Vua Chiêu Tông nghĩ Lê Quảng Độ vốn trong hoàng tộc, chiếu theo gia hệ thì còn là chú Chiêu Tông, lại thờ bốn đời vua không mắc lỗi gì, quan tước đến cực phẩm, lại có công đưa mình lên ngôi, chỉ bởi thân cô thế cô mà buộc lòng hàng giặc rồi đâm lao đành theo lao nên Chiêu Tông có ý tha, đày lên mạn ngược làm lao dịch. Các đại thần mỗi người một ý, Trịnh Duy Đại, Trịnh Duy Sản muốn giết, Nguyễn Văn Lự, Nguyễn Hoằng Dụ muốn tha. Đang phân vân thì nhận được biểu từ Sơn Tây của Thiết Sơn bá Trần Chân và từ Sơn Nam của Vũ Xuyên bá Mạc Đăng Dung. Biểu của Trần Chân viết:
“Thần tuy có họ hàng với Trần Cảo, y cũng có cho người dụ thần theo nhưng thần quyết không theo. Trước kia cũng quyết không theo Trần Tuân. Vì vậy thần run sợ ngõ hầu bệ hạ tra xét cho thần được yên dạ.
Thần vốn ở chốn quê mùa, cha mẹ mất sớm, nhận Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản làm nghĩa phụ, thường được dạy về đạo vua tôi, quyết theo điều phải, bày tỏ bệ hạ được biết.
Nay Lê Quảng Độ, tội ác đã lâu, đâu phải một sớm một chiều, mầm mống đã từ thời Đoan Khánh, Hồng Thuận. Lại là người trong hoàng tộc, làm quan đến cực phẩm mà giặc đến không đánh, cũng không biết tự sát mà giữ khí tiết, lại còn vẽ rắn thêm chân, nối giáo cho giặc. Kẻ không nghĩ đến hậu ân của quân phụ, đại nghĩa về cương thường, thật mang tội với trời đất, mang tội với tổ tông và thiên hạ, tội y không thể tha thứ được.”.
Biểu của Đăng Dung viết:
“Tam cương ngũ thường là rường cột chống đỡ trời đất, là cột đá yên vững nhân dân. Nếu nước mà không có điều đó, thì tuy là nước văn minh nhưng chính là loài cầm thú. Từ xưa đến nay chưa từng có ai bỏ các điều đó mà có thể đứng trong khoảng trời đất.
Nay Lê Quảng Độ nhờ phúc ấm tổ phụ, đội ơn triều đình thờ qua bốn triều, ngôi tới nhất phẩm mà vẫn đận đờ, chỉ toan nhòm ngó. Chiều vua thì đón đưa, chuyên chính thì múa may nhiều quẻ, tội ác chứa chất đã lâu.
Mấy năm nay giặc Cảo khởi binh, tiếm xưng vị hiệu. Thế mà Quảng Độ tham sống sợ chết, nhẫn nhục thờ kẻ thù, mượn danh vị đi lừa dỗ dân ngu cho giặc Cảo, làm đầu mục đi nước ngoài cầu phong cho giặc Cảo, hạnh kiểm như chó lợn, lòng dạ tựa muông thú. Thật mang tội với trời đất, tổ tông và thiên hạ, tội y không thể tha được.”.
Chiêu Tông còn ít tuổi không dám quyết, mới hỏi mẹ là Đoan Từ Hoàng Thái hậu. Thái hậu tuy không phải người Thuỷ Chú nhưng cũng họ Trịnh nên hỏi vua: ý Trịnh Duy Đại, Duy Sản, Trịnh Tuy định thế nào. Nhà vua thưa, ý họ là muốn giết. Thái hậu bảo: “Vậy thì cứ thế mà làm, không cần theo ý ai, còn phân vân gì nữa!”. Lê Quảng Độ bị giết. Văn Lự, Hoằng Dụ thấy nhà vua không nghe theo mình, có ý không vui.
Mạc Đăng Dung cũng dâng sớ xin trị tội Lê Toản, Cù Khắc Xương, Trần Công Vụ, Đỗ Thao, Tử Ký, Văn Vận. Sớ thuật lại những việc đám này làm ở Sơn Nam, Đông Triều như mê tín, dựng đặt tà thuyết, lừa lọc, dối trá, gian dâm làm lòng dân oán thán, chính là cái mầm gây ra phản loạn... Sớ viết:
“Nay quân nhân là Cù Khắc Xương ở làng Nhân Vũ huyện Thiên Thi và quân nhân là Trần Công Vụ ở làng Phạm Tùng huyện Gia Phúc, vốn là lính thường, cũng như dân vậy. Đáng lẽ phải noi theo đạo vua, đường vua và tuân theo lời dạy, lại giả xưng là Thiên Vũ, Thiên Bồng để dụ dỗ ngu dân. Mượn chùa thờ Phật làm chợ dối trá, mượn đền thờ thần làm ổ chứa gian. Thuật nghiền than làm thuốc, khiến già trẻ đua nhau, phép phun nước phi bùa, làm ngả nghiêng làng xóm.
Bọn yêu quái đã như vậy, các quan trên đáng phải bài trừ. Thế mà các quan này lại như bọn phàm phu, không hiểu lẽ phải. Lê Toản, Văn Vận mê tín điều xằng bậy, Tử Ký, Đỗ Thao phụ hoạ vào thuyết tà, cùng nhau theo tà đạo, mê đắm thói đòng cốt, lấy quái đản lừa nhau, lấy quỷ thần doạ nhau; răn gì bằng hình phạt, chữa gì bằng pháp luật, sao không cấm đoán nghiêm ngặt?”.
Vua Chiêu Tông lại phải đem hỏi các đại thần. Lần này Nguyễn Văn Lự, Nguyễn Hoằng Dụ bảo phải giết cho luật pháp được nghiêm, Trịnh Duy Đại, Trịnh Duy Sản, Trịnh Tuy lại bảo tha vì tội chưa đến mức phải giết. Nhà vua đem hai ý kiến hỏi mẹ. Thái hậu nổi giận: “ Lần nào Văn Lự, Hoằng Dụ cũng làm khác ý Duy Đại, Duy Sản là thế nào? Vậy thì hãy tha bọn ấy cho Lự với Dụ biết lần sau đừng có ý khác!”. Duy Sản thấy Thái hậu nói vậy, sợ bọn chúng được tha thật nên đang đêm vào tâu Thái hậu: “Bọn ấy thật đáng tội chết, bề ngoài chúng thần bảo tha là cốt tỏ ra xem thường ý đám Văn Lự, Hoằng Dụ, thực ra thì phải cho chúng chết!”. Thái hậu nói: “Rắc rối quá! Các người thấy thế nào đúng thì làm, việc nhỏ như vậy từ nay đừng phiền đến gái già này nữa!”. Bọn Lê Toản, Khắc Xương, Công Vụ, Tử Ký, Văn Vận, Đỗ Thao được một bữa cơm rượu say rồi được phóng thích. Chục ngày sau không đứa nào là không đau bụng nôn ra máu, kẻ chết trước kẻ chết sau chỉ cách nhau vài ba ngày. Riêng Đỗ Thao đoán trước sự việc nên không ăn uống gì bữa ấy do vậy thoát chết nhưng phải trốn biệt tăm biệt tích.
Đoan Từ Hoàng Thái hậu khen: Trần Chân, Đăng Dung tuy chỉ là võ tướng mà nói gì cũng phải, Đăng Dung còn thông hiểu sách thánh hiền, thật là kẻ trung trực, sâu sắc.
Các quan đại thần như Hà Văn Chính, Lê Đại Đổ, Đỗ Nhạc, Nguyễn Dự dâng biểu xin phục hồi đế hiệu cho Mẫn Lệ công Lê Tuấn. Nhà vua bỗng bưng mặt khóc:
- Hồi Oánh làm phản, Mẫn Lệ công không tra xét gì cả đã giết cha ta và các chú của ta. Nay ta lại phục hồi đế hiệu cho ông ấy liệu có phải không?
Duy Đại, Duy Sản và các quan đều nói việc ấy suy cho cùng đều do Lê Oánh giả xưng là Cẩm Giang vương gây ra cả. Nhà vua thở dài, thuận việc phục hồi và truy tôn vua Đoan Khánh làm Uy Mục đế, cấm từ nay không ai được gọi là Mẫn Lệ công.
*
Thấy lâu nay đám họ Trịnh cố tình đối mặt, Nguyễn Văn Lự buồn bực nói với cha con Hoằng Dụ, Nguyễn Kim:
- Họ Nguyễn Tống Sơn ta với họ Trịnh Thủy Chú vốn chẳng có gì mâu thuẫn, lại cùng nhau hai lần dựng vua mới. Từ hồi Hồng Thuận lên ngôi, vì mẹ Hồng Thuận là người họ Trịnh nên đám Thuỷ Chú bắt đầu đắc ý. Tuy nhiên lúc đó công đầu phò giúp Hồng Thuận là Nghĩa Quốc công người họ ta nên chúng còn chưa dám ra mặt. Đến bây giờ Quang Thiệu lên ngôi, mẹ Quang Thiệu lại cũng người họ Trịnh nên đám ấy ra mặt công thần, chèn ép chúng ta! Đã bực, lại buồn vì không có cách nào tỏ được tấm lòng trung với triều đình mà Hoàng thượng thì nhỏ tuổi, chỉ biết nghe theo bọn họ và Thái hậu!
Lúc này Nguyễn Kim mới kể chuyện hồi được sai đuổi theo Duy Đại để đưa Quang Trị trở kinh. Bọn Duy Đại, Trịnh Tuy và cha con Nguyễn Trinh, Nguyễn Tùng ăn nói tỏ ra coi thường triều đình và có ý làm phản.
- Sao bây giờ cháu mới nói? - Văn Lự bảo.
- Thưa ông, - Nguyễn Kim nói – cháu nghĩ người ta luôn luôn có ba cách để ứng xử với thời thế, phép dụng binh cũng vậy. Cách thứ nhất ứng với Tam thập lục kế, là kế “rút củi đáy nồi”, nhưng cách này xưa nay không phải là cách của nhà ta vì nó bị xem là thói xu thời, nhún mình cầu an của kẻ tiểu nhân. Cách thứ hai là kế “biết rõ làm ngơ” chịu khổ nhục một thời gian rồi sau sẽ liệu, cách này cháu e ông với cha cháu cũng không theo được.
Hoằng Dụ nổi giận mắng con:
- Có lẽ mày định khuyên chúng ta theo cách thứ ba, “tẩu vi thượng sách”, “ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn”, bỏ lại tất cả, về Tống Sơn khoanh tay ngồi yên để mặc đám họ Trịnh làm gì thì làm chăng?
Nguyễn Kim thưa:
- Cách thứ ba con định nói là kế “đi trước một bước”, nếu thấy đối phương có ý diệt mình thì mình hãy ra tay trước.
Nguyễn Văn Lự bảo:
- Gia đình ta ăn lộc nhà Lê đến năm, sáu đời vua, triều đình lại đang lúc rối ren chả nhẽ lại làm rối ren thêm hay sao?
Nguyễn Kim nghĩ rồi nói:
- Vậy thì chọn cách “một mũi tên trúng hai đích” vậy.
- Cách ấy là thế nào?
- Nay dư đảng Trần Cảo vẫn còn nhiều lắm nhưng đã bị xé lẻ chứ không còn được như trước. Hiện chúng tập trung thành hai đám, đám lớn ở Đông Triều do chính Cảo cầm đầu, đám nhỏ tụ lại ở cánh đồng Tam thiên mẫu trấn Hải Dương do anh em Đình Ngạn cầm đầu. Nay ta tâu vua treo thưởng cho ai bắt được Cảo. Duy Sản hám danh và cậy khoẻ vậy ta nhường cho hắn đi đánh đám lớn mà bắt Cảo để lập công to. Chúng ta chỉ nên triệt hạ đám nhỏ. Sản có thể diệt được Cảo nhưng chắc chắn sẽ hao binh tổn tướng, lực lượng sẽ yếu đi; đã vậy Sản lại thích mặc áo đỏ cưỡi ngựa trắng ra trận, ta tung chuyện đó cho bọn Cảo biết, có khi Sản vì vậy mà bỏ mạng cũng nên. Như đời Tam quốc, Bàng Thống từng chết oan ở gò Lạc Phượng vì đi cưỡi con ngựa trắng của Lưu Bị. Sản mà chết thì anh hắn là Duy Đại ta đối xử dễ thôi.
Văn Lự và Hoằng Dụ nghe theo. Hôm sau lâm triều, Văn Lự tâu: Hiện tàn dư Trần Cảo vẫn chưa diệt được tận gốc, vẫn còn rải rác khắp vùng Hải Đông và tụ tập thành hai đám, vậy nên chia quân đi đánh dẹp và treo thưởng cho ai bắt được cha con Trần Cảo.
Hoằng Dụ nói mình binh lực kém cỏi nên xin được đi đánh dư đảng giặc ở Hải Dương. Duy Sản đắc ý bảo Hoằng Dụ: “Phen này ta lấy được đầu Trần Cảo và được Hoàng thượng ban thưởng thì các ngươi đừng có so bì gì nhé” và tình nguyện đánh Đông Triều. Chiêu Tông cho Minh Vũ hầu Trịnh Hồng, Quảng Phúc bá Nguyễn Khắc Nhượng, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy theo giúp Duy Sản. Hoằng Dụ xin được anh em Mạc Đăng Dung giúp sức.
Hoằng Dụ hẹn với Mạc Đăng Dung, người từ mạn Bắc đánh xuống, người từ mạn Đông Nam đánh lên. Sau mười ngày cùng vây được họ Đình ở một đồng lầy toàn lau sậy rậm rạp. Đây chính là đầm Dạ Trạch hay còn gọi là bãi Màn Trò ngày xưa Triệu Việt vương dựng nghiệp nhưng trải qua gần một nghìn năm nay đã hẹp rất nhiều. Lúc bấy giờ đang mùa đông hanh heo, lau sậy nhiều chỗ khô héo nên Hoằng Dụ định phóng hoả cho quân giặc chết cháy. Đăng Dung can không nên làm như vậy, xưa Khổng Minh vì thiêu chết quân Man trong cuộc Nam chinh bắt Mạnh Hoạch mà nghĩ rằng sau này thể nào mình cũng tổn thọ, về sau đúng như vậy.
Thuộc tướng của Đăng Dung là Vũ Hộ bàn nên phao tin quân triều đình đã giết được Trần Cảo để giặc hoang mang rồi cho quân tinh nhuệ luồn sâu vào sào huyệt giặc, để trong đánh ra ngoài đánh vào, tất thắng. Hoằng Dụ nghe theo, cho Nguyễn Kim đi cùng Đăng Dung. Họ chọn trong đám lính hai trăm người khoẻ mạnh, bơi lội giỏi, tất cả đều mang đao ngắn, mộc và thật nhiều cung tên theo thuyền nhỏ lặng lẽ tiến vào bãi. Bãi chỗ nước nông nước sâu, chỗ nổi lên những gò đất, chỗ lau sậy san sát chỗ lại trơ ra một vùng nước trắng xoá. Đăng Dung và Nguyễn Kim chọn một bãi đất khá lớn và dừng thuyền, gióng trống dụ địch. Một lúc sau giặc từ bốn xung quanh đẩy thuyền ra. Đình Ngạn nói:
- Thật tự dưng chúng bay dẫn xác tới đây nhá, đừng có trách chúng ta đối đãi không tử tế!
Đăng Dung làm giả cái đầu người bằng đất sét, tô phẩm chỗ trắng chỗ đen chỗ đỏ, bây giờ mới giơ cao lên:
- Bọn ta đã lấy được đầu Trần Cảo, các ngươi muốn theo y thì đến đây.
Đình Ngạn, Đình Nghệ nhìn cái đầu, nửa tin nửa ngờ. Mặc dù vậy chúng vẫn thúc quân tiến lên, vừa đẩy thuyền tới bãi vừa nhất loạt bắn tên. Quân triều đình đưa mộc đỡ được hết. Tên cắm vào mộc vào thuyền tua tủa như lông nhím! Chờ giặc đến vừa tầm tên Đăng Dung hạ lệnh bắn trả, giặc ít kẻ có mộc nên ngã xuống nước ào ào. Đình Ngạn, Đình Nghệ khua giáo đỡ tên nên không bị sao. Giặc xáp thuyền lại gần, đổ quân lên bãi. Cuộc chiến giáp là cà thật dữ dội. Anh em Mạc Đăng Dung và Nguyễn Kim đều rất dũng mãnh, một người đánh nổi mười người nên giặc dần núng thế, Đình Ngạn bị đăng Dung chém đầu rơi xuống nước, Đình Nghệ bị Nguyễn Kim đâm lòi ruột, Đình Bảo bỏ chạy bị Mạc Quyết đuổi theo đâm trúng vai, may được Đoàn Bố cứu thoát. Vũ Hộ bắn theo, tên trúng lưng Đoàn Bố. Đăng Dung cho nổ ba tiếng pháo, Hoằng Dụ thúc đại quân nhất loạt tiến vào bãi, cờ trống rung chuyển cả một vùng. Giặc nhiều tên bỏ thuyền nhảy xuống nước trốn, quân triều đình ngậm đao ở mồm bơi đuổi theo, vật lộn đánh nhau với chúng dưới nước, mặt nước ngầu máu đỏ.
Trong khi ấy Trịnh Duy Sản đánh Trần Cảo ở Đông Triều mãi không được vì vùng ấy núi non trùng điệp, Cảo lại chọn làm sào huyệt nên đã cho xây dựng một số thành quách và tích luỹ lương thảo rất nhiều. Cứ thấy bất lợi chúng lại chạy lên rừng, ngày trốn đêm ra đánh khiến quân của Sản nhiều phen thất điên bát đảo. Mặc dù vậy, cuối cùng quan quân cũng dồn và vây được Trần Cảo ở chùa Sùng Nghiêm trên sườn núi Trâu Sơn thuộc Chí Linh. Thấy quân sĩ mệt mỏi, Sản làm một bài văn để động viên họ. Bài văn dài gần trăm câu ấy hùng hồn, thống thiết, tướng sĩ nghe ai cũng sôi sục:
Nay khuyên các tướng sĩ:
Tiết tháo phải như tùng như trúc
Can trường phải là thép là gang
Công phu ta đắp đường đắp non cao, non đã cao, chỉ cần sọt đất
Sự nghiệp ta khác chi đào giếng, giếng đã sâu, gần chạm mạch ngầm
Chớ sợ nhát mà bỏ dở chừng
Nên cố gắng để giành hậu quả...
Chùa Sùng Nghiêm ở núi Miết ngày trước vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã từng trụ trì. Phong cảnh đẹp nhưng đường lên hiểm trở, xung quanh hoang vắng. Vào đời vua Lê Thánh Tông, Tao Đàn phó nguyên suý là Thái Thuận đã lên đây và có thơ, đại ý: Ngoài bìa rừng chỉ nghe thấy tiếng quạ kêu, núi non trập trùng, nhà chùa vắng vẻ không tiếng đàn tiếng sáo, muôn vật như ngủ hết!
Có thơ văn động viên nhưng quân sĩ đánh mãi vẫn không thắng được giặc, dần dần trở nên lơi lỏng, nhiều người xuống núi, vào các làng xóm xung quanh cướp bóc, bắt đàn bà con gái đem lên rừng hãm hiếp, Duy Sản phải xử chém mấy người, lúc bấy giờ mới giữ được kỷ cương. Một hôm khắp rừng bỗng quân của Cảo hò reo, thúc trống vang lừng, chỗ nào cũng thấy cờ có chữ “Trần”. Duy Sản không biết giặc nhiều hay ít liền sai lính đi thăm dò. Chúng đi, một lúc sau mấy tên hốt hoảng về báo gặp phải phục binh của giặc nên bị chết gần hết, may chúng chạy thoát được. Duy Sản nổi giận, tự mình đi đầu thúc quân giáp chiến. Rừng rậm khó nhận ai là ai nên quân sĩ cứ thấy bóng chiếc áo đỏ của Sản mà đi theo. Quân của Cảo bỏ chạy. Thấy phía trước lúc ẩn lúc hiện lá cờ mang chữ “Trần” và mấy bóng người mặc áo đen, đoán là Trần Cảo và mấy tên lính cận vệ cuả hắn, Duy Sản thúc quân đuổi gấp. Được một lúc thì không thấy cả người lẫn cờ đâu. Sản đang ngơ ngác thì một tiếng pháo nổ vang, từ sau những bụi cây địch đổ ra đông như kiến, tên nào cũng đầu trọc, áo đen, vây chặt Sản và mấy chục quân triều đình vào giữa. Trần Cảo cười:
- Thằng Sản kia! Nội gián của ta bảo hễ thấy ai mặc áo đỏ thì đấy chính là Duy Sản. Thật không sai!
Dứt lời Cảo giương cung bắn, Duy Sản né người tránh được. Ngay đó khắp bốn xung quanh tên bắn tới như châu chấu, Sản không thể nào tránh xuể, bị liền mấy mũi, ngã ngựa, quân của Cảo ào đến bắt. Tì tướng Nguyễn Thượng vội tới cứu Sản, bị sa xuống hố, cũng bị bắt nốt. Trịnh Hồng, Trịnh Tuy, Nguyễn Khắc Nhượng thấy chủ tướng bị bắt, mỗi người một ngả chạy hết xuống núi. Trần Cảo hạ lệnh giải Duy Sản lên chùa. Cảo ngồi khoanh chân trên chiếc sập kê trước đỉnh hương lớn giữa sân, đứng sau là Đình Tá, Công Uẩn. Lính của Cảo ấn đầu Sản xuống:
- Trước Thiên ứng đại vương Đế Thích giáng sinh sao không quỳ?
- Ta không biết quỳ!- Sản đáp.
Cảo bảo:
- Nguyên Quận công là dũng tướng ở đời, không phải quỳ! - Và nói với Sản - Nay ta định thu nạp ngươi làm tướng của ta, như đã thu nạp Lê Quảng Độ trước đây, ngươi thấy thế nào?
- Ta tưởng sẽ lấy được đầu ngươi mang về lĩnh thưởng, nào ngờ mắc phải quỷ kế. Ta thà chết chứ không thể như thằng chó Quảng Độ.
- Khá lắm! Vậy thì ta cho ngươI được toại nguyện. Trước khi chết ngươi còn muốn hỏi muốn nói gì không?
Duy Sản nghĩ rồi bảo:
- Ta muốn hỏi hai câu nhưng ngươi phải nói thật, vì dẫu ngươi có nói thật hay dối trá thì ta nghe xong cũng không thể làm gì được. Câu thứ nhất: Hoằng Dụ đánh ở Dạ Trạch thắng hay thua? Câu thứ hai: Nội gián của ngươi là ai mà mách cho ngươi biết ta mặc áo đỏ?
Trần Cảo nghĩ phải làm cho Sản trước khi chết còn cay đắng, đau đớn nên nói bịa rằng:
- Vừa hay! Nếu đao phủ của ta ra tay sớm thì ngươi dù dưới ba thước đất cũng áy náy không yên. Nghe đây: Hoằng Dụ đã bị Đình Ngạn, Đình Bá chém đầu, thây cho cá rỉa; còn nội gián của ta chính là Trần Chân, con nuôi ngươi!
Duy Sản chưa kịp hả dạ thì đã tê tái lòng dạ, y rú lên, không kịp tin hay không tin lời Cảo đã thổ ra huyết và gục xuống. Đao phủ kéo lê Sản và đưa tì tướng của y là Nguyễn Thượng đem đi chém ở đồi thông núi Vạn Kiếp.
Quân Trần Cảo lại một lần nữa tràn xuống tận Gia Lâm và mấy lần đánh thẳng vào bến Bồ Đề. Sau Trần Chân sang sông đánh rát một trận, Cảo mới chịu lui, rút sang bên kia sông Như Nguyệt, từ đó hai bên cầm cự nhau bất phân thắng bại hàng tháng trời.
Trịnh Duy Sản không còn nữa, theo kế của Nguyễn Kim, Nguyễn Văn Lự bèn sang phủ Trịnh Duy Đại chia buồn và nói:
- Nguyên Quận công là dũng tướng hiếm có trên đời. Nhưng lâu nay hai họ chúng ta bất hoà một phần cũng bởi Nguyên Quận công quá cứng rắn, câu nệ. Hiện triều đình như chiếc cổng tam quan sau bão đang cần chống đỡ, hai họ chúng ta chính là hai chiếc cột cái vậy. Một chiếc đổ, chiếc kia phỏng có giữ nổi cổng không? Vậy thiết nghĩ chúng ta nên cùng nhau đến trước vua tâu thề thật sự hoà giải mâu thuẫn cho thiên hạ khỏi những điều dị nghị và triều đình nhờ thế được yên.
Trịnh Duy Đại thấy phải liền cùng Nguyễn Văn Lự vào triều. Đến nơi thì thấy cha con Phò mã Nguyễn Trinh, Nguyễn Tùng cũng ở đấy, mặt mũi ai cũng xám ngoét; lại có cả Hoằng Dụ và Nguyễn Kim. Sực nhớ tới hôm cùng uống rượu với Nguyễn Kim ở gần Tam Điệp, Duy Đại mới biết mình bị Văn Lự lừa đến đây nên định chạy thì bị võ sĩ giữ lại. Văn Lự rút từ tay áo ra tờ mật chiếu nói rằng Duy Đại đã đưa Quang Trị lên ngôi, lại vô cớ giết đi; sau đó bàn với Trịnh Tuy, Nguyễn Trinh muốn đem Nguyễn Tùng lập làm nguỵ chủ, định làm việc đại nghịch, chuyện có An Thanh hầu Nguyễn Kim chứng kiến. Mật chiếu cũng kể tội cha con Nguyễn Trinh mưu toan bạo phản.
Duy Đại bị tống ngục cùng với cha con Nguyễn Trinh, chờ bắt được Trịnh Tuy thì chém đầu cả thể. Sau do không bắt được Tuy nên Duy Đại và đồng bọn bị đem đi chém.
Trịnh Tuy lúc đó đang ở Kinh Bắc, nghe tin Duy Đại bị bắt liền đem toàn bộ binh mã kép về kinh đô, ngay đêm ấy, tiến đánh Nguyễn phủ. Họ Nguyễn không rõ quân Trịnh nhiều ít thế nào nên cố thủ chờ đến sáng. Sáng ra Văn Lự nổ ba tiếng pháo, tung hết lực lượng trong phủ đánh ra; Nguyễn Kim đóng quân cách đấy hai dặm, nghe thấy tiếng pháo kéo quân đánh tới. Trịnh Tuy rút về Trịnh phủ, hôm sau làm ma cho Duy Đại.
Hai bên ngưng chiến được mấy ngày.
Một hôm trời đã sáng mà không thấy Nguyễn Văn Lự dậy. Người nhà tới tận giường xem thì thấy Lự đã chết tím tái, cái chết như bị đầu độc. Hoằng Dụ phải lo ma chay cho chú nên dân chúng kinh đô được yên thêm mấy ngày nữa.
Một hôm Hoằng Dụ và Trịnh Tuy cãi nhau ngay lúc thiết triều, không ai kể cả nhà vua và Thái hậu can nổi. Cả hai không chờ lệnh bãi triều cùng bỏ ra về. Người của hai nhà chờ đón chủ ở cửa Đại Hưng đã lườm nguýt nhau sẵn, thấy hai ông chủ vừa đi vừa xỉa xói nhau, liền xông vào nhau. Bên Hoằng Dụ thì Cù Tuấn, Cù Tú; bên Trịnh Tuy thì Đàm Cử, Nguyễn Thọ, hai bên gươm giáo đâm chém quyết liệt. Đến trưa, Hoằng Dụ huy động mấy nghìn quân bản bộ tấn công, phóng hoả đốt Trịnh phủ. Bị bất ngờ, đám họ Trịnh tan tác mỗi người một nơi. Trịnh Tuy chạy thoát về Lôi Dương, Thanh Hoa.
Vũ Quỳnh đã dừng cuốn sử của mình ở triều vua Uy Mục nên đặt tên cho sách là Tứ triều bản kỷ nhưng vẫn ghi chép những chuyện tiếp diễn, đêm ấy thức trắng đứng nhìn mãi lửa thiêu Trịnh phủ rồi gần sáng ngồi viết: “Giặc bên ngoài chưa yên, các quyền thần đánh lẫn nhau, giết nhau dưới cửa khuyết, máu dây đầy chốn kinh sư, mặt trời vàng tối, vận nước ngày một suy!”.
Đuổi đám họ Trịnh rồi, Nguyễn Hoằng Dụ vào cung vua tâu bày sự việc, xin nhà vua ra chỉ xuất quân diệt hết nhà họ Trịnh. Vua bảo:
- Để trẫm hỏi Thái hậu đã.
Hoằng Dụ về bảo Nguyễn Kim:
- Nay Trịnh Tuy đã tháo chạy được về Thuỷ Chú. Con nên về ngay Gia Miêu lo giữ lấy quê cha đất tổ phòng bọn họ Trịnh làm càn. Mọi việc ở đây ta lo. Có chăng chỉ cần đề phòng Trần Chân là con nuôi Duy Sản thôi.
Nguyễn Kim nói:
- Trần Chân liều lĩnh, tính tình khi mưa khi nắng, làm gì ít khi tính toán trước sau, chỉ cậy khoẻ. Người như thế không khôn nhưng đối phương khó đoán được những việc sẽ làm. Dưới trướng y lại có mấy kẻ đáng lo.
- Những kẻ nào?
- Chân có các tướng tâm phúc là Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thìn. Đáng nói nhất là Kính và Áng. Chúng tuy trẻ nhưng đều đáng gọi là dũng tướng. Hồi đầu làm loạn, Cảo có cho người mời Trần Chân ứng nghĩa nhưng Chân không theo. Cảo bực lắm mang quân đi đánh Chân. Kính, áng bèn tụ tập con em theo Chân đánh lại Cảo, Cảo phải thua. Từ đó hai anh em nhà họ được Chân cho làm tì tướng.
- Bọn tì tướng thì đáng kể gì!
- Nhưng hai người ấy, nói chung là cả đám Sơn Tây lại không đáng ngại bằng một người khác.
- Lại ai nữa? - Hoằng Dụ hỏi.
- Thưa cha, đó là Mạc Đăng Dung. Hồi vây đánh dư đảng giặc Cảo ở Dạ Trạch, nhân rỗi rãi, con mới theo cách của Tào Tháo hỏi Lưu Bị trong bữa rượu, mà thăm dò Đăng Dung: “Theo ông, thiên hạ hiện nay ai thật xứng đáng được gọi là anh hùng?”. Dung bảo: “Độ ba bốn người. Trước hết, đó chính là Phú Bình hầu, ông chú của tướng quân và An Hoà hầu, thân phụ của tướng quân. Thứ đến Trịnh Duy Sản. Thứ ba, Trần Chân ở Sơn Tây. Cảo tuy là giặc nhưng cũng đáng gọi là anh hùng.”. Hồi ấy Phú Bình hầu và Duy Sản vẫn còn. Con bảo: “Phú Bình hầu và cha tôi tuổi đều đã cao. Duy Sản cũng không còn trẻ nữa vả lại tính tình ngông ngạo nên dễ bị kích động mà sa bẫy của kẻ khác. Cảo thì trước sau cũng bị diệt. Những người trẻ tuổi chả nhẽ chỉ có Trần Chân thôi sao?”. Đăng Dung hỏi vậy theo con là những ai? Con đáp: “Sau này, anh hùng trong thiên hạ chỉ có tôi và ông thôi!”.
Hoằng Dụ bật cười:
- Đăng Dung giật mình và đánh rơi đũa rồi giả tảng bảo tại tiếng sét to quá chăng?
- Thưa cha, con nhìn thẳng vào Đăng Dung. Y không lộ vẻ gì khác thường, chỉ cười, bảo: “Tướng quân làm tôi nhớ đến câu của Tào Tháo hỏi Lưu Bị trong bữa tửu luận anh hùng! Tôi là kẻ quê mùa, được đến thế này đã là vinh lắm rồi, nào dám cao vọng gì! Gia đình tướng quân là danh gia vọng tộc, mấy đời có người làm đại thần trong triều, sau này anh hùng trong thiên hạ chỉ có tướng quân thôi!”. Thưa cha, y thật là đi guốc trong bụng người ta! Nhưng con không tin Đăng Dung không có cao vọng, chẳng qua y chưa gặp thời mà thôi. Đăng Dung mặt vuông, con mắt tròn, người to lớn, tướng ấy là tướng không chịu dưới một ai!
Hoằng Dụ bảo:
- Con nói đúng, thời thế tạo anh hùng. Nhưng thời thế cũng triệt diệt anh hùng. Thời thế đã tạo nên Hạng Võ nhưng thời thế cũng buộc Hạng Võ phải chết. Mấy năm nay ai bằng Trịnh Duy Sản? Vậy mà lại chết bởi tên vô lại Trần Cảo! Khi cứng khi mềm, khi tiến khi thoái, chớ quá quan trọng việc lớn cũng đừng xem thường việc nhỏ, đó là phép làm người trong thời buổi loạn lạc. Lại nữa, việc gì cần làm trước thì làm trước, việc gì chưa cần thì để lại sau vì không thể ôm đồm mọi việc trong cùng một lúc. Bây giờ nên lo chuyện Trịnh Tuy và Trần Chân, chuyện Mạc Đăng Dung để sau.
Ngay đó có tin cấp báo: Trần Chân giả danh hộ giá đang kéo quân Sơn Tây về đòi trả thù cho Duy Đại và Trịnh Tuy. Hai tướng Cù Tuấn, Cù Tú đều bị giặc giết. Cù Tuấn bị Nguyễn Kính đâm lòi ruột, vừa chạy vừa ôm bụng nhưng vì mất máu nhiều quá nên tới làng Vòng thì chết. Cù Tú bị Nguyễn áng bắn trúng lưng, cố sống cố chết đeo tên chạy được sang bên này sông Tô Lịch nhưng rồi kiệt sức cũng đã chết. Tướng của triều đình là Nguyễn Dư Hoan ngăn giặc không nổi phải chạy về kinh thành, lo giữ cửa Đại Hưng.
Người đưa tin quân Sơn Tây sắp vượt sông Tô Lịch vừa quay ra, thì người khác đã vào cấp báo quân Sơn Tây không vượt sông Tô mà lại xuôi sông Hồng, chiến thuyền đã tới ngang bến đò Chèm. Nguyễn Kim thưa với Hoằng Dụ:
- Cứ như cha nói thì lúc này chính là lúc nên mềm, nên thoái. Vì thế ta nên rút về Tây Đô để bảo toàn lực lượng.
Hoằng Dụ gật đầu:
- Con nói rất hợp ý ta. Nhưng chúng ta sẽ không về Tây Đô một mình mà phải đem vua theo.
Đích thân Hoằng Dụ cùng mươi người lính đến điện Kim Quang để đón Chiêu Tông nhưng không tìm thấy nhà vua đâu nên theo cửa Đông để ra bến Thái Cực gấp. Thuyền vừa rời bến, nhìn lên thượng lưu, thấy thuyền quân Sơn Tây đã lấp ló, biết rằng chạy cũng không kịp, Hoằng Dụ bảo Nguyễn Kim cùng ba chục thuyền quay lại chặn địch.
Nguyễn Kim lệnh cho thuyền hạ hết buồm, chiếc nọ kề chiếc kia chắn ngang sông, quân sĩ cung nỏ sẵn sàng, rồi ra đứng ở mũi soái thuyền.
Trần Chân cũng cho thuyền dàn hàng ngang, xuôi dòng nên thuyền trôi băng băng. Hai bên sắp giáp nhau mà Nguyễn Kim vẫn tỏ ra không hề sợ hãi. Trần Chân đặt tên lên cung nhằm vào Nguyễn Kim, chưa kịp bắn thì quân Nguyễn Kim đã nhất loạt phóng tên quấn bùi nhùi lửa về phía thuyền Sơn Tây, chỉ trong chớp mắt lửa bùng lên khắp chỗ: trên những cánh buồm, trên mui, hai bên mạn. Quân Sơn Tây la hét, một số ùm ùm nhảy xuống sông. Nhân lúc đối phương hoảng loạn, Nguyễn Kim ra lệnh giương buồm, chiếc nào chiếc ấy no gió xuôi về phía cửa sông. Đuổi theo cha con Hoằng Dụ không kịp, Trần Chân quay lại tìm Chiêu Tông, ép vua hạ chiếu khắp nơI ruy bắt cha con Hoằng Dụ.
Ra đến biển, Nguyễn Kim rất mừng khi thấy phía trước là đoàn thuyền của cha mình. Hoằng Dụ còn mừng hơn nữa khi thấy con đã qua được cửa Ba Lạt. Biển trời mênh mông, thuỷ chiến trên biển là sở trường của quân Thanh Hoa. Đang lúc gió Bấc nên chẳng mấy lúc cha con Hoằng Dụ đã tới ngang cửa sông Đáy.
Quay lại, Nguyễn Kim ngạc nhiên khi thấy một đoàn thuyền lạ đang đuổi theo và cũng đã ra khỏi cửa sông. Cách chạy thuyền không phải là cách của quân Sơn Tây. Những lá buồm cánh dơi lựa hướng gió giỏi đến mức cả thuyền cả buồm chiếc nào chiếc ấy nghiêng hẳn đi cứ như sắp bị biển nuốt chửng, thực ra cách chạy vát như thế giảm được lực của gió thổi ngược khiến thuyền băng đi rất nhanh. Đã vậy đoàn thuyền tuy dăng ngang cả một khoảng biển rộng nhưng lại cái trước cái sau khiến đối phương khó dùng tên lửa mà bắn cháy. Viên đại tướng đứng trên chiếc thuyền tiên phong vững như đứng trên đất bằng, thanh đao cầm trên tay, cùng với đao gươm giáo mác của các binh sĩ tất thảy đều đón bắt ánh nắng, phản chiếu thẳng về phía đoàn thuyền Hoằng Dụ và Nguyễn Kim khiến họ và quân lính chói đến nhức mắt. Viên đại tướng thét vang mặt biển:
- Hoằng Dụ chớ chạy! Tả đô đốc Mạc Đăng Dung vâng mệnh triều đình đến bắt cha con ngươi đây!
Hoằng Dụ cho thuyền dừng lại, truyền quân sĩ bỏ hết cung kiếm xuống sàn thuyền, có ý muốn nói chuyện. Thấy vậy Đăng Dung cũng cho thuyền mình chậm lại. Quân của Dụ gọi loa sang:
- Xin Đô đốc ngừng tay, tướng quân tôi có đôi lời tỏ bày.
Đăng Dung hạ đao xuống đứng chờ. Hoằng Dụ cho người mang thư sang thuyền Đăng Dung. Thư viết:
“Tôi lòng thành không giấu, xin ngỏ cùng Đô đốc: Anh em họ Trịnh mang bụng nghịch phản đã lâu, lại được Trần Chân giúp sức. Hôm trước tôi có cho người đi Sơn Nam mời Đô đốc hội quân đánh giặc Sơn Tây. Có lẽ người chưa kịp đến thì Đô đốc đã xuống thuyền nên tôi mới được gặp Đô đốc ở đây. Đành rằng Đô đốc vâng mệnh triều đình. Nhưng triều đình hiện đang bị ai thao túng, không nói Đô đốc cũng biết, mong Đô đốc xem xét. Tôi cũng vì vận nước mà nông nỗi thế này. Đô đốc với tôi trà dư tửu hậu mấy lần, lần gần đây nhất là cùng đánh dư dảng giặc Cảo ở Dạ Trạch, tâm đầu ý hợp, tình nghĩa ghi sâu.
Tôi đêm qua thức trắng nghĩ đến đại sự, trong nước mắt đầm đìa có làm một bài thơ, nay xin gửi cùng thư, muốn được Đô đốc nghĩ ngợi:
Mấy đời ăn lộc phúc triều quan
Báo đáp âu đành quản gian nan
Anh hùng vắng bóng, ai phò chúa
Mài lệ đêm thâu bóng nguyệt tàn!
Thư không nói hết.”
Mạc Đăng Dung xem thư và bài thơ, thở dài, thả cho cha con Hoằng Dụ chạy vào Thanh Hoa.
13
Chuyện Đăng Dung tha cho cha con Hoằng Dụ đến tai Trần Chân. Chân muốn triệu Đăng Dung về triều hỏi tội. Nguyễn Kính nói:
- Tiểu tướng vốn quen Vũ Hộ. Hộ có nói Đăng Dung là anh hùng đời nay, diệt không dễ mà thu phục được thì lợi vô cùng. Triệu hồi Đăng Dung về kinh chưa chắc y đã về, vì y đang có tật giật mình nên hẳn đã lường trước mọi tình huống. Y không chịu về, ta chẳng làm gì được y thì mất hết thanh thế, thể diện mà làm mạnh quá lại sợ y làm phản hoặc theo Hoằng Dụ thì nguy, khác gì giúp hổ thêm móng vuốt. Nay tôi có kế này ta vừa được tiếng khoan dung, hào hiệp vừa khiến Đăng Dung mất đi sức mạnh: Dung ở Sơn Nam mấy năm nay, như con hổ quen rừng, thuộc từ cây cối đến đường đi lối lại, lòng người đều thuận, trong tay binh hùng tướng mạnh hàng nghìn người; Sơn Nam lại là nơi hiểm yếu, mặt bộ chẹn lối Tam Điệp, mặt thuỷ ngăn dòng sông Cái nên mấy lần quân Thanh Hoa ra Bắc đều phải cho người chiêu phục mới dễ dàng qua nổi. Giờ đây để y ở đấy không nên. Chi bằng lấy cớ Hải Dương chưa có Tổng trấn, đổi y về đấy, đất lạ người chưa quen, y khác nào như con hổ bị thả giữa đồng bằng; nếu y quy phục thì tốt, không thì diệt trừ cũng dễ. Không nên sợ Dung chính là người Hải Dương vì chẳng cứ Cổ Trai mà ngay cả Nghi Dương của y cũng chỉ là góc nhỏ của cả trấn.
Nguyễn áng nói:
- Kế của anh rất hay nhưng dềnh dàng quá, lại có thể khiến Đăng Dung xem thường quân Sơn Tây ta. Dung mấy năm nay ru rú xó Sơn Nam, được sai tự cầm quân đuổi theo Hoằng Dụ, chưa đánh đã quay về thì giỏi ở đâu? Thật đúng là khôn nhà dại chợ. Y là Trạng nguyên võ thật đấy nhưng lâu nay ngồi ghế Tổng trấn chắc chắn võ nghệ đã mai một đi nhiều. Chủ tướng cấp cho tôi một nghìn binh mã, tôi xin lấy đầu Đăng Dung, thâu tóm luôn cả binh mã Sơn Nam đem về đây không quá mười ngày.
Trần Chân bảo:
- Hiểu võ nghệ Đăng Dung ngươi không bằng ta. Vả lại bây giờ Đăng Dung đã khác, hắn cũng như ta, đều không ham thi thố sức lực với một người mà muốn đánh đổ cả thiên hạ! Nghe theo Nguyễn Kính là hay hơn cả rồi lựa gió chiều nào ta xoay chiều ấy mà đối phó với hắn. Vả lại nay chính là lúc chúng ta cần thu phục lòng người, chớ nên vì cái lỗi nhỏ của người ta mà mang quân chinh phạt, thắng thua chưa biết, chỉ e thiên hạ vừa chực đi theo ta thấy tấm gương Đăng Dung đã vội do dự mà quay bước! Nguyễn Hoằng Dụ thắng được anh em nghĩa phụ ta là nhờ lừa lọc, dối trá, vậy thì ta nên thắng Hoàng Dụ bằng thành tâm đối đãi với người.
Trần Chân sai người mang lệnh điều Đăng Dung sang Hải Dương. Đăng Dung đem việc ra bàn với các tướng:
- Trần Chân điều ta sang Hải Dương mà không cần chỉ của nhà vua làm ta không biết có nên theo hay không.
Hiệu uý Vũ Hộ nói:
- Hiện nay mọi chuyện trong triều đều do Trần Chân quyết định, chỉ dụ của vua nếu có cũng là theo ý Trần Chân. Vậy nên không thể không theo.
Đăng Dung gật đầu:
- Ông nói đúng. Nhà vua và Trần Chân bây giờ như cái thực và cái ảo. Dẫu có thế nào thì ta cũng thấy nhẹ người vì đang lo việc tha cho cha con Hoằng Dụ làm trái ý Trần Chân. Nhưng không phải vì thế mà hết mọi lo lắng. Điều ta đi Hải Dương chính là cách điệu hổ ly sơn của Trần Chân, muốn ta phải rời nơi đã quen thuộc. Không phải Chân không biết ta người Hải Dương đâu, mà y cho rằng Nghi Dương chỉ là một góc nhỏ của Hải Dương nên không việc gì phải ngại. Vậy các tướng có cách gì để ta đến chỗ mới mà không phải lo gì cả không?
Vũ Hộ nói:
- Lý ra thì chỉ một mình tướng quân và gia quyến đi Hải Dương thôi còn đám hạ quan chúng tôi phải ở lại Sơn Nam nhưng tướng quân nên tâu với triều đình cho một số đi theo để đến Hải Dương tướng quân đã có ngay những người tâm phúc. Số còn lại có muốn đi theo cũng cần phải ở lại, để Sơn Nam này vắng tướng quân mà tướng quân vẫn như tại vị. Hải Dương với Sơn Nam chỉ cách nhau con sông Hồng, bên tả ngạn bên hữu ngạn dựa vào nhau, như vậy khác gì bỗng dưng lại được cả hai! Trần Chân dùng kế điệu hổ ly sơn thì ta lập kế biến không thành có, biến mất thành còn. Cha con tôi xin nguyện ở lại Sơn Nam để biến cái tưởng mất thành cái vẫn còn.
Mạc Đăng Dung mừng lắm. Con trai Vũ Hộ là Vũ Bang Huấn vừa cưới em gái út Đăng Dung là Ngọc Di nên Vũ Hộ với Đăng Dung bây giờ còn có tình thông gia. Đăng Dung để thêm tướng tâm phúc là Nguyễn Quốc Hiến ở lại cùng Vũ Hộ, hẹn với họ người nếu có chuyện thì bên này sang giúp bên kia, ban ngày đốt cỏ ẩm lấy khói làm hiệu, ban đêm đốt cỏ khô lấy lửa làm hiệu, ứng cứu cho nhau.
Ngày anh em Đăng Dung lên đường, dân chúng và binh lính Sơn Nam theo tiễn hàng mấy dặm đường.
*
Trần Chân lấy cớ nhà vua còn trẻ tuổi nên hối thúc các quan đại thần phong cho mình làm phụ chính. Từ đó Chân nắm mọi quyền hành, đi đâu cũng ngồi xe, lại sai người lên Tam Đảo bảo chủ trại ngựa tìm cho mười con ngựa, năm con phiêu năm con nê để cấp cho thị vệ theo hầu. Thái hậu, nhà vua và các đại thần đều lấy làm bức bối.
Nhân có biểu của Trần Chân về việc điều Đăng Dung đi Hải Dương, Thái hậu khuyên vua mật gọi mấy đại thần tâm phúc đến bàn.
Phó đô ngự sử Nguyễn Dự nói:
- Thần biết biểu tấu đến với nhà vua thì Đăng Dung đã chuẩn bị lên đường đi Hải Dương rồi! Trần Chân lạm quyền, tiền trảm hậu tấu, thực đáng trọng tội nhưng triều đình không thể không nghe theo! Thần lại nói về những việc ngông cuồng của y thời gian gần đây. Các hoàng đế nước ta từ xưa đến nay đi đâu thì ngồi xe che lọng phượng bông vàng, lúc lâm trận thì dùng bạch mã, tướng theo hầu dùng ngựa phiêu. Nay Trần Chân chỉ tước bá mà dám ngồi xe có lính cưỡi ngựa phiêu ngựa nê theo hầu, nghi vệ cứ như Thái sư, Thái uý, thói ngông nghênh đã rõ, ý thoán nghịch bắt đầu lộ, trước sau không trừ không được!
Thái hậu nói:
- Triều đình hiện nay không có thực lực, khó lòng mà làm gì nổi Trần Chân. Ta đã định bắt Chân phải chia sẻ quyền lực bằng cách triệu Trịnh Tuy từ Lôi Dương ra. Trịnh Duy Sản trước là cha nuôi của Trần Chân và Chân đã từng vì Trịnh Tuy mà đánh Hoằng Dụ nên ta nghĩ triệu Trịnh Tuy ra Đông Kinh chắc dễ dàng, không ngờ Chân lại tìm cách ngáng trở. Y bảo phải để Trịnh Tuy ở Thanh Hoa để cản trở Hoằng Dụ! Như vậy, y muốn một mình thâu tóm mọi quyền hành!
Thiêm đô ngự sử Lê Đại Độ tâu:
- Thần cho rằng Trần Chân không phải không biết tiền trảm hậu tấu là đắc tội nhưng cố tình thế để thăm dò thái độ nhà vua và các quan đại thần! Lại nữa, việc làm của Trần Chân có thể sẽ tạo cho những kẻ như Đăng Dung học đòi mà khinh nhờn phép nước.
Đô ngự sử Đỗ Nhạc thưa:
- Việc Trần Chân bây giờ là quan trọng và gấp nhất. Giải quyết xong Chân cũng là răn đe những kẻ khác, trong đó có Đăng Dung. Trước còn Trịnh Duy Sản, Trần Chân còn nể sợ, nay không còn Duy Sản, trước sau Trần Chân cũng sẽ làm cái chuyện đại nghịch Trần Tuân, Trần Cảo đã làm. Hiện Trịnh Tuy và Hoằng Dụ đều ở xa, gần gặn chỉ có Đăng Dung. Thần có kế này rất hay, binh thư gọi là kế mượn dao giết người. Nay thăng cho Đăng Dung từ tước bá lên tước hầu. Làm thế, tất nhiên không thể để Trần Chân nguyên tước bá được mà cũng phải thăng cho y song cũng chỉ thăng cho tước hầu, ngang với Đăng Dung. Trần Chân sẽ không chịu, nhân đó ta khích cho chúng hại lẫn nhau, bệ hạ cứ việc toạ sơn quan hổ đấu. Rồi thì sẽ vời Hoằng Dụ và cả Trịnh Duy Liệu, Trịnh Tuy quay trở lại, giảng hoà cho họ, có thế giang sơn này mới vững được.
Nhà vua nghe theo. Hôm sau thiết triều, ban thăng Mạc Đăng Dung làm Vũ Xuyên hầu, Mạc Quyết làm Đông Sơn bá, Mạc Đốc làm Đoán sự; thăng cho Trần Chân làm Thiết Sơn hầu, chức Điển quân Hiệu uý. Chân nhận tước, bực lắm, về nói với các tướng:
- Ta điều đăng Dung đi đâu y phải ngoan ngoãn đi đấy mà nhà vua lại chỉ phong ta tước hầu, xem ta cũng như Đăng Dung, thật không thể chịu được!
Hoàng Duy Nhạc nói:
- Ngày mai tướng quân hãy vào triều trả lại ấn tín xem sao.
- Ta cũng định thế.
- Không nên! - Nguyễn Kính nói - Rút dây động rừng, làm như vậy không những nhà vua phật ý mà Đăng Dung cũng bị chạm tự ái.
- Ngươi nghĩ ta sợ Đăng Dung chăng? – Trần Chân nói.
- Đang lúc thiên hạ ba bè bảy mối, ở Thanh Hoa thì Hoằng Dụ, Trịnh Tuy, ở Tuyên Quang thì Vũ Nghiêm Uy, ở Bắc Giang, Lạng Sơn thì Trần Thăng, ở Hải Dương thì Mạc Đăng Dung, việc thu phục nhân tâm là tối cần thiết. Chúng ta không sợ Đăng Dung nhưng tôi nghĩ diệt được y cũng không phải dễ dàng. Vả lại, tướng quân và Đăng Dung tuy tước ngang nhau nhưng tướng quân là Điển quân Hiệu uý, Dung chỉ là Tổng binh một trấn, chịu quyền sai phái của tướng quân nên trên dưới rõ ràng, như nhau sao được. Tôi lại cho rằng đây là âm mưu của mấy tên thân cận với nhà vua nhằm dương đông kích tây khiến ta và Dung diệt lẫn nhau mà có lợi cho chúng.
Trần Chân ngẫm nghĩ rồi bảo:
-Ta muốn cho ai còn hay mất lúc nào mà chẳng được nên nay tạm không trả lại ấn tín nữa, chờ xem sao. Vả lại, ta chợt nghĩ ra kế này rất hay rồi các ngươi sẽ biết.
*
Mạc Đăng Dung đến Hải Dương, đầu tiên mời Nguyễn Bỉnh Đức đang làm Huyện lệnh Tứ Kỳ lên lo việc ở trấn, sau đó cất nhắc người có năng lực trong họ và ở làng đảm đương một số việc cần thiết: Mạc Quốc Trinh làm Tham chính; Nguyễn Bỉnh Đức làm Tham nghị; Mạc Đình Khoa, Mạc Đốc, Mạc Quyết lo việc binh nhung; Mạc ích Trưng lo việc ruộng đất, quản đốc quan xưởng. Con trai lớn là Mạc Đăng Doanh cũng được giao một số việc cho quen dần với chính sự...
Một đêm, khoảng cuối canh hai, tất cả đã chìm vào giấc ngủ thì lính hầu vào đánh thức Đăng Dung, bảo có Vũ Hộ từ bên Sơn Nam sang. Đăng Dung đoán có việc gấp nên cho người mời Vũ Hộ vào ngay.
Vũ Hộ nói: Nhà vua nghe theo mấy Ngự sử, dùng kế mượn dao giết người. Theo họ thì trong nước hiện nay có bốn thế lực hùng mạnh: Thứ nhất là lực lượng Sơn Tây; thứ hai là họ Trịnh ở Thuỷ Chú, Lôi Dương; thứ ba là họ Nguyễn ở Gia Miêu, Tống Sơn; thứ tư là anh em Mạc Đăng Dung ở Hải Dương. Quân Sơn Tây là mối lo lớn nhất. Đăng Dung là thế lực yếu nhất trong bốn nhà nhưng nếu không chóng trừ diệt cũng sẽ nhanh chóng mạnh lên. Bọn Ngự sử chủ trương để quân Sơn Tây và quân Hải Dương diệt lẫn nhau rồi đón họ Trịnh họ Nguyễn quay trở lại kinh đô vì hai họ này và quân Tam phủ ở Thanh Hoa mới chính là chỗ dựa của triều đình. Trần Chân hình như mắc mưu ấy, nên đã lệnh điều Vũ Hộ và Nguyễn Quốc Hiến về kinh đô, giao Sơn Nam cho Hoàng Duy Nhạc là người của Trần Chân. Chân lại xét lại việc trước Đăng Dung tha cho Hoằng Dụ ở cửa sông Đáy, dâng biểu lên triều đình đòi hỏi tội.
Vũ Hộ bỗng hỏi:
- Trưởng tử Đăng Doanh năm nay bao nhiêu tuổi?
- Con tôi năm nay mười bảy. Tướng quân hỏi vậy chắc có ý gì?
- Trần Chân có con gái năm nay cũng mười bảy. Hay anh hỏi cho Đăng Doanh? Đó là cách xưa nay vẫn làm để cầu thân hoặc hoà hoãn.
Đăng Dung nghe theo, cảm động nắm tay Vũ Hộ:
- Con trai tướng quân lấy em gái tôi, tướng quân khác gì cha tôi, lại hơn tuổi tôi, vậy mà tình cảm chân tình, thân mật như anh em, thật tôi không lấy gì báo đáp!
Vũ Hộ xin phép đi ngay để tránh những dị nghị. Lúc đó khoảng canh ba. Tiếng vó ngựa dồn dập vang động đêm thanh vắng. Gần sáng, Vũ Hộ tới bến đò Khoái Châu, bên kia sông đã là đất Sơn Nam.
Mấy hôm sau Đăng Dung mang theo ít sản vật Hải Dương về kinh đô thăm Trần Chân, xa gần gợi chuyện cho hai trẻ đôi bên làm bạn với nhau. Trần Chân thấy liên kết với Đăng Dung cũng là điều hay nên bằng lòng. Chân nói với vợ: “Thông gia với Đăng Dung, hai nhà như một, còn lo gì bọn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy nữa!”. Người vợ nói: “Thế thì cho cưới liền tay đi thôi.”.
Hai bên chọn ngày lành tháng tốt cho Đăng Doanh thành thân với con gái Trần Chân.
Năm ấy là năm đại hỷ của gia đình Mạc Đăng Dung vì hồi đầu năm Ngọc Huệ đã được gả làm lẽ cho Tiến Quận công Nguyễn Lĩnh. Hồi vua Uy Mục bị Tương Dực giết, Nguyễn Lĩnh theo Thái giám Nguyễn Khắc Hài định báo thù cho Uy Mục. Nguyễn Lĩnh lập kế rước Tương Dực ra hồ sen vắng vẻ để Khắc Hài dễ hành sự. Nhưng Khắc Hài đã làm hỏng việc, sau bị bắt. Nguyễn Lĩnh phải trốn lên vùng Tam Đảo, tập hợp được mấy trăm người chống lại Tương Dực, chống không nổi, Nguyễn Lĩnh lại trốn lên Đà Giang, từ đấy ngầm liên hệ với Cẩm Giang vương phu nhân vì vậy sau khi lên ngôi, vua Chiêu Tông đã vời Nguyễn Lĩnh ra nắm triều chính. Nguyễn Lĩnh đã có bảy người vợ, lấy thêm Ngọc Huệ nữa là tám, về sau lại lấy thêm hai người thiếp nữa.
Việc Trần Chân và Mạc Đăng Dung hai nhà thông gia với nhau khiến Thái hậu và nhà vua lo mất ăn mất ngủ và bọn Ngự sử rối trí nhưng cũng nhờ vậy tình hình kinh đô yên ắng và hai họ Nguyễn, Trịnh cũng không dám hành động gì.
Một hôm em rể Đăng Dung là Lê Bá Ly đến thăm, thấy trấn sở Hải Dương khang trang, dọc đường lúa má tốt tươi, dân chúng xem chừng no ấm, Bá Ly khen:
- Lệnh huynh thật là giỏi! Mấy năm nay triều đình lục đục, dân chúng khổ sở vì nạn binh đao nên công việc đồng áng đâu cũng sa sút vậy mà Sơn Nam như không ảnh hưởng gì, bây giờ đến lượt Hải Dương lại khấm khá lên. Ngày trước em đoán anh có tướng chọc trời khuấy nước, nay lại hiểu thêm tài kinh bang tế thế của anh nữa! Anh còn khéo dùng Nguyễn Bỉnh Đức, khéo chọn dâu rể, khéo khiến Trần Chân không còn nghi ngờ. Nhưng theo em, muốn sâu rễ bền gốc, anh cần kết thân với mấy người nữa.
- Tôi từ khi ra khỏi cửa cho đến nay, chỉ mấy năm đầu là được ở kinh đô, còn thì 5 năm ở vệ Thiên Vũ, 3 năm ở Sơn Nam, nay lại ở Hải Dương ít có dịp giao thiệp với người kinh kỳ nên cũng không biết được nhiều.
- Người đầu tiên là Phạm Gia Mô, mới được triều đình bổ làm Hữu thị lang Bộ Lễ, người này có tài bao quát các việc. Người thứ hai là Nguyễn Như Quế hiện đang là Phó đô chỉ huy sứ vệ Cẩm Y, có tài điều binh khiển tướng. Người thứ ba là Nguyễn Thì Ung, hiện đang là Thiêm đô ngự sử, rất am hiểu chính sự và thời thế. Tuy cũng là quan Ngự sử nhưng có khác với đám Nguyễn Dự, Lê Đại Đổ, Đỗ Nhạc. Người thứ tư và thứ năm thì anh đã biết và cũng đã dùng, đó là Vũ Hộ và Nguyễn Quốc Hiến, họ từ Sơn Nam bị Trần Chân kéo lên kinh làm việc ở Phụng Thiên phủ doãn. Người thứ sáu là Nguyễn Thế An, người này không tài năng gì kiệt xuất nhưng là nội quan trong cung nên có biết nhiều điều bì mật, quen được rất có lợi.
- Chú nói thì biết vậy chứ Vũ Hộ, Quốc Hiến không nói làm gì, làm thế nào mà gần gũi được những người kia?
- Chính Trung, Thái An năm nay bao nhiêu tuổi? - Bá Ly hỏi.
Đăng Dung bảo:
- Đều chưa đến tuổi dựng vợ gả chồng! - Đăng Dung cười - Tôi hiện đã bốn trai hai gái nhưng các bà vợ của tôi vẫn còn đẻ nữa! Còn là mệt với chuyện chồng con cho chúng!
- Đăng Doanh coi như tạm yên nhưng chưa phải đã xong. Em biết anh thông gia với Trần Chân cũng là bất đắc dĩ. Kể từ Chính Trung, Ngọc Thọ trở đi anh cần thận trọng. Xem trong những người em vừa kể có thể thông gia với ai được không. Vũ Hộ nói đúng, đó là cách xưa nay vẫn làm để kết thân hoặc hoà hoãn, các quân vương khanh tướng thông gia đa phần là nhằm củng cố quyền lực, liên minh chính trị.
- tôi định gả cháu Ngọc Thọ cho Nguyễn Quốc Hiến, chú thấy thế nào? Mới nghĩ như thế vì phải hai năm nữa cháu mới đến tuổi. Quốc Hiến làm việc bên tôi đã lâu nên tôi biết rõ đạo đức, tài năng.
- Em nghĩ là được. à, giờ mới nhớ ra, Phạm Gia Mô có con gái sắp đến tuổi cập kê, hay anh ướm hỏi cho Chính Trung đi.
Hai người bàn sang chuyện thời thế, chưa được mấy câu thì Đăng Doanh dẫn vợ đến, người vợ kêu khóc thảm thiết:
- Cha ơi! Phụ thân con bị người ta giết! Cha trả thù cho phụ thân con!
Cả Mạc Đăng Dung và Lê Bá Ly cùng giật mình: Kinh đô có biến, Trần Chân bị giết rồi!
Đăng Dung lập tức sai người về kinh thăm dò đầu đuôi sự việc.
(còn tiếp)
Nguồn: Mạc Đăng Dung. Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê. NXB Hải Phòng, 2007.
Bản điện tử của tác giả gửi www.trieuxuan.info |