tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
09.10.2014
Lưu Văn Khuê
Mạc Đăng Dung

Phần thứ hai. Anh hùng tạo thời thế


1.   Sau khi lên ngôi, chọn ngày lành tháng tốt, vua Minh Đức nhà Mạc cùng văn võ bá quan tới đàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành.


   Đàn có từ thời nhà Lý, đến nhà Lê được xây dựng, sửa sang thêm và nghi lễ cúng tế cũng trở thành nền nếp. Đàn là khoảng đất vuông vắn được xây tường chung quanh, tượng trưng cho đất; chính giữa khoảng đất là đàn, hình tròn, cao ba tầng, tượng trưng cho tam tài: Thiên, địa, nhân, tầng trên cùng  là tượng trưng cho trời. ở khoảng đất vuông có ba ngôi nhà ngói, gồm Trai cung để nhà vua lên tạm trú vài hôm cho chay tịnh trước khi vào tế, Thần trù là nơi nhà bếp và Thần khố là nhà kho.


   Sau khi trai giới ba ngày ở Trai cung, vua Thái Tổ nhà Mạc lên đàn, trịnh trọng tuyên bố với trời đất để ghi vào sách trời triều đại mới của Đại Việt, thề làm theo những điều trời đất ban cho và dân chúng mong muốn.


   Nhà vua truy tôn tổ bảy đời là Mạc Đĩnh Chi làm Kiến thuỷ Khâm minh Văn hoàng đế, các vị đời sau cũng đều được truy tôn hoàng đế, cha làm Chiêu tổ Quang liệt Cơ mệnh hoàng đế. Tôn mẹ làm Hoàng thái hậu.


   Vua lập con trưởng là Mạc Đăng Doanh làm Thái tử, cho người sửa sang Đông cung để Thái tử đến ở và đọc sách; phong Mạc Quyết làm Tín vương, truy phong Mạc Đốc làm Từ vương. Ba em gái đều phong công chúa: Em gái trưởng là Ngọc Phong (vợ Lê Bá Ly) làm Trang Hoà trưởng công chúa, em gái thứ là Ngọc Huệ (vợ goá của Nguyễn Lĩnh) làm Khánh Diệm công chúa, em gái út là Ngọc Di (vợ Vũ Bang Huấn) làm Tú Hoa công chúa. Các hoàng tử: Chính Trung, Phục Sơn, Nhân Phủ, Quang Khải đều được phong tước vương; các con gái được phong công chúa: Ngọc Thọ làm Thuỵ Ninh công chúa, Ngọc Châu làm Thái An công chúa. Những người con khác do còn nhỏ nên chưa được phong tước. 


   Vũ Hộ có công lớn nhất giúp nhà Mạc lập nghiệp, được phong thưởng đầu tiên, làm Tĩnh Quốc công và ban cho quốc tính, gọi là Mạc Bang Hộ, con trai là Vũ Bang Huấn do vậy được gọi là Mạc Bang Huấn; Trung quan là Nguyễn Thế An cũng do lấp nhiều công lớn, làm Ly Quốc công.


   Tháng Giêng năm sau Mạc Thái Tổ sai đúc tiền Thông bảo niên hiệu mới là Minh Đức cho các xứ tiêu dùng thay cho tiền nhà Lê. Sang tháng Hai xét tiếp công lao các công thần, thăng và phong tước cho các đại thần:


- Nguyễn Quốc Hiến làm Phò mã đô uý, Thái bảo Lâm quốc công và ban cho quốc tính;


- Mạc Quốc Trinh làm Thái sư Lân Quốc công;


- Mạc Đĩnh Khoa làm Tả đô đốc Khiêm Quốc công;


- Nguyễn Thì Ung làm Thiếu bảo Thông Quốc công;


- Nguyễn Bỉnh Đức làm Khánh Khê hầu và ban cho quốc tính, đổi gọi là Mạc Ninh Bang;


- Phạm Gia Mô làm Hoằng Lễ hầu;


- Nguyễn Văn Thái làm Đạo Xuyên hầu;


- Lê Bá Ly làm Mai Xuyên hầu;


- Nguyễn Như Quế làm Trung Quốc hầu và ban cho quốc tính; 


- Nguyễn Chuyên Mỹ làm Văn Đẩu hầu;


   Tất cả 56 người.


   Nhà vua nói:


   - Hầu hết các vị đại thần triều vua cũ đều ở lại với triều Mạc ta, như thế là đại phúc cho thiên hạ. Những vị không chịu ở lại với trẫm, trẫm cũng không  trách, chẳng qua các vị ấy hoặc lòng còn nhớ vua cũ, hoặc còn chưa hiểu trẫm. Điều ấy cũng thường tình. Bởi chính trẫm cũng chỉ vì không quên công Uy Mục đế chăn dắt vào chốn quan trường nên mới hết lòng vì nhà Lê, sau này lại chần chừ việc phế lập, chỉ đến khi vạn cùng bất đắc dĩ mới làm chuyện thay đổi để đáp ứng lòng ngưỡng mộ và mong mỏi của dân chúng.  Nghĩ cảnh những vị ấy người trốn tránh trong rừng, ẩn giấu tên tuổi, tụ tập làm đảng cướp hoặc đi ra ngoại quốc để cầu yên, trẫm rất thương cảm. Trong khi đó xã tắc lúc này lại đang cần các vị ấy nên trẫm đã cho người yết thị các nơi mời các vị ấy trở lại với triều đình. Tháng trước trẫm có sai chính con của trẫm là Hoằng vương một lần nữa đi Kinh Bắc mang thư dụ hàng hai vị Đàm Thận Huy và Nguyễn Nghiêm. Trẫm muốn làm cái việc xưa Tống Thái Tông ở Bắc quốc chiêu hàng cha con Dương Nghiệp nhưng Đàm Thận Huy đã tự sát. Nguyễn Nghiêm vì còn mẹ già nên đổi họ tên về làng định đón mẹ đi thì bị quan quân phát giác, phải trốn tới Tam Nông, tập hợp gần trăm người kiên quyết chống lại và bị bắt, dọc đường cắn lưỡi chết. Cảm thương trước tấm lòng trung liệt của các vị ấy, trẫm đã truy phong cho họ và cấp tiền bạc cho con cháu họ. Trẫm phong cho Thượng thư, Lam Xuyên bá Đàm Thận Huy làm Lam Xuyên hầu và cho người mang sắc phong tới Ông Mặc, Đông Ngàn là quê ông ấy. Nghe nói chưa đến nơi, mới đến chợ Cổ Châu thì tờ sắc tự nhiên bốc cháy. Như vậy dẫu đã chết Thận Huy vẫn không chịu theo trẫm. Người tiết liệt mà linh thiêng đến thế thực hiếm. Với các ông Nguyễn Nghiêm, Vũ Công Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Thái Bạt, Nguyễn Duy Tường, Nguyễn Tự Cường, Nghiêm Bá Ký, Lại Kim Bảng, Nguyễn Thiệu Tri, Lại Vô Cương trẫm cũng đã truy ban tước lộc, cấp tiền bạc cho con cháu thờ cúng. Còn như linh hồn các các vị ấy có quy thuận hay không thì cũng tại cái đức của trẫm còn mỏng.


Các quan ra sức mong vua tránh những điều phiền muộn. Nhà vua nói tiếp:


   - Trẫm cũng đã ban chỉ đi các nơi phủ dụ con cái các vị tiết liệt vì vua cũ không có gì phải sợ hãi, hãy ra làm quan giúp tân triều, đem tài kinh bang tế thế ra cho quốc thái dân an. Trẫm lại đã sai người vào Thanh Hoa tu sửa lầu điện và lăng tẩm Thái Miếu nhà Lê ở Lam Kinh, mỗi năm sẽ hai lần vào đấy tế lễ dịp mùa xuân và mùa thu, bốn kỳ tế lễ ở lăng Mỹ Xá để ghi nhớ công của đức Thái Tổ nhà Lê đã có công đánh đuổi giặc Ngô mang lại nền thái bình cho đất nước, đồng thời bày tỏ cõi lòng để đức Thái Tổ hiểu trẫm.


   Mạc Quốc Trinh nói:


   - Xưa triều Lý mục ruỗng, Trần Thủ Độ phế bỏ Chiêu Hoàng, lập nên nhà Trần, tài tình trị nước, ai ai cũng ca ngợi, chỉ chê mỗi điều sau đó giả cách mời hoàng thân nhà Lý đến dự yến tiệc rồi đánh sập hầm làm không biết bao nhiêu người chết oan. Đến lượt triều Trần suy tàn, Hồ Quý Ly thay thế cũng làm nhiều điều đáng khen, nhưng cũng bị chê trách là gian giảo và tàn sát quá nhiều tôn thất nhà Trần liên tục trong nhiều năm, có ngày giết một lúc 370 người đến nỗi đi đường gặp nhau những người quen biết chỉ dám nhìn nhau bằng mắt không dám nói chuyện bằng lời vì sợ bị nghi kỵ, đến như mồ mả còn bị quật lên. Tài đức đến như Lê Thái Tổ khởi nghĩa thành công rồi cũng không còn nghĩ đến công thần nữa, bốn công thần hàng đầu là Lê Vấn, Lê Sát, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều bị giết sạch! Trần Nguyên Hãn về hưu rồi vẫn còn bị giết chỉ vì là dòng dõi họ Trần! Bệ hạ lại khác hẳn, không những ban sắc phong cho những người quyết chết vì vua cũ mà còn nghĩ đến tông miếu nhà Lê ở Lam Kinh. Chí tình chí nghĩa như thế thật xưa nay hiếm, đã tròn đạo lý lại thuận lòng dân.


   Nhà vua nói:


   - Trẫm không trách các vị tiết liệt của triều cũ nhưng chê họ cố chấp. Cái câu của đạo Nho “Trung thần bất sự nhị quân. Liệt nữ bất cánh nhị phu” quá nặng trong đầu họ, làm cho họ u mê, khiến lúc nào cũng canh cánh nỗi sợ người đời chê cười là bất trung. Suy cho cùng lòng trung ấy cũng chỉ là yêu chính mình mà thôi, còn như đất nước này thịnh hay suy, yên ổn hay loạn lạc, dân chúng no hay đói họ đâu cần quan tâm. Trung cũng có minh trung và ngu trung. Kiệt là vua nhà Hạ, say mê Muội Hỷ, bỏ bê việc nước, cai trị tàn ác nên bị Thành Thang là bày tôi của Kiệt trừ bỏ mà lập nên nhà Thương; 280 năm sau đến lượt Trụ là vua nhà Thương, say mê Đát Kỷ, cai trị tàn bạo, bị dân ghét bỏ, nên Vũ Vương vốn là bày tôi của Trụ diệt mà lập nên nhà Chu. Đời sau ai cũng khen hai vị Thành Thang và Vũ Vương. Lại 350 năm sau, đến U Vương nhà Chu, say mê Bao Tự, lừa dối chư hầu, cai trị ngu tối nhưng đất nước không có ai như Thành Thang, Vũ Vương, ai cũng lo lấy thân mình, cá lớn nuốt cá bé, gây ra cục diện Xuân thu - Chiến quốc thảm khốc đến 500 năm khiến muôn dân điêu đứng. Vừa rồi Uy Mục, Tương Dực hoang dâm tàn bạo, so sánh với Kiệt, Trụ có khi còn hơn. Chiêu Tông bỏ việc nước rời khỏi kinh đô, so sánh với Lệ Vương nhà Chu trốn đến đất Trệ hỏi có khác gì. Cung Hoàng mê mẩn Quý phi rượu chè say khướt so sánh với U Vương cũng chẳng khác mấy. Vậy mà trẫm muốn làm cái việc vua Thành Thang và Vũ Vương đã làm, không muốn đất nước lâm vào cảnh Xuân thu - Chiến quốc, các vị như Đàm Thận Huy, Nguyễn Nghiêm, Vũ Duệ lại bỏ trẫm, không muốn cộng tác, trẫm thật lấy làm giận và tiếc lắm! Chẳng đâu xa, ngay giờ đây bên trẫm không có Đô ngự sử Nguyễn Thái Bạt, vậy lấy ai bàn chính sự, can gián trẫm những khi thiếu sáng suốt? Không có Hộ bộ Thượng thư Nguyễn Thiệu Tri, vậy lấy ai đủ tài coi việc ruộng đất, thuế khoá, lương tiền cho quan quân? Không có Lễ bộ Thượng thư Đàm Thận Huy, vậy lấy ai coi việc lễ nghi, học hành, thi cử?


   Các quan cùng tâu: “ Chúng thần xin hết sức để thay những vị ấy”.


   Nhà vua nói tiếp:


   - Tình hình chưa thể gọi là yên được. Hoàng thân quốc thích nhà Lê vẫn còn, họ sẽ không chịu ngồi yên vì ngay khi các vua Uy Mục, Tương Dực, Chiêu Tông, Cung Hoàng còn trị vì họ cũng đã làm những chuyện phế lập. Rồi thể nào họ cũng tìm cách sang Bắc quốc, lấy cớ có chuyện thay đổi triều đại mà cầu quân Minh trở lại nước ta. Theo các khanh thì thế nào?


   Vũ Hộ tâu:


   - Việc hoàng thân quốc thích và đám trung thần của triều vua cũ chống đối nên coi là điều dễ hiểu vì từ cổ chí kim đều vậy. Ngay như Thái hậu nhà Đinh là Dương Vân Nga tình nguyện đem long bào khoác cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, nhường ngôi cho nhà Tiền Lê, vua Đinh thì xuống làm Vệ vương, sau này Vệ vương còn giúp Đại Hành hoàng đế những 20 năm, lập nhiều công trạng, thế nhưng lúc đầu Đại Hành hoàng đế cũng bị nhiều kẻ chống đối. Con sông cái đêm Thái hậu Dương Vân Nga và Đại Hành hoàng đế gặp nhau trên thuyền rồng về sau còn bị đặt tên là sông Dâm Thủy! Lý Công Uẩn tuy được chính các quan trong triều đưa lên ngôi song cũng gặp phải điều tương tự. Đành rằng việc dời đô tới Đại La là đúng, khiến tiền đồ nước nhà mở mang nhưng phải thấy rằng vua Lý Thái Tổ không muốn ngày ngày cứ phải đụng chạm với những con mắt nghi kỵ của người Hoa Lư. Thế nên xin bệ hạ hãy nguôi đi những phiền muộn mà nghĩ cách phòng ngừa. Việc đối xử với các hoàng thân quốc thích cũng như các đại thần của triều vua cũ đến bây giờ như vậy là đã tận tình, chu đáo nên từ đây những kẻ nào còn một mực chống đối thì chỉ còn cách trừ diệt mà thôi. Với triều Minh tất nhiên phải mềm mỏng, cốt sao đất nước được bình yên, dân chúng khỏi lầm than, giang sơn thoát cảnh chìm đắm, tránh dẵm phải vết xe cũ của nhà Hồ. Nhưng đến bước đường cùng thì cũng phải kháng cự. Nhà Ngô, nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê đã từng oanh liệt, nhà Mạc ta chả nhẽ lại không làm được điều như họ sao? Hơn nữa, như thần được biết thì nhà Minh cũng có điều e sợ nước Nam ta. Vào thời vua Lê Thánh Tông nước ta, do quân đội nhà Lê mấy phen dám phạm cả biên cảnh mấy tỉnh Bắc quốc nên Thái giám Uông Trực bên nhà Minh có dâng với vua Tuyên Đức bản văn kế hoạch đánh nước Nam ta. Lưu Đại Hạ bấy giờ đang trông coi miền Lưỡng Quảng nghe tin vội nói với Thượng thư Bộ Hình là Du Tử Tuấn: “Nếu dấy binh đánh An Nam thì mấy tỉnh miền Tây Nam Trung Quốc không khỏi tơi bời trong khói lửa!” đê Tử Tuấn tâu với vua Minh. Vậy là vua Minh không nghe theo Uông Trực, thậm chí Vương Miễn sau khi công cán biên cảnh về tiếp tục xin đánh, còn bị vua Minh bắt giam vào ngục Cẩm Y vệ! Đại học sĩ nước họ là Từ Phổ còn có bài biểu phân tích lý do không nên đánh nước Nam ta.


   Vua Mạc khen:


   - Khanh nói rất phải. Đến con giun xéo lắm cũng quằn nữa là đường đường một triều đại như ta. Những kẻ còn chống đối thì ta phải diệt, kẻ ngoại xâm thì ta mềm dẻo nhưng đến nước cùng thì cũng phải đánh. Trẫm sẽ cho sứ thần sang Bắc quốc nói rằng con cháu nhà Lê không còn ai thừa tự cho nên di chúc cho đại thần họ Mạc tạm cai quản việc nước để yên nhân dân. Trẫm vừa mới đọc lại bài văn thi Đình của Trạng nguyên khoa Bính Tuất là Trần Tất Văn, thấy lời lẽ văn chương vừa thống thiết vừa hào sảng nên trẫm quyết định giao trông coi việc từ hàn, soạn các văn thư trao đổi với nhà Minh, khi cần đến thì đi sứ sang nước họ.


   Trần Tất Văn cúi đầu lậy tạ. Nhà vua nói tiếp:


   - Trẫm nghe tin mật báo nói Lê Công Uyên đang cùng Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ Tường âm mưu tập hợp những kẻ chống đối. Ngã và Thọ Tường không nói làm gì, chứ Công Uyên thì đáng kể tuy rằng Uyên cũng nhờ uy tín cha ông mà quy tụ được vây cánh. Uyên là cháu Lê Văn Linh khai quốc công thần triều Lê. Năm Thuận Thiên thứ hai, khi Lê Thái Tổ sắp xếp ngôi thứ các công thần và phong tước cho 221 tướng sĩ trong quân Thiết Đột vất vả theo đòi từ lúc mới khởi nghĩa ở Lũng Nhai thì Lê Văn Linh đứng ở hàng thứ 6, trên Trịnh Khả là ông nội đám Duy Đại, Duy Sản rất nhiều. Vậy nên các khanh cần lưu ý mà đề phòng. Một việc nữa là trẫm có ý định xây dựng Nghi Dương thành kinh đô thứ hai, gọi là Dương Kinh, lấy Cổ Trai làm trung tâm. Đây là việc không có gì mới, nhà Lý từng có Kinh Bắc, nhà Trần có Thiên Trường, nhà Lê có Tây Kinh. Nhà Lê còn lấy người ba phủ ở Thanh Hoa là Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia để làm phụ tử chi binh.


    Các quan đại thần đều nói việc ấy rất nên.


 


                                                                *


    Ở Cổ Trai ngày trước đã phủ Hưng Quốc dành cho Mạc Đăng Dung, phủ Từ cho Mạc Đốc, phủ Tín cho Mạc Quyết. Nay vua Mạc chọn Nghi Dương làm Dương Kinh, coi là kinh đô thứ hai của quốc gia nên sai lập thêm một số cung điện nữa ở Cổ Trai như điện Phúc Hưng, điện Tường Quang, đồng thời sửa sang đường sá, mở mang chợ búa.


   Nhà vua cũng không quên tìm về xã Lũng Động, huyện Chí Linh, cho dựng điện Sùng Đức ở nền nhà của của ông tổ bảy đời là Kiến thủy Khâm minh Văn hoàng đế Mạc Đĩnh Chi. Họ Mạc ở Cổ Trai vốn gốc tích tại đấy, bắt đầu hiển đạt từ Mạc Hiển Tích, đỗ Văn học thủ tuyển năm Bính Dần, niên hiệu Quang Hựu triều vua Lý Nhân Tông, làm quan đến chức Thượng thư. Ba năm sau đến lượt em của ông là Mạc Hiển Quan cũng đỗ Văn học thủ tuyển (*). Cả nước lúc bấy giờ đều lấy anh em họ làm tấm gương cho việc học hành và đem tài trị nước. Năm đời sau, họ Mạc ở Lũng Động lại có Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long triều vua Trần Anh Tông. Ông người bé nhỏ, tướng mạo cực xấu nhưng rất thông minh nên người ta cho là Hầu tinh (**) giáng thế. Ông đi sứ Bắc quốc, ứng đối giỏi nên được vua Nguyên phong cho làm Trạng nguyên nước họ, từ đó thành “lưỡng quốc Trạng nguyên”. Nhưng hai con Mạc Đĩnh Chi là Mạc Khán, Mạc Trực đều chỉ đỗ Hương cống, từ đó họ Mạc sa sút dần. Đến đời nhà Hồ trong họ có người theo người Minh nên khi Lê Thái Tổ lên ngôi do sợ hãi mà một chi họ Mạc đã dời khỏi Chí Linh đến làng Lan Khê, huyện Thanh Hà, rồi lại từ đấy di cư về Cổ Trai; đến đời Mạc Đăng Dung, họ Mạc ở Cổ Trai đã trải qua bốn đời, trong đó ba đời chỉ sống bằng nghề đi biển đánh cá...


    Một hôm có người từ Cổ Trai ra Đông Kinh tâu với vua việc xây dựng ở Cổ Trai và chở giấy bản về để trộn với mật mía xây tường gạch, nhân đó cho biết gần đây nhiều thuyền buôn nước ngoài vào sông Văn úc, vậy có nên cho họ vào nữa không. Trong một buổi thiết triều, nhà vua mang việc này ra bàn với các đại thần:


   - Trẫm đã sai Lâm Quốc công Nguyễn Quốc Hiến cùng mấy vị đại thần căn cứ vào tân chính sách mà chăm lo cải cách chính sự, sửa đổi lại Binh chế, Điền chế, Lộc chế. Các việc đều trôi chảy. Nhưng còn nhiều điều khiến trẫm băn khoăn. Hôm nọ người ở Dương Kinh ra kể, dạo này thuyền buôn nước ngoài hay vào sông Văn úc, ngược sông lên tận Đông Minh và lên bờ để tới chợ. Họ nói những gì không ai hiểu nhưng cứ như điệu bộ thì đoán ra  họ từ phía Nam tới. Trẫm biết ở phương Nam nước ta ngoài Chiêm Thành còn có các nước Chân Lạp, Chà Và, Mã Tà, Ma Ní, Xiêm La và mấy nước nữa. Da họ đen, người họ xấu chứ không được như ta nhưng do đi khơi đi lộng quen nên ai trông cũng rắn rỏi khoẻ mạnh. Họ lại là thương nhân vì vậy sành sỏi, giảo hoạt, chứ không như dân ta chân chỉ, thật thà vì chỉ quanh quẩn với công việc đồng áng và ít đi đây đi đó. Họ có vẻ thích bát đĩa và một số sản vật nước ta và hỏi mua. Dân ta thì thích vải vóc, hoa quả của họ, họ có những thứ quả trông rất lạ, có quả bổ ra bên trong toàn nước uống rất ngọt. Thế là hai bên đổi cho nhau. Từ đó thỉnh thoảng họ lại tới, mang theo nhiều hàng hoá rất lạ.


___________


(*) Đỗ đầu về văn học. Nhà Trần chưa đặt ra tam khôi nên Văn học thủ tuyển tương tự như Trạng nguyên sau này.


(**) Hầu: Khỉ.


Sở dĩ họ tới luôn là vì thấy nước ta sản vật phong phú, dân ta mấy năm nay an cư lạc nghiệp, Dương Kinh dạo này mở mang mà lái buôn thì hay đi tìm những nơi giao thương mới. Nhưng quan quân ở đấy lại lấy làm lo lắng, sợ họ có ý gì chăng nên cho người lên tâu với triều đình. Trẫm đem chuyện nói với Hoàng hậu, Hoàng hậu bảo hay là mở cái chợ thật lớn ở Đông Minh, trên bến dưới thuyền, gọi là Minh Thị, chở các đồ bát đĩa và các hàng nông sản từ các nơi tới vừa bán cho người mình vừa giao thương với nước ngoài. Trẫm muốn bàn với các khanh xem nên thế nào? Các khanh cứ nghĩ sao nói vậy, chớ ngại.


   Nguyễn Văn Thái tâu:


   - Ngoại quốc bụng dạ chẳng biết thế nào nên thần thiển nghĩ không nên mở thêm chợ ở đâu nữa, chỉ cần Kinh Kỳ, Phố Hiến như trước là đủ. Vả lại, chợ búa làm con người ta mất cái thuần phác đi mà sinh ra thói gian giảo để được giàu có, thêm nữa có khi dân chúng vì mê mẩn chợ búa mà bỏ hết công việc đồng áng rồi đua nhau mở lò bát đĩa để bán cho người nước ngoài khiến nghề canh cửi sẽ dần mai một.


   Nguyễn Thì Ung nói:


   - Sĩ, nông, công, thương, trong tứ dân thì kẻ sĩ và nhà nông đứng đầu. Nay mở mang chợ búa, xây lò làm sành sứ, cho giao thương các nơi, thì chẳng những nghề nông và  nghề canh cửi mai một mà việc học hành cũng vì thế bị sao nhãng. Đó là chưa kể đồng


tiền có thể khiến người ta mờ mắt, kẻ sĩ do vậy dễ bị lung lạc, đất nước mất đi nền nếp. Vậy mong bệ hạ xét kỹ.


   Phạm Gia Mô nói:


   - Các ông nói vậy là đúng nhưng chưa đúng hoàn toàn. Sĩ, nông, công, thương trong một nước phải đủ cả. Đành rằng nông vi bản nên sau kẻ sĩ là đến nhà nông nhưng tứ dân với bốn nghề như bốn cái chân của chiếc bàn, thiếu đi một chân phỏng có được không? Kẻ sĩ là cao quý nhưng cũng không ít hạng dài lưng tốn vải, lái thương là hèn hạ nhưng không ít người giỏi giang, có khi còn có tài lương đống. Mọi việc cũng thế, đều có cái hay cái dở, mặt phải mặt trái, mặt trái. Nay mở chợ, giao thương với các nơi cũng như với nước ngoài, tất nhiên hay có mà dở cũng có, phải có mà trái ắt cũng sẽ sinh ra, cái chính là phải làm sao để cái hay át cái dở, mặt phải lấn mặt trái. Tâu bệ hạ, tân chính sách triều đình chẳng bao lâu nữa sẽ ban bố thật đã thể hiện tinh thần pháp trị mà bệ hạ từng tâm huyết từ lâu. Vậy thì việc buôn bán cũng cứ từ đấy mà hành xử, đúng thì cho, không đúng thì ngăn cấm. Việc chợ búa cứ cho mở, kẻ buôn bán thì phải nộp thuế bằng tiền bạc, tuỳ theo mức độ. Có thuế má, kho tàng của triều đình lại càng nhiều thêm thì càng tốt chứ sao.


Nhà vua khen:


   - Khanh nói hợp với ý trẫm. Phát triển bách nghệ, giao thương trong ngoài là mong ước từ lâu của trẫm nhưng chưa có dịp. Nay chính là lúc trẫm được sở nguyện. Khanh lại là người vùng ấy nên thông thạo địa dư, phong tục, nay trẫm giao cho khanh và Lê Thời Bật cũng người trong vùng xem xét kỹ việc mở chợ Minh Thị rồi trình bày cho triều đình. Khanh cũng không được bỏ qua những điều xuôi ngược các đại thần khác vừa bàn. Nhân nói đến kẻ sĩ, ta định sang năm mở kỳ thi Hương để kịp năm sau thi Hội và thi Đình, các khanh thấy thế nào?


Trạng nguyên khoa Bính Tuất (1526) Trần Tất Văn tâu:


   - Hạ thần và 19 tiến sĩ nữa là những người cuối cùng đỗ đạt ở triều đại trước nên rất hiểu tâm trạng của các sĩ tử. Mười người thì đến chín người mừng cho chúng thần, đồng thời than thở rằng họ không may sinh sau đẻ muộn hoặc học hành chưa đến nơi đến chốn nên chậm bước, chỉ lo vua Minh Đức do bận nhiều việc quan trọng hơn, chưa chắc năm Kỷ Sửu này đã mở khoa thi tiến sĩ. Vậy nên nếu bệ hạ vẫn cho thi đúng kỳ thì thật phúc lớn cho thiên hạ. 


Trạng nguyên khoa Quý Mùi (1523) Hoàng Văn Tán tâu:


   - Nếu được vậy thì sĩ tử thật náo nức! Nhân đây thần muốn bàn về việc thi cử: Nhiều năm nay sự học được khuyến khích nên kẻ sĩ trong nước đông đảo, mỗi khoa tới năm, sáu nghìn sĩ tử là chuyện thường. Thời vua Thánh Tông quy định số người đi thi xã lớn 20 người, xã trung 15 người, xã nhỏ 10 người. Đông thế nhưng rút cuộc mỗi khoa chỉ chọn được bốn, năm chục tiến sĩ chứ không nhiều, có năm chỉ mươi, mười lăm người. Qua đó đủ thấy nhiều kẻ học như chỉ cốt được làm quan, đỡ phải việc đồng áng vất vả. Cùng từ đấy sinh ra nhiều thói gian trá, như khoa Canh Thìn năm Quang Thiệu, có hai người đang trọng tang nhưng cố giấu để đi thi nên sau khi bị phát giác dù đã đỗ vẫn bị loại. Lại nghe nói ở vùng Hải Đông có người đã đỗ nhưng phải ở nhà một năm, năm sau mới được bổ dụng bởi hôm vinh quy, vợ cả vợ lẽ tranh nhau đi trước không ai chịu nhường ai. Vợ còn không dạy nổi thì sao dạy nổi dân! Chưa kể lắm kẻ sĩ học mà không thông đòi nghĩa sách, hiểu chữ thánh hiền sai lạc đi khiến đạo Nho ngày càng không được xem trọng. Kẻ sĩ đúng là nhân tài của đất nước nhưng cần phải thực chất. Vậy nên bên cạnh việc thi cử nghiêm túc, khoa tới các sĩ tử đi thi cũng không nên nhiều.


Lê Bá Ly nói:


   - Bao nhiêu năm nay thiên hạ mỏi mắt mong thay đổi triều đại, nay triều đại đã được thay đổi nhưng ngay từ đầu đã hạn chế sĩ tử, như thế không khỏi làm kẻ sĩ thất vọng, sinh ra bất mãn nên thần thiết nghĩ không nên. Đâu xa, ở ngay chính huyện Vĩnh Lại của Hoàng trạng nguyên, có một danh sĩ tên là Nguyễn Văn Đạt (*), về tuổi đã có thể ứng thí ngay từ thời Tương Dực nhưng vì thấy thời thế điên đảo nên mãi không chịu đi thi. Khoa này Văn Đạt mà đi thi thì thật may cho xã tắc lắm. 


Nhà vua gật đầu:


   - Cả hai khanh nói đều có ý đúng. Kẻ sĩ cốt thực chất chứ không cốt nhiều. Nhưng vừa nhiều lại vừa thực chất thì càng tốt chứ sao. Việc này Bộ Lễ, Bộ Lại cùng nghĩ và chuẩn bị rồi trình trẫm.


   Lễ Bộ Thượng thư Nguyễn Giản Thanh, Lại Bộ Thượng thư Đinh Trinh cùng lạy tạ nhận lệnh.


   Nhà vua nói tiếp:


   - Trẫm cũng có nghe thiên hạ nói đến Nguyễn Văn Đạt. Người này là con bà Nhữ Thị Thục, cháu ngoại Thượng thư Nhữ Văn Lan của triều trước. Trẫm nghĩ Văn Đạt sẽ còn cân nhắc nữa chứ chưa chịu ứng thí kỳ này đâu. Nghe nói người này sâu sắc và kỹ tính lắm. 


Công Bộ Thượng thư là Nguyễn Đốc Tín tâu:


   - Trở lại chuyện mở chợ Minh Thị, theo thần nên mở rộng chợ thành thương cảng. Nhưng dựng lò gốm ở đấy thì lại không được vì thổ nhưỡng không hợp mặc dù mở lò ở đó thì tiện cho việc chuyên chở. Hiện nước ta đã có những lò gốm nổi tiếng với nhiều thợ khéo như ở Phù Lãng, Bát Tràng, Chu Đậu thì hãy cho những nơi ấy phát triển thêm lên. Thần lại nghĩ bao nhiêu đồ sành sứ lâu nay ta vẫn dùng, cái của người Ngô thì đã rõ vì có chữ ở trôn nhưng của ta thì không biết đâu là đồ Phù Lãng, Bát Tràng, đâu là đồ Chu Đậu và các nơi khác. Chẳng qua vì không có chữ ở trôn nên hạ thần thiết nghĩ cho phép thợ các nơi ai muốn đóng dấu tên mình ở các đồ mình làm ra đều được.


   Nguyễn Bỉnh Đức nói:


   - Cái đó nhà nước xưa nay không cấm mà cũng chẳng bảo là cho phép, chẳng qua thợ không muốn hoặc không nghĩ ra mà thôi. Lò gốm Chu Đậu chính là ở trấn Hải Dương, hạ thần nhiều lần đến đấy nên biết rõ như vậy. Nay nên bảo cho lò gốm ấy làm trước, các nơi khác thấy hay ắt sẽ làm theo. Cái chính là họ thấy bát đĩa của mình đẹp thì mới dám đóng dấu tên của mình vào. Việc đóng dấu là điều hay vì từ đó khiến người ta đua nhau làm cho đồ của mình làm ra tốt đẹp hơn lên.


 Vua Mạc bảo:


   - Nhân nói về sành sứ, hôm nay trẫm sẽ cho các khanh xem các thứ ấy do các triều vua trước để lại, hiện bày trong cung. Dân ta cũng tài giỏi lắm. Nhiều thứ rất đẹp và lạ, từ hình thù đến nước men đều không kém gì của người Ngô.


   Nhà vua đi trước, dẫn các quan theo sau vào thâm cung, nơi ngay các quan tam thái hàm nhất phẩm cũng chưa từng biết đến. Từ các đồ gỗ, kim khí, vải vóc cho đến đồ gốm sứ đều tuyệt mỹ. Buổi thiết triều hôm ấy do vậy lâu hơn thường lệ.


_______


(*) Tên của Nguyễn Bỉnh Khiêm hồi trẻ.


  2


   Đêm cuối tháng Hai. Gió bấc hun hút. Rét đến mức thấy tiếng động chó cũng chỉ úng oắng sủa chứ không rời khỏi chỗ nằm. Vậy mà vẫn có một đám người lặng lẽ dò dẫm trong đêm. Gần sáng họ tới được bờ hồ gần cửa Chu Tước, một người trong bọn đến sát cửa giả làm tiếng cú kêu, bên trong có tiếng cú đáp lại và cánh cửa được mở toang. Đám người lạ tiến vào, đi đầu là Nguyễn Ngã.


   Đúng như tin đồn, Lê Công Uyên, Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ Tường sau nhiều ngày đã tập hợp được mấy trăm người trung thành với nhà Lê. Vì quân ít nên họ quyết định liên hệ với nội gián, bí mật đột nhập kinh thành vào ban đêm để giết vua Minh Đức. Nguyễn Ngã nhận lệnh đi đầu, Lê Công Uyên đi giữa, Nguyễn Thọ Tường đi sau cùng.


    Nguyễn Ngã định kéo quân thẳng tới điện Kim Quang thì một tiếng pháo nổ vang rồi ba bề bốn bên đèn đuốc sáng rực, Tả đô đốc Mạc Đĩnh Khoa nói lớn:


   - Bọn Công Uyên, Nguyễn Ngã kia! Gian tế của các ngươi đã bị ta bắt cả rồi, sao các ngươi không hàng đi? 


   Lê Công Uyên từ phía sau tiến lên chưa kịp hỏi tại sao thì bốn phía đèn đuốc bỗng sáng rực, tên bắn tới như châu chấu. Lê Công Uyên vội quay ngựa chạy. Nguyễn Ngã chạy theo. Phía hậu quân, Nguyễn Thọ Tường còn đang ngơ ngác thì từ các ngả phố phường quân triều đình đổ ra chia cắt đám phản loạn ra làm hai. Hai bên đánh nhau đến sáng. Do đã tính đến chuyện tháo lui nên quân phản loạn chia làm ba toán chạy theo ba hướng thoát được khá nhiều. Nửa tháng sau những kẻ sống sót tập hợp nhau lại ở Lôi Dương, trấn Thanh Hoa. 


   Lê Công Uyên nói: 


  - Lòng dân Thanh Hoa, Nghệ An vẫn chưa quên nhà Lê nên muốn dựng cờ nghĩa chiêu tập họ không khó. Được hai nơi này thì lo gì không chống nổi quân Đông Kinh. Tuy vậy, phải có người đủ danh nghĩa để hiệu triệu thiên hạ và lập niên hiệu. Ngày xưa ngay Bình Định vương khởi nghĩa cũng phải tìm Trần Cao là con cháu nhà Trần tôn làm vua. Nhưng trước đây, do vua Uy Mục giết mấy chục người nhà Cẩm Giang vương rồi ít năm sau vua Tương Dực lại giết một lúc 15 người trong hoàng gia khiến Trịnh Duy Sản rồi Trịnh Tuy muốn làm chuyện phế lập toàn phải đưa vua nhỏ lên ngôi. Bây giờ còn tệ hơn vì muốn kiếm vua nhỏ cũng khó! Tôi nghĩ mãi mà không nhớ ra ai thuộc dòng chính thống! Hay là chúng ta không cần tìm kiếm con cái các vương gia nữa mà nhìn xuống các công hầu thử xem? Xưa vua Tương Dực vốn cũng chỉ là Giản Tu công. Trịnh Tuy lúc đầu cũng dựng Lê Bảng là con Tĩnh Tu công, sau tìm ra Lê Do là con Kinh vương mới thôi không chọn Lê Bảng nữa. Có điều giờ đây ngay cả kiếm được con cái các vị tựa như Giản Tu công hay Tĩnh Tu công cũng không dễ vì dẫu sao Giản Tu công, Tĩnh Tu công cũng đều là cháu ruột của vua Thánh Tông.


- Việc này không nên vội vàng. - Văn Thông bá Nguyễn Ngã nói.


   Sau đấy Nguyễn Ngã nói với Nguyễn Thọ Tường:


   - Bích Khê hầu lấy cớ không tìm ra ai trong hoàng tộc để cuối cùng chúng ta phải chọn ông ta chăng? Ông ta chỉ là người trong họ chứ đâu phải trong hoàng gia! Ông ta xưng niên hiệu thì làm sao có thể chiêu tập được dân chúng cơ chứ.


   Văn Sơn bá Nguyễn Thọ Tường bảo:


   - Nói đến người trong họ vua thì còn có Dực Nghĩa hầu Lê Thiệu, người châu Thuý Thuần, hiện cũng đang ở Lôi Dương. Xét về gia tộc thì Dực Nghĩa hầu còn có địa vị gần gũi dòng nhà vua hơn Bích Khê hầu. Ta thử đem Dực Nghĩa hầu gợi ý với Bích Khê hầu xem sao.


   Lê Khoáng sinh được ba con trai, con cả là Lê Học, thứ hai là Lê Trừ, thứ ba chính là Lê Lợi. Hành động của Uy Mục và Tương Dực quả là tai hại cho nhà Lê khiến sau khi vua Cung Hoàng bị mất ngôi, con cháu Lê Lợi hiện không tìm ra ai. Tuy nhiên, nhìn sang con cháu hai người anh của Lê Lợi thì vẫn có. Lê Thiệu, còn gọi là Lê Duy Thiệu chính là cháu 5 đời của Lê Trừ. 


   Hai người đem việc Lê Thiệu nói với Lê Công Uyên. Công Uyên xua tay:


   - Ta không lạ gì Lê Thiệu. Người ấy lắm tham vọng nhưng không thực tài, bụng dạ thì hẹp hòi, bấy lâu nay lại như người ngoài cuộc trong khi chúng ta vất vả vào Nam ra Bắc bao nhiêu năm để khôi phục lại sự nghiệp nhà Lê. Ai chứ Thiệu thì quyết không được. Văn Thông bá, ông nói đúng, việc này không nên vội vàng.


   Vậy nên Lê Công Uyên và đồng đảng khởi nghĩa mà không có niên hiệu. Trong khi đó chẳng hiểu do đâu Lê Thiệu lại biết Lê Công Uyên nhận xét rất tệ về mình. Thiệu gọi mấy kẻ thân tín đến nói:


   - Công Uyên bảo không lạ gì ta ư? Ta cũng chẳng lạ gì hắn! Hắn chỉ nhờ tên tuổi cha ông mà trở nên danh giá chứ đâu tài ba gì. Bấy lâu nay hỏi hắn đã làm được gì? Kẻ như vậy mà dám đứng đầu thiên hạ ư? Để hắn còn trên đời này thì ta dẫu có muốn làm gì cũng không được!


   Lê Thiệu bèn ngầm sai thủ hạ giết chết Lê Công Uyên. Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ Tường bấy giờ mới hối hận vì không ngờ Lê Thiệu lại hành động như vậy và xét kỹ thì dẫu sao Công Uyên cũng khá hơn Lê Thiệu. Đúng lúc đó quân nhà Mạc đánh lên Lôi Dương. Nguyễn Ngã,  Nguyễn Thọ Tường chán nản, bỏ mặc quân sĩ, rủ nhau trốn sang Ai Lao. Thấy không thể chống nổi quân nhà Mạc, Lê Thiệu bỏ trốn. Quân Mạc toả đi các nơi và tràn xuống phía Nam, bình định hai xứ Thanh Hoa, Nghệ An.      


                                                              *


   Lúc đó cũng là lúc khắp nơi các sĩ tử nô nức dự kỳ thi Hương. Cứ theo danh sách các nơi tâu lên thì tất cả mấy vạn người, trong đó hơn 4000 người đỗ, được dự thi Hội. Vì chiến tranh loạn lạc nên không tổ chức được trường thi cho sĩ tử hai xứ Thanh Hoa và Nghệ An. Nhà vua bảo các quần thần:


   - Trong nước nhiều nơi còn chưa yên, có nơi còn trong tay phe đảng của triều cũ hoặc bị chúng khống chế, vậy mà sĩ tử đi thi vẫn nhiều đến như vậy. Đặc biệt sĩ tử bốn trấn Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây rất đông đủ, thật xứng đáng là tứ chính trong thiên hạ. Trước đây trẫm đoán Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn cân nhắc, chưa chịu đi thi, quả nhiên đúng như vậy. Từ nay đến kỳ thi Hội, các khanh cần lưu tâm đến việc học của sĩ tử hơn nữa để sang năm cả 4000 người đều có mặt ở kinh đô dự thi Hội, không thiếu một ai. Bây giờ thì Bộ Công lo ngay việc đường sá để kịp tiết thanh minh này trẫm vào Tây Kinh dâng hương vua Thái Tổ như đã nói.


   Văn Đẩu hầu Nguyễn Chuyên Mỹ can:


   - Việc Hoàng thượng một lòng nhớ đến vua khai quốc của triều cũ thật hiếm có trên đời. Nhưng hạ thần thiết nghĩ đất Thanh Hoa, Nghệ An chưa yên, vừa rồi bọn Lê Công Uyên, Nguyễn Ngã, Nguyễn Thọ Tường lại xúi bẩy dân chúng làm loạn. Vậy nên để làm việc dâng hương ở Lam Sơn, chỉ cần đến Thượng thư Bộ Lễ là đủ.


   Một số đại thần cũng có ý can. Nhà vua nói:


   - Chính vì lòng dân chưa thuận nên trẫm càng phải tới Lam Sơn để cầu vua Thái Tổ giúp đỡ.


   Sang tháng Ba dịp tiết thanh minh, như đã hứa, vua Mạc để Thái tử  Mạc Đăng Doanh thay mình coi việc triều chính rồi cùng một số vị đại thần vào Thanh Hoa để dâng hương, sai Thượng thư Bộ Công là Nguyễn Đốc Tín và Thượng thư Bộ Binh là Mạc Ninh Bang dẫn quân đi trước mở đường.


   Đường từ Tam Điệp đến Đông Sơn dễ đi nhưng từ đấy lên Lam Sơn toàn đường núi, lâu nay lại không được tu sửa. Quang cảnh xứ Thanh không khác mấy năm trước là bao. Duy có dân chúng thì có vẻ khác, cứ nhìn ánh mắt họ là biết: Người ngơ ngác, lo sợ, kẻ hằn học, thâm thù. Thấy vậy, vua Mạc không thể không lo lắng mà nói với những người đi theo:


   - Thanh Hoa là đất căn bản của nhà Lê. Ta đánh bại Chiêu Tông cũng chính ở Thanh Hoa này, vừa rồi lại truy kích tàn dư bày đảng của Lê Công Uyên tại đây khiến dân chúng không tránh khỏi nạn binh đao, nhiều người lưu tán, ruộng vườn bỏ hoang. Dân chúng ở đây có oán hận cũng là điều dễ hiểu. Sau này thiên hạ nếu có loạn lạc lần nữa thì khởi sự chính là từ Thanh Hoa này. Các khanh nên lưu tâm.   


   Vua Minh Đức trầm thắp hương tất cả các lăng vua Lê ở Thái Miếu, đặc biệt đứng rất lâu, trầm ngâm trước Vĩnh Lăng, Chiêu Lăng và đọc rất kỹ các văn bia. Vua nói với các quần thần:


   - Lê Thái Tổ có công đánh đuổi giặc Ngô, lập quốc; Lê Thánh Tông mở mang văn hiến, đưa đất nước trở nên hùng mạnh xưa nay chưa từng thấy. Trẫm dẫu muốn noi theo hai vị ấy làm cho xã tắc ngày một vững bền nhưng vị tất đã được vì tài năng trời phú cho rẫm không thể sánh được với các vị ấy. Chỉ tiếc, con cháu hai vị đã phá sạch công lao cha ông. Còn trẫm, sau này nằm xuống các ngươi chớ có lập đàn chay cúng Phật làm gì, cũng chớ có xây lăng tẩm gì to tát làm gì, kẻo gặp hai vị đây ở tuyền đài lại bị hai vị cười chê, trách móc! Trẫm cũng có ý định ở ngôi ít lâu nữa rồi nhường cho Thái tử, để được lui về vui với trời nước, sông biển của ta như ngày nào. Những ngày ấy mới thật là của ta. 


   Các quan lo lắng đưa mắt nhìn nhau, không ai dám nói câu gì, lặng lẽ theo sau vua thắp hương tiếp ở tượng hổ phục long chầu, tượng voi, tê giác và tượng các quan hầu.


   Nhà vua hướng về phía châu Lang Chánh, nơi ngày trước đã bắt vua Chiêu Tông trên núi Cao Trĩ, bất giác thở dài nói với mọi người:


   - Đà Dương vương nếu không nghe theo kẻ xấu âm mưu diệt ta, có thể đã là một ông vua tốt; sau đấy nếu chịu làm kẻ bày tôi cho Cung đế, anh em biết bảo nhau thì cũng có thể trở thành ông quan giỏi. Thật tiếc!


   Nhà vua ban cho người dân quanh Lam Sơn rất nhiều tiền bạc để phủ dụ và họ sớm ổn định nơi ăn chốn ở.


   Tháng 10 năm đó, năm Mậu Tí (1528), Phò mã đô uý, Thái bảo Lân Quốc công Mạc Quốc Hiến và các đại thần được giao soạn tân chính sách đã hoàn chỉnh những điều Cáo dâng lên vua Minh Đức. Sau khi xem xong, nhà vua yêu cầu sửa một số điều, sao cho thể hiện được pháp trị, vẫn lấy Nho giáo làm nền tảng nhưng không quá lệ thuộc. Hình luật thời Hồng Đức nhà Lê rất sâu sắc, cần phải kế thừa. Cáo và tân chính sách phải có những điều ràng buộc hào mục các làng xã thường xuyên thu thập ý dân tâu lên triều đình, nông vi bản nhưng cũng cho mở mang chợ búa, công nghệ và thương mại... Tuy Cáo chưa được ban hành nhưng trước mắt vẫn cho đổi định phép binh, phép điền, phép lộc; đặt bốn vệ Hưng Quốc, Chiêu Vũ, Cẩm Y, Kim Ngô; các vệ, sở nội ngoại trong năm phủ; đặt tên các ty, sở; tên các quan chức và định số lượng người trong các nha môn, cốt đủ chứ không được phép nhiều.


   Lấy trấn binh xứ Hải Dương thuộc vào vệ Hưng Quốc, trấn binh xứ Sơn Nam thuộc vào vệ Chiêu Vũ, trấn binh xứ Sơn Tây thuộc vào vệ Cẩm Y, trấn binh xứ Kinh Bắc thuộc vào vệ Kim Ngô. Các vệ đứng đầu là Đô chỉ huy sứ, Phó chỉ huy sứ, đòng thời vệ đặt một viên Thư ký giúp việc, dùng hạng ký lục xuất thân, như bổ các chức thủ lĩnh mục dân.


    Mỗi ty đặt một viên Chỉ huy sứ, một viên Chỉ huy đồng tri, một viên Chỉ huy thiêm sự, 10 viên Trung hiệu, 1100 Trung sĩ. Lính Trung sĩ chiếu theo lệ chia thành phiên, mỗi phiên chia làm 5 giáp, mỗi giáp đặt một viên Giáp trưởng. Số lính này chia làm 22 phiên, thay nhau túc trực. Trung sĩ nào có công lao thì được thăng bổ các chức: Thiên hộ, Thống chế, Quản lĩnh và Trung uý. Quan đầu ty chọn trong hàng Trung hiệu.


                                                                 *


   Một năm trôi qua nhanh, thấm thoát đã đến kỳ thi Hội. Lúc này đã qua Tết Nguyên đán được hơn tháng nhưng làng nào có người lên kinh thi Hội thì không khí cứ như những ngày giáp Tết. Cả làng đến chúc mừng, nhắc nhở. Những ai nghèo còn được hàng xóm láng giềng góp tiền góp gạo. Một người đi thi nhưng đến dăm ba người đi theo, ít ra là tiễn đến đầu làng hoặc đầu huyện rồi mới về; từ đấy đến kinh đô cũng thường có người đi theo để gánh đồ đạc, lo cơm nước, đến kinh đô thì lo chỗ ăn chỗ ở để sĩ tử chỉ chuyên tâm vào việc thi cử. 


   Đường phố kinh đô trước ngày thi đâu đâu cũng thấy các sĩ tử. Đây cũng là dịp làm ăn của các hàng quán, nhà trọ, của thầy bói thầy cúng và của cả các ca nữ. Người hàng phố từ đứa trẻ con trở đi cũng nhận ra các sĩ tử bởi vẻ ngơ ngác, lạ lẫm, đầy cao ngạo nhưng cũng đầy lo lắng. Họ tụ tập đến kín cả cổng trường thi. Danh sách sĩ tử dài dằng dặc, bảng nọ tiếp bảng kia, tuy nhiều nhưng danh sách xếp theo từng huyện nên việc tìm ra tên trong bảng cũng không đến nỗi vất vả lắm. Chỗ niêm yết các chữ cần phải kiêng tránh trong bài thi cũng ở ngay bên cổng trường thi còn đông hơn nữa vì sĩ tử còn phải ghi chép để nhớ: Mục “Trọng huý dĩ hạ” dặn nho sinh không được dùng một số chữ trong bài thi, mục “Kính khuyết nhất bút” dặn họ vì kính trọng mà khi viết chữ phải bớt đi một nét, rồi mục “Khiếm trang”, “Khiếm tị”... Vì triều đaị mới nên hàng loạt điều căn dặn ấy đều mới khiến bao nhiêu điều đã được ghi nhớ từ trước đến giờ đều không còn có ích. May sao những chữ cần phải kiêng tránh không nhiều, chỉ bằng một phần mười các khoa trước.


   Hôm trước kỳ thi, Binh bộ Thượng thư là Khánh Khê hầu Mạc Ninh Bang (Nguyễn Bỉnh Đức) vào tâu, có hai sĩ tử họ Lê, một tên là Thực ở huyện Văn Giang và một tên là Tảo ở huyện Từ Liêm biết đâu chả lại là con cháu nhà Lê. Vua Mạc nói:


   - Nếu đúng như vậy thì cũng là điều mừng chứ sao!  


   Nguyễn Bỉnh Đức lại tâu sĩ tử tên là Phạm Thọ vốn không phải tên họ như thế nhưng vì là con của một đại thần triều Lê cũ, ông này quyết không ra làm quan cho triều Mạc và ngăn cản cả con ra làm quan; người con lại quyết đi thi nên người cha uất quá mà chết năm ngoái. Người con đổi tên là Phạm Thọ cho khỏi liên luỵ.


   Vua Mạc bảo:


   - Người con có một cái đúng và hai cái sai: Quyết đi thi là đúng. Nhưng  không nghe lời cha tới mức làm cha uất quá mà chết, đã vậy cha mất mới có một năm, chưa đoạn tang mà đã đi thi là cái sai thứ nhất; dám thay tên đổi họ là cái sai thứ hai. Sai nhiều hơn đúng, đáng lẽ phải cấm thi cử suốt đời nhưng xét cái tâm với triều ta nên cho giữ lại kết quả thi Hương, phạt đến khoa sau mới được thi Hội. Việc ra đề trẫm đã giao cho quan Đề điệu là Thái bảo Diễm Quốc công Mạc Kim Tiêu, việc giữ quy củ trường thi thì giao cho khanh.


   - Có người phàn nàn với hạ thần chuyện khoa này Nguyễn Giản Thanh và  Đinh Trinh đọc quyển.


   - Nguyễn Giản Thanh không những đang là Lễ Bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ mà từng đỗ Trạng nguyên; Đinh Trinh thì là Lại Bộ Thượng thư, Quốc tử giám Tế tửu. Hai người ấy đọc quyển thì còn phàn nàn gì?


   - Thần muốn nói đến Nguyễn Giản Thanh. Ông ta đúng là có năng lực mặc dù khoa thi năm Mậu thìn đáng lẽ ngôi Trạng nguyên phải thuộc về Hứa Tam Tỉnh. Tâu bệ hạ, người ta phàn nàn về điều khác.


   Khoa thi năm Mậu thìn (1508) niên hiệu Đoan Khánh đời vua Lê Uy Mục, các giám khảo chấm Hứa Tam Tỉnh, người làng Vọng Nguyệt, tên Nôm là làng Ngọt, đỗ Trạng nguyên; Nguyễn Giản Thanh, người làng Ông Mặc, tên Nôm là làng Me, đỗ Bảng nhãn. Đến khi các tiến sĩ tân khoa ra mắt nhà vua và bà Kính phi, mẹ nuôi vua, thấy Giản Thanh trông cốt cách phong lưu, mặt mũi đẹp đẽ nên Kính phi bảo: “Trạng nguyên đấy có phải không, xứng đáng quá còn gì!”. Uy Mục không muốn thay đổi kết quả thi Đình, cũng không muốn làm mếch lòng Thái phi, bèn ra đề cho các tiến sĩ tân khoa thi ứng chế. Đầu đề là Phụng thành xuân sắc (cảnh sắc mùa xuân ở kinh thành), làm theo thể phú. Giản Thanh khôn ngoan nghĩ Thái phi hẳn ít chữ nghĩa nên  làm phú Nôm, Tam Tỉnh cứ theo lệ làm phú chữ Hán. Kết quả, bài của Giản Thanh đọc lên bà Thái phi nghe đến đâu hiểu ngay đến đấy và nức nở khen hay còn bài của Tam Tỉnh, Thái phi thấy trúc trắc khó hiểu! Uy Mục đành phải lấy Nguyễn Giản Thanh  lên đỗ Trạng nguyên để chiều lòng Thái phi, còn Hứa Tam Tỉnh bị đánh tụt xuống Bảng nhãn. Chính vì vậy nho sĩ bất bình và đặt ra câu “Trạng Me đè Trạng Ngọt” để nói về chuyện ấy và gọi giễu Giản Thanh là “Mạo Trạng nguyên”. Thi cử thì như vậy nhưng sau này trên đường quan lộ càng ngày Nguyễn Giản Thanh càng tỏ ra xuất chúng hơn Hứa Tam Tỉnh.


   - Tâu Hoàng thượng, - Nguyễn Bỉnh Đức nói tiếp - người ta bảo Nguyễn Giản Thanh vốn là học trò của Đàm Thận Huy!


   - Trẫm biết, nhưng điều ấy có sao đâu. Bởi chính Đàm Thận Huy cũng được trẫm sắc phong và ban tiền bạc cho con cháu lập đền thờ đó thôi. Thuở nhỏ khanh học với trẫm, sau này trong các khai quốc công thần thì Vũ Hộ, Nguyễn Thế An và khanh có công lớn nhất. Vũ Hộ mang 3000 quân theo trẫm, giữ vững Sơn Tây, khi tiến khi lui khiến quân nhà Lê không thể rảnh tay mà đánh Hải Dương nên có người nói nhà Lê mất ngôi chính là do Vũ Hộ. Khanh thì giúp  trẫm lấy đất Hải Dương làm nơi căn bản, chăm lo dân chúng khiến lòng dân ngay từ đầu đã quy thuận, cùng đứng dưới cờ nghĩa. Nay triều đại mới cần phải quy tụ mọi người trong nước, mong khanh hiểu sâu sắc ý chỉ đó của trẫm mà hành động cho thuận. Vũ Hộ và khanh lại như chiếc gương của đương triều cho mọi người soi vào mà thấy hết vẻ đẹp của nó.


   Bên cạnh đạo vua tôi giữa vua Mạc và Mạc Ninh Bang - Nguyễn Bỉnh Đức còn có tình bạn và tình đồng môn nên để không khí đỡ nặng nề, nhà vua hỏi:


   - Trẫm nghe nói ngày trước theo học Đàm Thận Huy, Nguyễn Giản Thanh có đáp lại câu ra đối của thầy hay lắm phải không?


   - Tâu Hoàng thượng, Đàm Thận Huy có dạo mở trường dạy học. Hôm ấy  tan học thì trời đổ mưa, học trò không về được, Thận Huy mới đọc vế ra đối “Vũ vô kiềm toả năng lưu khách” và bảo học trò đối. Nguyễn Giản Thanh đối như sau: “Sắc bất ba đào dị tịnh nhân”, thầy khen hay, văn có thể đỗ trạng được nhưng sau này tất vì sắc dục mà hại đến sự nghiệp. Nguyễn Chiêu Huấn thì đối là: “Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân”, thầy bảo câu này kém sắc sảo, không hay bằng câu của Giản Thanh nhưng tỏ rõ khí chất hiền hoà, sau này cuộc sống sẽ chu toàn nhưng không nổi danh lắm. Người thứ ba xin lỗi thầy và các bạn rồi mới đọc câu của mình: “ Phân bất uy quyền dị sử nhân” (*), thầy Huy chê là thô nhưng sau này có thể dùng cái bỉ lậu mà sai khiến được người. Tâu bệ hạ, những điều bình phẩm của Đàm Thận Huy chưa thấy ứng với Nguyễn Giản Thanh nhưng đến nay quả đã đúng với Nguyễn Chiêu Huấn và người thứ ba, người này giờ đây giàu sang phú quý nên nhiều người phải quỵ luỵ nhưng cũng bị chê là thô lỗ!


Nhà vua bảo:


   - Càng nói trẫm càng thấy tiếc Đàm Thận Huy! Nhưng hai học trò Nguyễn Giản Thanh và Nguyễn Chiêu Huấn của ông ấy đều đang phục vụ đương triều nên trẫm thấy vẫn mang ơn tri ngộ của Thận Huy.


   - Tâu Hoàng thượng, đang vui thần cũng xin kể về Hứa Tam Tỉnh. Chuyện do chính ông ta nói với thần, chuyện cũng vui lắm. Học giỏi, chữ nghĩa bề bề mà Tam Tỉnh lại chịu cứng họng trước vế ra đối của một cô gái.


   Nhà Tam Tỉnh vốn nghèo, cha lại mất sớm. Một hôm ra đường gặp võng quan Tổng trấn Kinh Bắc, sau võng quan là võng tiểu thư nhà quan, thấy tiểu thư nhan sắc chim sa cá lặn, Tam Tỉnh liền xin với người khiêng võng cho mình được thế chân cốt để tha hồ mà ngắm mỹ nhân. Về nhà, Tam Tỉnh xin mẹ hỏi tiểu thư nọ làm vợ. Bà mẹ can con không nổi đành phải chiều ý. Quan Tổng trấn không chê người nghèo khó, cốt sao giỏi giang nên đòi Tam Tỉnh đến để thử tài học. Vừa thấy Tam Tỉnh, quan đã thất vọng vì anh này người vừa đen vừa nhỏ, may sao hỏi đến sách vở thì đối đáp trôi chảy. Quan mới lưu Tam Tỉnh lại nhà để dạy bảo thêm, sau Tam Tỉnh đỗ thủ khoa thi Hương, lúc bấy giờ quan mới cho thành hôn với con gái mình. Nhưng thật oái oăm, tiểu thư ra vế đối, bảo Tam Tỉnh đối được thì mới cho động phòng! Biết Tam Tỉnh ngày trước nhà nghèo, mái nhà rách nát nhìn thấy cả trời, tiểu thư mới ra vế đối: “ốc lậu nguyệt xuyên, hình như kê noãn tam tam tứ tứ”. Cái khó của câu này là bốn chữ “tam tam tứ tứ”. Tam Tỉnh không nghĩ ra, buồn và xấu hổ đến mức định ra sông trẫm mình thì thấy bóng trăng trên mặt nước làm long lanh muôn nghìn lớp sóng từ đó mà nghĩ ra vế đối sau: “Giang trường phong lộng, thế tự long lân điệp điệp trùng trùng” (**). Tiểu thư nghe xong vô cùng cảm phục, lại thấy qua vế đối chứng tỏ chồng tỏ ra khác thường, liền cho vào động phòng.


________


(*) Nghĩa bốn câu lần lượt là: 1. Mưa không có then khoá mà giữ được khách. 2. Sắc đẹp không phải là sóng gió mà làm đắm được người. 3. Mặt trăng giống như cái cung nhưng không bắn người ta. 4. Phân cứt không có uy quyền gì mà sai khiến được người.


(*)  Nghĩa đôi câu đối: Nhà thủng trăng dọi xuống, bóng như trứng gà lốm đa lốm đốm/ Sông dài gió lộng, sóng tựa vẩy rồng điệp điệp trùng trùng.


(còn tiếp)


Nguồn: Mạc Đăng Dung. Tiểu thuyết lịch sử của Lưu Văn Khuê. NXB Hải Phòng, 2007.


Bản điện tử của tác giả gửi www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »