấy, nó không phải là con của nhà vua, cũng mong các ngươi đừng cố truy tìm nó làm gì!


Ôm lấy các con, Hoàng hậu nức nở:


   - Mẹ có lỗi với các con. NHưng mẹ không thể nào làm khác được. Nừu các quan đây rộng lượng mở đường sống cho các con thì hãy xa lánh chốn này, đI đâu thì đI và hãy sống như những kẻ áo vảI, cốt là biết thương yêu nhau. Thôi mẹ đi đây.


    Nói xong Hoàng hậu nhảy vào đống lửa rừng rực, ôm choàng lấy xác Tương Dực, cái xác lập tức tan thành tro. Ai đó nói:


    - Bà ta nói con của Phi Yến không phải cốt nhục của Hồng Thuận, có nên tin không nhỉ? 


   Không ai trả lời.


   Dân chúng chỉ thương mỗi Hoàng hậu, nhiều người đã không cầm nổi nước mắt.   


                                                                     *


    Hành động của đám họ Trịnh ở kinh đô dù bí mật đến mấy vẫn đến tai họ Nguyễn ở Thanh Hoa. Dù đang còn để tang cha, Nguyễn Văn Lự thấy không thể không tiến quân ra Bắc, liền sai cha con Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim đi đường biển còn mình tự dẫn quân đi đường bộ. Nguyễn Hoằng Dụ hỏi:


- Ta ra Bắc lần này để cứu giá hay lập vua mới?


- Hồng Thuận còn thì cứu giá, Hồng Thuận không còn thì lập vua mới.


   - Có phải đánh nhau với đám họ Trịnh không?


   - Thấy đánh được thì đánh, thấy không đánh được thì liên kết, quyết không được để cho chúng muốn làm gì thì làm. Nhưng ban đầu phải nói với thiên hạ rằng đem quân đi đánh giặc Cảo.


- Nếu phải lập vua mới thì lập ai?


   - Vừa rồi Hồng Thuận giết một lúc 15 người trong hoàng gia khiến ta chưa nghĩ ra ai xứng đáng để lập vua mới. Nếu họ Trịnh giết mất Hồng Thuận mà ta chưa ra tới kinh đô thì tìm cách cản trở chúng, bảo chờ ta ra để bàn bạc.


- Nhỡ khi chúng ta ra đến nơi, mọi việc đã xong thì sao?


Nguyễn Văn Lự nín lặng một lúc rồi bảo:


- Thế nào thì cũng phải làm cho họ Trịnh không dám coi thường chúng ta.


   Họ Nguyễn Tống Sơn chia làm hai đường thuỷ bộ cùng tiến quân ra Bắc. Quân họ Trịnh Thuỷ Chú chặn các ngả nhưng chỉ dám gây cản trở ít nhiều rồi cũng phải cho quân Tống Sơn qua vì họ nói có lệnh vua đem quân Tam phủ ra đánh giặc Cảo.


    Binh thuyền cha con Hoằng Dụ vào cửa sông Hồng, trương hết buồm đón gió Đông tiến sâu vào đất liền. Vì bến Thái Cực đã bị Trịnh Duy Sản chiếm giữ nên binh thuyền phải đổ quân dưới hạ lưu. Hoằng Dụ chỉ để ít quân giữ thuyền còn tất cả gấp rút tiến về phía kinh thành. Tới gần hồ Hữu Vọng thì gặp Hiệu uý Hữu Vĩnh và mấy tên lính Cẩm Y. Hữu Vĩnh hỏi:


- Các ngươi ở Thanh Hoa ra đây để đánh họ Trịnh có phải không?


Hoằng Dụ khôn ngoan đáp:


- Chúng ta ra đây để yên ổn thiên hạ.


- Trịnh Duy Sản đã giết mất vua Hồng Thuận, bây giờ các ngươi tính sao?


- Thế chúng đã lập vua mới chưa?


   - Ta không biết. Bọn Duy Sản đem quân vệ Kim Ngô đến bến Thái Cực nói phao lên rằng để lên Bắc Giang đánh bọn Trần Cảo, không ngờ đấy là quỷ kế. Đêm qua chúng bất ngờ đánh vào Hoàng thành khiến quân Cẩm Y không kịp trở tay. Ta từ Hoàng thành chạy thoát tới đây nên không hiểu trong thành hiện ra sao. Bây giờ ta và ngươi hợp sức quay lại kinh thành báo thù cho vua Hồng Thuận.


   Hoằng Dụ nổi giận:


   - Ngươi nắm trong tay mấy nghìn binh mã vệ Cẩm Y mà không làm gì nổi Duy Sản, để vua phải chết, thật đáng xấu hổ, bây giờ chỉ còn mươi mống thế kia mà dám bảo hợp sức với ta. Ngươi đi đâu thì đi cho khuất mắt ta, ta không cần một kẻ như ngươi!


   Hữu Vĩnh ngượng, cúi gằm mặt.


   Hoằng Dụ thúc quân tiến gấp về Hoàng thành, dọc đường đốt mấy nhà bên phố để thị uy. Đám cháy lúc đầu thì nhỏ sau lan ra thành lớn, cả một góc phố phường Kẻ Chợ bốc cháy ngùn ngụt. Đến khu vực đang xây dựng Cửu Trùng Đài, Hoàng Dụ lại sai phóng hoả cốt cho đám họ Trịnh phải khiếp sợ.


    Thợ thuyền ngẩn ngơ nhìn cung điện rực cháy, xót xa với không biết bao nhiêu công sức bấy nay đổ ra. Vũ Như Tô đầu tóc rũ rượi, mặt mày nhọ nhem, như từ đám khói lửa đi ra. Một người bỗng thét lên:


   - Giết chết thằng chó kia đi, vì nó bày vẽ cho nhà vua mà lâu nay anh em ta khổ, bao nhiêu người chết, bao nhiêu người da bọc xương! Bây giờ thì cháy hết, không còn gì cả.


   Vũ Như Tô ngơ ngác, cái nhìn như ngây như dại:


   - Giết ta á? Thì giết đi! Ta có còn gì nữa đâu, ta sống làm gì? Các ngươi không biết gì cả, có phải ta xây Điện trăm nóc, xây Cửu Trùng Đài là cho vua Hồng Thuận đâu! Nhà vua không thể sống mãi, ta cũng như các ngươi rồi cũng sẽ chết, nhưng cung điện ta và các ngươi xây đây sẽ còn mãi đến đời sau, như Vạn Lý Trường Thành của nhà Tần, như cửu môn, nhị cung, tam điện, ngũ phủ, lục bộ trong Cấm cung nhà Minh. Cửu Trùng Đài chính là tâm nguyện, là hoài bão của ta. Bây giờ thì hết rồi, thành tro hết cả rồi!


   - Mày tiếc tâm nguyện của mày à? Thế xương máu, mồ hôi của chúng ta thì sao? Bao nhiêu người đã chết thì sao? Mày lúc sánh vai với Nguyễn Văn Lang, lúc đi cùng Hồng Thuận, chúng mày xây nên cung điện rồi lại chính chúng mày đốt nó, còn lải nhải cái gì nữa?


   Vũ Như Tô trừng mắt:


- Ta không dính dáng gì với đám mũ cao áo dài, ta chỉ...


   - Giết chết nó đi, nó chỉ cốt làm đẹp lòng vua chúa, cái tâm nguyện, hoài bão của nó chỉ là thứ rác rưởi hại người!


   Những người thợ trong cơn phẫn nộ đến điên loạn ùa tới cắm phập lưỡi đục


lưỡi chàng, đập vồ đập búa vào Vũ Như Tô, hết nhát này đến nhát khác, hết chỗ này đến chỗ khác, khi rời ra thì Vũ Như Tô đã không còn ra hình người. Xong, thợ thuyền bảo nhau trốn hết.


   Giết Tương Dực rồi, Trịnh Duy Sản triệu các tôn thất đại thần tới điện Nghị Sự. Vì trong triều lúc này người quyền hành cao nhất là Thái sư Thiệu Quốc công Lê Quảng Độ nên Quảng Độ đứng ra nói:


   - Ngành trưởng đã bị Hồng Thuận giết hết, ngành thứ nay có con của Mục ý vương là Quang Trị, người hiền đức, nên lập ông ấy lên làm chủ thiên hạ.


    Vũ Tá hầu Phùng Mại nói:


   - Đang lúc rối ren thế này, giặc Cảo lại đã đánh tới Kinh Bắc mà lập người mới có 8 tuổi lên ngôi liệu có nên không, mong các vị xét kỹ. Ngày trước nếu Oánh không mượn tiếng Cẩm Giang vương chắc gì đã diệt được Mẫn Lệ công, nhưng chính vì thế mà Cẩm Giang vương bị hại oan uổng. Giá như Cẩm Giang vương còn, hẳn Oánh phải để anh mình lên ngôi báu. Vậy nay không gì bằng lập con của Cẩm Giang vương tên là Y lên ngôi.  


Duy Sản bảo:


     - Lê Y cũng mới 11 hay 12 tuổi gì đấy, không hơn Quang Trị là mấy.


   Bên muốn lập Lê Y, bên muốn lập Lê Quang Trị, không bên nào chịu nhường bên nào. Tường Quận công Phùng Dĩnh đứng về phía Duy Sản, thấy nói mãi mà người em cùng cha khác mẹ là Phùng Mại không nghe, bèn sai lực sĩ của mình lôi Phùng Mại ra khỏi điện. Bị lôi xềnh xệch Phùng Mại vẫn vùng vẫy và gân cổ đòi lập Lê Y, bọn lực sĩ điên tiết đập cho mấy nhát dùi sắt vào đầu, Phùng Mại phọt óc chết.


   Bọn Lê Quảng Độ, Trịnh Duy Sản lập Quang Trị lên ngôi.


   Tương Dực tuy đã chết vẫn bị giáng xuống làm Linh ẩn vương. Tương Dực ở ngôi được 7 năm, đến tháng Tư năm Bính Tí (1516) thì bị giết, thọ 24 tuổi. Tổng tài quốc sử quán Vũ Quỳnh được giao việc chép sử nhưng chỉ chép có bốn đời vua Lê, từ Thánh Tông đến Uy Mục rồi nhất định không viết tiếp nữa. Nên mãi về sau sử thần hậu thế mới bàn về cái chết của Tương Dực như sau: “Linh ẩn vương gian dâm với vợ lẽ của cha, để tang cha mẹ ít, mượn tên của anh để cướp nước, xa hoa dâm dục quá độ, hình phạt thuế khoá nặng nề, giết hết các thân vương, đương thời gọi là vua lợn, điềm nguy vong đã hiện ra vậy”.


   Trong khi đó, Trịnh Duy Đại đánh nhau với quân Trần Cảo bị thua, bỏ chạy về Đông Kinh, thấy việc phế lập đã xong liền nói với Duy Sản: 


   - ý anh muốn lập Lê Y nhưng em đã chọn Quang Trị rồi thì anh cũng theo, như anh em mình trước đây đã bàn, vì Y hay Trị cũng vậy, cũng chỉ là bù nhìn coi dưa cho anh em mình. Nay giặc Cảo đã chiếm gần hết Bắc Hà, có khi ta phải đưa vua về Tây Đô mới yên ổn được. Hơn nữa đám họ Nguyễn Tống Sơn cũng đang ở kinh thành, để vua gần chúng khác nào để mỡ trước miệng mèo, không thể yên tâm được.


   Duy Sản nói:


   - Trần Cảo chỉ là đám giặc cỏ, có gì mà sợ. Quân Tống Sơn em càng chẳng coi ra gì. Nay anh hãy ở lại kinh coi sóc nhà vua để em lên mạn Bắc đánh giặc Cảo, hẹn trong ba tháng sẽ đem đầu Cảo về.


   Duy Đại can em không được đành phải mặc cho y làm gì thì làm.


   Phú Bình hầu Nguyễn Văn Lự ra đến Đông Kinh thì đã đâu vào đấy, tuy nhiên vẫn làm như chưa biết gì nên cùng An Hoà hầu Nguyễn Hoằng Dụ đến dinh Trịnh Duy Đại. Văn Lự nói:


   - Mừng cho anh em Trịnh tướng quân đã diệt được hôn quân. Chúng tôi ra đây muộn không đóng góp được gì, thật lấy làm áy náy. Nay xin được cùng bàn bạc việc lập vua mới.


   - Mọi việc đã xong xuôi, không phải phiền hai vị tướng quân nghĩ ngợi. Nước một ngày không thể không có vua nên ngay sau khi diệt được hôn quân, không thể chờ được hai vị, các tôn thất đại thần đã bàn nhau tôn Quang Trị là con Mục ý vương lên ngôi. Hai vị tướng quân không được bàn, thật tiếc!


   - Triều đình hiện nay như cái kiềng ba chân, một chân là các vị trong hoàng gia, một chân là họ Nguyễn Tống Sơn chúng tôi, chân nữa là họ Trịnh Thuỷ Chú của anh em nhà tướng quân. Bất kể việc gì thiếu một trong ba họ đều không thể được. Việc diệt Hồng Thuận chúng tôi đã không được bàn, nay việc lập vua mới chúng tôi lại cũng không được bàn, chúng tôi quyết không nghe!


- Biết vậy, nhưng việc lập vua mới đã xong, không thể lập vua khác được.


   - Trong lúc triều đình đang vững như bàn thạch mà giặc Trần Cảo còn dám công nhiên dựng cờ khôi phục nhà Trần, dân chúng theo đông nườm nượp. Giả dụ có kẻ mượn cớ trả thù cho vua Hồng Thuận, kêu gọi hào kiệt bốn phương diệt họ Thuỷ Chú thì ông tính sao? Năm nghìn quân Tống Sơn của tôi đang đóng ở đây liệu có cứu được họ Thuỷ Chú lúc ấy không?


    Duy Đại nín lặng. Văn Lự đưa mắt cho Hoằng Dụ và cùng đứng dậy ra về.


    Biết Văn Lự đưa ra chuyện 5000 quân Tống Sơn là có ý đe doạ, trong khi đó phía họ Trịnh bao nhiêu quân tinh nhuệ Duy Sản đều mang đi đánh Trần Cảo hết, nên đang đêm Duy Đại lén đem Quang Trị cùng hai em vua chạy về Tây Kinh trong Thanh Hoa. Văn Lự biết thì đã muộn nhưng vẫn sai Nguyễn Kim mang quân đuổi theo.


   Nghe tin, Duy Sản lập tức từ Kinh Bắc kéo quân về Đông Kinh. Sản mời Lê Quảng Độ, Lê Nghĩa Chiêu, Trình Chí Sâm, Phùng Dĩnh và một số đại thần đến bàn việc. Sản nói:


   - Văn Lự, Hoằng Dụ càn rỡ muốn lập vua mới ư? Chúng tưởng ta không thể làm được cái việc chúng định làm chăng? Ta e rằng Nguyễn Kim sẽ đuổi kịp anh trai ta và Quang Trị, lúc đó tình thế chẳng biết thế nào. Anh trai ta vốn nhu nhược, không quyết đoán. Vậy nay ta phế bỏ vắng mặt Quang Trị, lập con của Cẩm Giang vương là Lê Y lên ngôi cho họ Nguyễn hoàn toàn hết hy vọng.


    Các quan không ai dám có ý kiến khác. Tất cả cùng đi đón Lê Y lên ngôi. Đó là vua Chiêu Tông, lên ngôi ngày 10 tháng Tư năm Bính tí (1516), niên hiệu là Quang Thiệu.


   Ngay đó Duy Sản cho người cưỡi ngựa lưu tinh suốt ngày đêm vào Thanh Hoa, vượt qua cả quân Tống Sơn, gặp được Duy Đại gần Hoa Lư. Thấy Duy Sản đã lập Lê Y lên ngôi, Duy Đại bèn dừng lại, không vào Thanh Hoa nữa và chém ngay đầu ba anh em Quang Trị rồi chờ Nguyễn Kim đến. Duy Đại giơ ba cái đầu cho Nguyễn Kim xem và bảo:


   - An Thanh hầu thật quá vất vả. Để tướng quân khỏi nhọc công thêm, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn, sớm lấy đầu Quang Trị và hai em hắn đây, xin tướng quân đem về cho Phú Bình hầu, An Hoà hầu để hai vị ấy yên tâm. Hòm đựng ba cái đầu chúng tôi cũng đã lo liệu chu đáo, còn như tướng quân cần cả ba cái thây ma nữa thì quan tài chúng tôi cũng sẽ có.


 Nguyễn Kim cố nén giận, bảo:


   - Thật thương cho Quang Trị làm vua được có ba ngày thì một ngày phải trên đường chạy vào Tây Kinh, có khi còn chưa đủ sức mà nhớ ngai vàng cao thấp rộng hẹp thế nào! Chẳng trách ai được, đó chẳng qua là cái số ông ta. Tôi cũng chả cần ba cái đầu làm gì. Nhưng tôi và tướng quân chẳng mấy khi gặp nhau ở đây, lại không mời nhau được chén rượu sao?


   Duy Đại cười ha hả và sai quân sắp rượu. Sau một chén, không biết nói chuyện gì, Duy Đại bèn hỏi tuổi tác. Nguyễn Kim bảo năm nay 50.


   - Đã thế rồi sao? Thế còn An Hoà hầu, thân phụ tướng quân?


- Cha tôi năm nay vừa đúng 70.


   - Người tuổi 70 xưa nay hiếm, vậy mà An Hoà hầu vẫn vào Nam ra Bắc hành quân không biết mệt, thật bái phục! Còn Phú Bình hầu?


- Ông tôi là đằng thứ nên có ít tuổi hơn cha tôi một chút.


   - Như vậy họ Tống Sơn đều trường thọ. Tôi nhớ Nghĩa Quốc công gần 90 tuổi mới qua đời. Thọ nhưng vất vả. Đáng lẽ tuổi như Phú Bình hầu, An Hoà hầu bây giờ đã là tuổi nghỉ ngơi. Mà nghỉ ngơi thì cũng chẳng ai nói gì, sao hai vị ấy lại chuốc lấy vất vả thế?


   - Xã tắc lâm nguy sĩ phu hữu trách, ông tôi và cha tôi thờ ơ sao được.


   - Họ Tống Sơn không lo thì có người khác lo. Ngày trước họ Hồ, họ Trần không cứu nổi nước thì đã có họ Lê, thiên hạ thiếu gì người!


       Mấy người bước vào, đó là Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy, Lễ bộ Thượng thư chưởng bộ sự, Phò mã đô uý, Hưng quận công Nguyễn Trinh cùng con là Nguyễn Tùng. Tất cả cùng vào uống rượu. Trịnh Tuy nói:


   - Nghe nói có An Thanh hầu, chúng tôi vội đến chào. - Quay sang phía Duy Đại, Trịnh Tuy bảo: - Cháu vừa bước vào, loáng thoáng nghe chú nói thiên hạ không có người này lo thì người khác lo. Đúng thế chứ còn gì! Đến như Lê Quang Trị hay Lê Y đều vắt mũi chưa sạch còn được đặt lên ngai vàng để lo việc nước nữa là! - Lại quay sang phía Nguyễn Tùng - Này cậu Tử tước, có khi đặt cậu lên ngôi báu cậu cũng lo được việc chứ chẳng chơi!


   - Sao lại không! - Nguyễn Tùng đáp - ít ra tôi cũng hơn đám bù nhìn coi dưa khoác hoàng bào!


 Nguyễn Trinh tái mặt bảo Trịnh Tuy:


   - Xin tướng quân chớ nói đùa, mất đầu có ngày! Tôi lại là Phò mã của vua Hiến Tông! - Rồi quay sang phía Nguyễn Tùng - Con ăn nói phải biết giữ mồm giữ miệng.


Nguyễn Tùng cau mày:


   - Con chả có gì phải sợ! Có người của cả hai họ Tống Sơn, họ Thuỷ Chú đây con không việc gì phải úp mở. Ngày trước ai giết Đoan Khánh, đưa Hồng Thuận lên ngôi, rồi hôm nọ ai lại giết Hồng Thuận, đưa Quang Trị lên và vừa xong đây ai giết Quang Trị, đưa Quang Thiệu lên? Giết vua này lập vua khác dễ còn hơn người ta giết gà mổ chó. Đó là chưa kể đến như tên Thái giám Nguyễn Khắc Hài còn dám nguỵ tạo, những tên giặc cỏ như Trần Tuân, Trần Cảo còn dám xưng vua. Nói thẳng, họ Trịnh Thuỷ Chú chưa muốn hoặc muốn nhưng chưa làm, chứ nếu muốn nếu làm cũng có thể được. Cả họ Nguyễn Tống Sơn nữa cũng thế! Ta đi guốc trong bụng các người! Nhưng vì sao các người chưa dám? Các người không sợ triều đình, không sợ vua Lê nhưng các người sợ nhau, biết không? Vậy chả nhẽ cha con ta không thể thế được sao?


   Duy Đại quay sang bảo Nguyễn Trinh:


- Lệnh lang của Phò mã nói thật quá!


   Trịnh Tuy bỗng cười khùng khục. Nguyễn Trinh nổi giận quát con nhưng vẻ mặt không có vẻ gì là cáu giận:


- Đồ rượu vào nói năng càn rỡ, ra ngoài kia! - và quay về phía mọi người - Đấy là rượu nói chứ không phải nó nói, xin các ông đừng chấp.


   - Chấp làm gì! – Tất cả đều nói.


   Nguyễn Tùng quay ra, đến nửa chừng còn quay lại:


   - Rồi tất cả sẽ thấy, không sai đâu! Nhà Lê đã mạt vận rồi! Vua không ra tuồng vua, chẳng những là gánh nặng của triều đình khiến chính sự rồi bời mà còn là tai hoạ cho muôn dân, vậy thì để nó tồn tại làm gì!


(còn tiếp)


Nguồn: Mạc Đăng Dung. Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê. NXB Hải Phòng, 2007.


Bản điện tử của tác giả gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »