tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
06.12.2014
Trương Tuyết Mai
Lật từng mảnh ghép

7. Âm nhạc với tuổi thơ


 Tôi được làm quen với âm nhạc từ những ngày còn nằm nôi, bằng những câu hát ru dìu dặt đêm đêm của má tôi. Bà có giọng hát rất hay, đặc biệt là hát được các điệu ru ba miền Nam – Trung – Bắc. Vào những chiều mưa gió hay đêm đông lạnh lẽo, giọng hát bà nghe càng ấm nồng, tha thiết. Có thể nói, khung trời đầu tiên cho tuổi thơ tôi mơ ước là từ câu ru của mẹ. Mỗi khi nhớ lại, lời ru và giọng hát của bà như vẫn vang lên ấm áp, dịu dàng:


- Một mai ai chớ bỏ ai


Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.


- Chiều chiều ra đứng ngõ sau


Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.


- Tưởng giếng sâu, tôi thả sợi dây dài


Ngờ đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây…


Ðặc biệt, trước và sau mỗi câu hát lại có thêm những chữ đệm: hời,hời, à ơi, ầu ơ… nghe hoài dễ buồn ngủ lắm.


Lớn hơn một chút, tôi được đón nhận làn sóng âm nhạc cách mạng vô cùng phong phú do ba tôi và các chú bộ đội truyền dạy. Họ  hát rất hay những bài như Xếp bút nghiên, Lên đàng, Hồn tử sĩ, Du kích ca, Ðoàn vệ quốc quân, Chiến binh ca vũ khúc, Bình Trị Thiên khói lửa... Nhờ vậy tôi mới biết những bài hát đó. Tôi náo nức chờ đợi ba tôi và các chú về thăm để được học thêm bài hát mới. Rồi tôi sẽ chạy đi khoe các bạn, và cùng nhau hát múa dưới đêm trăng.


Có điều gì như xui khiến tôi yêu mến những bài hát cách mạng vô cùng. Với trí tưởng tượng non nớt lúc bấy giờ, các bài hát ấy đều mang hình ảnh của ba tôi và các chú bộ đội, hùng dũng, hiên ngang trong đoàn quân chiến đấu gìn giữ quê hương.


Những bài hát ấy đã làm tôi thắc mắc rất nhiều. Tôi băn khoăn suy nghĩ mãi không biết bài hát ở đâu ra, và làm thế nào để có nó. Tôi đành thầm an ủi bằng cách tự giải thích cho mình: “Muốn làm một bài hát mới, người ta chỉ cần lấy từ nhiều bài hát cũ: mỗi bài một câu, rồi sắp xếp lại theo thứ tự mình muốn là xong”. Nhưng tôi lại không hài lòng về cách giải thích đó vì muốn làmđược như vậy thì cũng phải có những bài hát đầu tiên chứ. Vậy những bài


hát đầu tiên từ đâu ra?... Tôi thắc mắc và luẩn quẩn trong cách tự giải thích rất ngô nghê của một đứa trẻ chưa được học hành. Ðành gác lại thắc mắc của mình về sự có mặt của các bài hát, vì chẳng có ai giải thích cho tôi hiểu được tận tường.


Lúc này (1955) tôi là học sinh miền Nam tại Hải Phòng. Tôi được sống trọn vẹn tuổi thơ của mình trong tình thương yêu, chăm sóc, dạy dỗ của các thầy cô, chị phụ trách và má bảo mẫu. Tôi lớn lên tươi xanh, mơn mởn như một cây giống được chăm sóc tốt. Nhưng nỗi nhớ quê hương và người mẹ thân yêu cứ day dứt khôn nguôi.


Vốn hiền lành ít nói, tôi thích im lặng quan sát hơn ồn ào sôi nổi, nên thường bị cô giáo chủ nhiệm nhận xét trong bản danh dự dành riêng cho học sinh giỏi mỗi tháng một câu ngắn không bao giờ thay đổi: “Chưa hòa mình với bạn”. Đó cũng là điểm yếu lớn và duy nhất của tôi ở tuổi học trò.


Tính tình như vậy nhưng tôi lại có mặt trong ban cán sự lớp, với nhiệm vụ chuyên trách văn nghệ. Vào mỗi buổi học, chúng tôi phải ổn định trật tự xong trước khi thầy cô vào lớp. Tôi làm lớp phó văn nghệ, phải tạo hoạt động sôi nổi trong mười lăm phút bằng cách bắt giọng cho cả lớp hát. Hết bài này đến bài khác. Các lớp kề nhau cũng hát oang oang như ngầm thi xem lớp nào hát to và hay hơn. Số bài được hát trong các giờ ấy của học sinh miền Nam chắc nhiều vô kể. Tôi còn nhớ những bài lớp nào cũng thuộc như: Lực lượng ta, Hò kéo pháo, Giữ mãi tuổi xuân, Hà Nội - Bắc Kinh - Mạc Tư Khoa,  Nhạc rừng, Chiến binh ca vũ khúc, Giải phóng Ðiện Biên, Tiến về thủ đô v.v... Những ngày lễ lớn như mười chín tháng Năm, ngày hai tháng Chín, ngày khai giảng và bế giảng năm học, hoạt động văn nghệ của các khối, lớp càng đình đám hơn. Cả trường tràn ngập không khí náo nức, tưng bừng như chuẩn bị cho ngày hội lớn.


Những bài hát nói về miền Nam, về quê hương hay tình mẹ, tôi đều đặc biệt yêu thích và xúc động mỗi khi hát. Bài Chim ơi nhắn giúp, Miền Nam thân yêu, Con thuyền thống nhất, Ðất nước một dải, Chờ con má nhé, Nghe tiếng quê hương, Liên khu Năm yêu dấu, Du kích sông Thao, Trường chinh ca....  là những bài ruột của tôi.


Nhớ mùa hè năm 1958, tôi thi đơn ca thiếu niên toàn thành phố Hải Phòng với bài “Chờ con má nhé” của nhạc sĩ Võ Bài. Mới hát được một nửa bài tôi đã khóc nghẹn ngào trên sân khấu không thể hát tiếp. Trước mắt tôi là bóng dừa xanh, là cầu tre lắt lẻo, là con đò, dòng sông, là má tôi không còn nữa... Tất cả đều rất thực và cũng rất xa vời, cho tôi thương nhớ da diết và thiết tha gặp lại. Không ngờ ban giám khảo đã thông cảm và cho phép tôi được thi lại sau đó.


Tháng 12 năm 1958 có một kỷ niệm sâu sắc trong đời tôi. Vì đó là ngày Mỹ - Diệm sát hại đồng bào ta ở trại giam Phú Lợi. Hàng nghìn người bị đầu độc chết đau thương, oan khốc... Hòa khí thế của hàng triệu người miền Bắc xuống đường biểu tình phản đối, lên án tội ác Mỹ - Diệm, tôi cùng các bạn trong ban văn nghệ tập dượt ngày đêm để có một chương trình biểu diễn lấy tiền ủng hộ Phú Lợi. Mấy đêm liền, đội văn nghệ Hiệu đoàn trường học sinh Miền Nam số Bốn và số Sáu phối hợp với đoàn kịch nói Nam Bộ biểu diễn tại hội trường Lương Khánh Thiện thành phố Hải Phòng.  Chương trình gồm có hát, múa, kịch nói và những hợp xướng khá hoành tráng nữa. Các tiết mục tuy còn non yếu về chất lượng nghệ thuật nhưng lại rất dược cảm tình khán giả, bởi lý do đơn giản tất cả diễn viên đều là nghệ sĩ và con em miền Nam tập kết. Chúng tôi đang hướng trọn lòng mình về miền Nam. Chúng tôi hát múa, diễn kịch nói về quê hương yêu dấu, anh dũng và bất khuất của mình.


Mấy ngày sau tôi được biết khán giả đã dành tình cảm đặc biệt cho hai tiết mục hợp xướng có hiệu quả khá tốt là Con thuyền thống nhất và Ðất nước một dải. Ngoài lý do tiết mục hay, còn có một chút gì ngồ ngộ khiến người ta thích thú. Đó là đứa nhỏ quàng khăn đỏ chỉ huy dàn hợp xướng và dàn nhạc trên trăm người. Thực ra, để dàn hợp xướng biểu diễn đạt hiệu quả tốt, nhà trường đã huy động tất cả các khối, lớp tham gia, gồm những học sinh có khả năng văn nghệ, nhất là phải có giọng ca tốt, đồng thời kết hợp với hợp xướng và dàn nhạc của trường học sinh miền Nam số Sáu. Ðứa nhỏ được nhà trường chỉ định làm công việc quan trọng đó là tôi. Lần đầu tiên tôi liều mạng nhận làm một việc lớn quá sức mình, bởi trước đó tôi chỉ mới thử dàn dựng và chỉ huy hợp xướng của trường số Bốn vào mỗi chiều thứ năm hàng tuần mà thôi. May mắn sao, mọi việc đều tốt đẹp ngoài sức tưởng tượng của tôi.


* * *


Từ một đứa trẻ biết cảm nhận đôi điều trong lời ru của mẹ, biết yêu và tự hào về những hình ảnh trong các bài ca cách mạng do ba truyền dạy, rồi lớn lên hát múa với bạn bè, làm quản ca của lớp, có khi chỉ huy tập luyện và dàn dựng những hợp xướng lớn cho ban văn nghệ nhà trường. Tôi đã dò dẫm, mon men đến với âm nhạc như vậy đó. Tình yêu tôi dành cho âm nhạc ngày càng đậm đà. Đến khi tôi chợt nhận ra âm  nhạc có tiếng nói riêng thật độc đáo. Bằng âm thanh, nhịp điệu, nó có thể diễn đạt được trạng thái xã hội và tình cảm con người khi ngôn ngữ bất lực. Và tôi càng yêu âm nhạc tha thiết hơn. Tôi bắt đầu mơ mộng: “Giá như mình làm ra được bài hát, nhất định bài đầu tiên sẽ viết về má thân yêu. Bài thứ hai sẽ viết về quê hương miền Nam. Còn bài thứ ba… sẽ tính sau!”


Diễn đạt được những suy nghĩ và tình cảm của mình bằng âm nhạc thì sung sướng biết bao! Mơ ước đó đã thành niềm hy vọng thầm kín, ấp ủ trong tôi ngày càng rõ nét. Tôi muốn tự mình nói lên những điều đã nhận biết bằng ngôn ngữ âm nhạc. Nhưng để làm được việc đó thì không hề đơn giản. Con đường đi đến với âm nhạc trước mắt tôi mịt mù, thăm thẳm. Nhưng tôi biết âm nhạc sẽ luôn là ước mơ, là niềm khao khát vẫy gọi tôi không ngừng vươn tới phía trước.


PHẦN HAI-  Vào đời


8. Hà Nội một đêm mưa


            Một đêm mưa đầu mùa hạ năm 1961, chuyến tàu lửa đưa tôi từ thị xã Phú Thọ về Hà Nội đang từ từ tiến vào ga Hàng Cỏ. Tôi theo mọi người xếp hàng ở cổng bên trái nhà ga chờ nhân viên đường sắt đến soát vé trước khi được phép rời khỏi. Một số khác lại không chịu đứng vào hàng, mà chen lấn, xô đẩy tranh nhau ra trước. Mãi cũng đến lượt tôi đưa vé ra cho nhân viên kiểm tra. Tay xách valy, tôi cố gắng lách mọi người để lên thềm nhà ga, nơi có thể dễ dàng nhận ra người đến đón mình hơn. Với dáng vẻ ngơ ngác như từ trên trời rơi xuống, tôi hoàn toàn xa lạ giữa đám đông tay xách náchmang, í ới gọi nhau làm náo động cả không gian khuya khoắt.


Ánh sáng lờ mờ trước sân ga càng mịt mù hơn trong cơn mưa xối xả. Tôi cố nhìn vào bóng đêm. Những người đến đón người thân, ai cũng choàng áo mưa kín đầu trông như những khối đen di động, nghiêng qua, ngó lại tìm kiếm. Mưa chan ướt từng gương mặt. Tôi không sao nhìn rõ được người mình cần tìm - một thanh niên Sài Gòn  chưa từng gặp mặt. Tôi chỉ mới thấy qua hình mà người đó đã cẩn thận gửi để tôi dễ dàng nhận dạng, và để khỏi bỡ ngỡ khi gặp nhau. Tính toán cẩn thận vậy, nhưng dù có gửi hình trước, mưa gió thế tôi cũng phải để cẩn thận trong túi mà thôi.


           Căng mắt tìm hoài một bóng người mà chẳng chút hy vọng, tôi bắt đầu hoang mang, lo lắng và nảy ra những câu hỏi trong đầu: “ Không lẽ đã hẹn hò chắc chắn mà còn… quên? Mình sẽ phải lang thang ngoài đường suốt đêm hay sao?” Vừa nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy xây xẩm mặt mày, chân tay bủn rủn, lạnh run, bụng cồn cào rất khó chịu. Tôi vừa tự trấn tĩnh vừa mắc cỡ, bật nở nụ cười trên gương mặt nhợt nhạt, tự nói với mình: “Bệnh xấu đói hành hạ đây mà!”. Tôi thường bị tụt huyết áp mỗi khi gặp tình trạng như thế. Để chữa cấp kỳ “bệnh đói” này, tôi chỉ cần cho một cái kẹo (bao giờ cũng có sẵn trong túi áo) vào miệng một lát là yên! Rồi nhủ thầm: “Phải mau tìm chỗ nghỉ tạm qua đêm. Sáng mai sẽ tìm cách liên lạc với người đó sau”.


Ngoài thềm, người trú mưa quá đông, tôi len lỏi mãi mới đến được cửa phụ bên phải. Nhìn vào trong, tôi buộc miệng: “Trời, người đâu mà nhiều thế!”. Phòng đợi khá rộng mà hành khách đã chật như nêm. Người đứng kẻ ngồi lộn xộn. Nhiều người còn trải áo mưa xuống đất rồi nằm kềnh ra đó, cườ nói chuyện trò inh ỏi, ồn ào chẳng khác chợ vỡ, không buồn quan tâm đến những ánh mắt khó chịu đang dồn về phía họ. Ðó là hành khách từ các tỉnh xa về, chờ đợi mua vé, và chờ tàu khởi hành trên các tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng; Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội – Lạng Sơn; Hà Nội – Vinh v.v… Trong hoàn cảnh đó, tôi tìm một chỗ đứng cho tử tế đã khó, chứ mong gì có ghế ngồi.


Thật may cho tôi khi phát hiện ra chỗ còn trống phía sau một cánh cửa cách tôi không xa lắm, có thể đặt vừa chiếc valy nhỏ vào đó,. Lại tiếp tục chen lấn. Khá vất vả tôi mới len được tới nơi vì chiếc valy quá vướng víu.


Loay hoay xếp đặt chỗ xong, trước khi ngồi xuống, tôi còn ngẩng lên đưa mắt nhìn quanh một lượt nữa, với hy vọng có thể người đó cũng đang đứng trong này. Bỗng tôi cảm thấy nhột nhạt khó chịu vì một ánh mắt lạ đang đăm đăm nhìn mình rất kỳ cục. Tôi đáp trả bằng một cái nguýt xéo sắc lẹm, rồi quay hướng khác.


Vài giây sau, người ấy xuất hiện trước mặt tôi, với vẻ nhã nhặn, anh hỏi:


. - Xin lỗi, có phải cô là Trương Tuyết Mai?


Tôi nhìn người thanh niên ấy rất nhanh từ đầu đến chân, chưa biết nên trả lời thế nào. Thấy tôi có vẻ ngần ngại không muốn đáp, anh vội vàng lòn tay vào áo mưa kiếm tìm thứ gì đó trên túi áo. Bỗng anh rướn đến gần tôi, hấp tấp lên tiếng:


- Cô coi nè, có đúng hình cô không?


Tôi vội nhìn vào tấm hình anh đang chìa ra trước mặt, mừng rỡ quá, hỏi lại một cách ngớ ngẩn:


- Vậy anh đúng là người đến để đón tôi rồi; anh tên gì nhỉ?


          - Tôi là Thành Lang. Cô không thấy giống trong hình hay sao?


 - À, cũng hơi giống, nhưng tôi vẫn sợ nhầm anh ạ. Anh mới tới hả?


 -Tôi tới lâu rồi. Vì mưa quá và ánh sáng chỉ lờ mờ nên không thể nhận ra cô sớm hơn.


- Tôi cũng đợi anh khá lâu rồi. Không ngờ mưa to gió lớn quá vậy.


- Tôi đã nghĩ chỉ còn cách chờ cho mọi người về bớt, thưa người hơn, thế nào tôi cũng tìm được Tuyết Mai.


- Nhưng ai cũng mặc áo mưa sùm sụp, làm sao anh nhận ra được tôi.                                                                                 


- Tôi sẽ đến trước mặt từng người con gái để hỏi, giống như đang đứng trước mặt Mai lúc này vậy.


- Anh dám chọn cách đó chứ tôi thì không đâu.


- Con gái thì không dám thật. Lúc chưa gặp được tôi chắc cô lo lắm phải không?


- Dạ, đúng vậy.


- Giờ ổn rồi. Cô còn cảnh giác nữa không?


- Con gái tới xứ lạ lần đầu mà anh.


Bỗng anh đổi cách xưng hô:


- Anh hiểu nên mới đi đón em rất sớm đó.


- Dạ, cảm ơn anh.


Tự nhiên anh Thành Lang nhìn vào mặt tôi hỏi ý kiến, có vẻ cầu thị lắm:


- Mai có muốn về luôn bây giờ không, hay chờ mưa tạnh hẳn?


- Về đi anh, đằng nào em cũng bị ướt hết rồi. Nhà cách đây xa không ạ?


Anh Lang vừa giúp tôi lách mọi người để ra trước thềm, vừa trả lời:


- Xa lắm. Em đứng chờ ở đây, anh ra gọi xích lô nghen.


Vừa dứt lời, anh chạy vụt ra ngoài, mất hút vào bóng đêm.


Mưa vẫn còn lất phất. Tôi ngửa mặt lên trời đón những giọt mưa rơi nhè nhẹ. Tôi hít vào thật sâu rồi thở ra từ từ để xả hết những căng thẳng, những lo lắng nặng nề. Một nụ cười thoáng trên môi cùng ý nghĩ ngồ ngộ: “Chưa gì đã xưng hô anh anh em em, không còn cô cô tôi tôi như ban đầu nữa. Nhưng giọng Sài Gòn nghe ấm áp, dễ chịu ghê!”.


Xe mới chuyển bánh khoảng hơn một cây số, tôi bỗng nghe anh bảo người đạp xe dừng lại, anh xuống trước rồi quay lại đỡ valy cho tôi:


- Em xuống xe đi, tới nhà rồi.


Tôi ngạc nhiên:


- Ủa, sao anh nói nhà cách xa lắm?


- Anh thấy Mai căng thẳng quá nên nói đùa chút cho vui thôi.


- Nếu trong thư anh chỉ dẫn rõ, em đã tự tìm được đường về - vì có xa xôi gì đâu.


- Tuy không xa nhưng ai lại để Mai một mình ngơ ngác nơi đất lạ vậy, coi sao được. Không sao đâu, em đừng ngại. 


Anh Lang trả tiền cho người đạp xích lô, rồi với tay lên cổng bấm chuông. Trong khi chờ mở cổng, anh tranh thủ dặn dò tôi:


- Ðây là nhà số 26 đường Cột Cờ, em nhớ nghen. Vào phòng nghỉ ngơi một chút rồi anh sẽ đưa em đi ăn tối. Chắc đói bụng dữ lắm rồi hả?


Tôi nghe câu hỏi đó mà trong bụng mừng rơn, nhưng vì mắc cỡ, nên chỉ “dạ” một tiếng khẽ.


* * *        


            Căn phòng nhỏ của tôi nằm cạnh buồng ngủ chú Tăng Lộc, Trưởng phòng giáo vụ trường Âm nhạc Việt Nam thời đó. Chú là người miền Nam tập kết, tuy đã nhiều tuổi nhưng còn rất phong độ. Chú Tăng Lộc đặc biệt quan tâm và rất thương học sinh miền Nam.


Giảng viên trường Âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ thật hiếm hoi mới có người miền Nam. Chỉ có anh Phước Sang dạy violon; cô Thái Thị Liên dạy piano; anh Thế Bảo, anh Thành Lang dạy ký xướng âm và lý thuyết âm nhạc. Cô Thái Thị Liên thì ở nhà riêng cùng với gia đình, ngõ Cấm Chỉ. Số còn lại đều là hộ độc thân. Có lẽ vì thế, các anh đã được nhà trường ưu tiên sắp xếp ở tại cơ sở trung tâm này. Ngày đó, hai chữ “ưu tiên” hay được áp dụng cho người miền Nam tập kết. Người miền Bắc có thể chịu thiếu thốn mọi bề, nhưng không bao giờ để cán bộ và con em miền Nam lâm vào cảnh đó.


Ðã hơn bảy giờ sáng mà khu nhà 26 Cột Cờ vẫn còn im ắng, không thấy ai dậy tập thể dục. Cổng vẫn còn đóng kỹ, chắc chưa có người nào ra phố. Hôm nay chủ nhật, nên mọi người muốn tranh thủ nghỉ ngơi để lấy lại sức sau một tuần làm việc vất vả. Và một giấc ngủ cho đầy mắt thì không gì thích thú bằng.


          Tôi tha thẩn dạo quanh khu nhà. Bóng những cây sấu ngoài vỉa hè đổ dài xuống sân mát rượi. Nắng sớm xuyên vòm lá tạo nên muôn ngàn tia ngũ sắc lấp lánh, ban mai càng thêm rực rỡ, đáng yêu. Tôi chợt nhớ đến bữa ăn đêm qua, rồi mỉm cười một mình… Anh Lang chở tôi bằng chiếc xe đạp Diamant, loanh quanh trong mưa một lúc lâu vẫn không tìm được tiệm ăn,  đến quán nào họ cũng bảo hết món, hoặc sắp đóng cửa. Cuối cùng anh đưatôi đến ngõ Cấm Chỉ rồi nói: “Ở đây có mấy quán ăn bán rất khuya, hy vọng sẽ còn thứ gì đó cho anh em mình”. May quá, vài quán phở còn mở cửa. Tôi mừng thầm: “Vậy là không phải ngủ đói rồi”.


          Trong lúc chờ đợi người đem phở tới, anh Lang trao đổi với tôi về chương trình luyện thi. Anh sẽ trực tiếp hướng dẫn tôi luyện hai môn học xướng âm và ký âm. Song song với ký xướng âm, tôi còn phải học thêm môn lý thuyết âm nhạc. Anh Lang nói: “Chắc Mai nên là thí sinh năng khiếu, chứ không nhất thiết phải thi một nhạc khí cụ thể. Vì thời gian gấp quá, không đủ đảm bảo cho em học thêm một thứ đàn nào”. Thấy tôi lộ vẻ băn khoăn, anh nói thêm: “Nếu năng khiếu mình thật tốt thì vẫn có thể trúng tuyển. Hơn nữa em là học sinh miền Nam, Bộ Văn hóa đang chủ trương đào tạo một thế hệ nghệ sĩ sẵn sàng khi cách mạng miền Nam cần đến”.


Anh Lang nói say sưa, rất nhiệt thành toàn những điều tôi đã biết, vì trong các lá thư trao đổi trước đây, anh đều đã nói rồi. Người chủ quán đem phở đến bàn từ lâu nhưng cả hai đều chưa đụng tới. Anh như không muốn tôi ăn, mà muốn tôi lắng nghe từng lời anh nói. Tôi chống hai khuỷu tay lên bàn, đưa tay che miệng, tủm tỉm. Tôi giấu nụ cười mà anh vẫn không để ý, vẫn mải mê theo dòng suy nghĩ của mình, rồi chợt ngưng lại hỏi:


- Nếu trúng tuyển năng khiếu, em muốn chọn chuyên môn nào? Môn được chọn sẽ là nghề nghiệp, sẽ theo em suốt cuộc đời đấy.


Tôi suy nghĩ một lát rồi trả lời:


- Em thích học sáng tác, học piano, học violoncello và học hát.


Vừa dứt lời, anh Lang đã cười phá lên trong sự ngỡ ngàng của tôi:


- Sao vậy, em nói sai điều gì à?


- Anh cười là vì thấy em tham lam một cách hồn nhiên quá. Có nhiều môn học để em chọn làm chuyên môn chính, nhưng mỗi học sinh chỉ được chọn một thôi. Môn học chính cùng với bảy tám môn về kiến thức âm nhạc cũng đủ khiến em vất vả lắm rồi. Và còn chương trình văn hóa cấp trung học nữa. Học cho giỏi từng ấy môn thật không dễ dàng chút nào đâu em. Rồi phải xem xét em có đủ điều kiện tự nhiên để theo học môn đó không. Ví dụ như học kèn thì răng, môi của em phải tốt, không bị hô, không bị khập khiễng. Học piano mà ngón tay em ngắn, hoặc mảnh khảnh quá cũng không được. Còn học hát thì phải xem giọng em có phát triển lâu bền, có khả năng tồn tại lâu dài với nghề hay không v.v… 


Chợt anh chuyển giọng, lúng túng:                                


- Thôi chết, anh xin lỗi. Mải mê quá nên anh nói hoài không dứt. Em ăn đi, phở nguội hết rồi.


Hai tô phở không còn thơm ngon bốc hơi nghi ngút nữa. Tôi cũng không thấy cần ăn vì đã qua cơn đói, nhưng cũng phải cố gắng ăn hết. Vừa ăn, chúng tôi vừa tiếp tục chuyện trò.


Sáng tác âm nhạc là công việc tôi yêu thích nhất. Từ hồi còn nhỏ tôi đã mơ ước lớn lên cố gắng học hành để thực hiện điều đó. Có gì khó khăn hay sao mà không nghe anh Lang nhắc tới. Muốn anh giải đáp thắc mắc ấy, tôi ngẩng lên vừa hỏi vừa hồi hộp:


- Vậy em muốn học sáng tác, có được không anh Lang?


- Nguyện vọng của Mai rất hay đấy, nhưng vướng một số trở ngại quan trọng. Ðó là hồ sơ dự thi của thí sinh sáng tác bắt buộc phải có tác phẩm kèm theo. Tỷ lệ phân bổ cho khoa này rất hạn chế nên chỉ dành cho đối tượng được trúng tuyển là cán bộ đi học, đã có tác phẩm được thử thách. Cũng có thể người trúng tuyển không phải là cán bộ đi học, nhưng kết quả thi phải thật xuất sắc em ạ.


Tôi ỉu xìu, thất vọng:


- Nhà trường yêu cầu cao vậy, nguyện vọng của em sao thực hiện được! Em chưa học âm nhạc bao giờ, làm sao có tác phẩm đã được thử thách chứ.


- Anh thấy em nên chọn học một nhạc cụ thích hợp nào đó. Sau này nếu vẫn còn thích sáng tác thì em sẽ có nhiều thời gian để chuẩn bị thi những khóa sau. Anh chỉ lo em không đủ sức để theo đuổi nguyện vọng tới cùng mà thôi.


          Tôi đành thỏ thẻ tâm sự với anh:


- Anh Lang biết không, từ nhỏ em đã rất mê ca hát. Mỗi lần được ba em, hay các chú bộ đội dạy cho một bài hát mới là em thích lắm, phải chạy đi khoe với bạn bè ngay tức khắc. Có lần em đã hỏi ba: “Những bài hát ở đâu ra mà hay quá vậy ba?” Ông vừa vuốt tóc em vừa nói: “Nhờ các nhạc sĩ sáng tác ra đó con”. Em tiếp tục hỏi tới: “Sáng tác là sao? Nhạc sĩ là gì hả ba?”. Ông vẫn kiên trì giảng giải: “Làm ra bài hát, người ta gọi là sáng tác. Người sáng tác ra bài hát, người ta gọi là nhạc sĩ”. Em vẫn chưa hết thắc mắc: “Con muốn làm ra bài hát thì sao ba? Có khó lắm không?”. Ông lại chậm rãi, từ tốn trả lời: “Phải có nghề mới làm được con à, ba nghĩ chắc không dễ đâu. Con ráng học hành, mai mốt lớn lên rồi tính”.


Ba em đã nói như vậy đó. Tuy hồi ấy em còn rất nhỏ, chưa hiểu, chưa hình dung được những điều ba nói nhưng em đã mơ màng thầm ước lớn lên sẽ làm được điều kỳ diệu đó. Bây giờ anh nói vậy, em hiểu ra ước mơ của mình không thể nào thực hiện được rồi.


Anh Lang như hiểu nỗi thất vọng của tôi, nhẹ nhàng an ủi:


          - Em còn trẻ, cứ nuôi dưỡng ước mơ đi, anh tin đến một ngày nào đó em sẽ toại nguyện.


          - Cảm ơn anh đã động viên. Em sẽ nuôi dưỡng mơ ước ấy. Hy vọng sẽ có ngày nó biến thành sự thật…


* * *


Chợt tiếng anh Lang vang lên rất gần sau lưng, khiến tôi bị cắt ngang dòng hồi tưởng:


          - Chào Tuyết Mai, em ngủ ngon không? Chủ nhật tụi anh thường ngủ dậy muộn lắm.


          - Dạ em ngủ cũng được. Sáng ra thấy khỏe nhiều rồi.


         - Anh lo em lạ chỗ khó ngủ, nhưng em ngủ được là tốt lắm. Em chờ một lát, anh lên gọi Thế Bảo dậy, rồi cùng đi ăn sáng nghen.


          - Dạ được.


          Anh Lang chạy rất nhanh lên lầu, còn tôi một mình đi lòng vòng quanh sân. Vẫn chưa có cánh cửa phòng nào hé mở. Chẳng lẽ giờ này mọi người vẫn còn say giấc? Thời gian biểu của người Hà Nội kể cũng lạ thật.


Tôi đến bên cổng, áp má vào song sắt nhìn ra đường. Nhịp sống một ngày mới đã bắt đầu, người qua kẻ lại cũng nhộn nhịp dần lên. Ngắm mãi cũng chán, tôi quay vào trong, tiếp tục đợi.


Ngôi nhà là một vila xinh xắn, xây cất theo kiến trúc Pháp đầu thế kỷ hai mươi. Nhà nằm trên một thế đất rất lạ, giống như mũi con tàu, bên trái thân tàu là đường Cột Cờ, bên phải là đường Trần Phú. Cổng chính rất đẹp, nằm đúng vào nơi tiếp giáp của hai con đường ấy. Cổng này hầu như được đóng kín thường xuyên. Căn nhà khá lạ vì cổng phụ hóa thành cổng chính, nhìn ra đường Cột Cờ, mở vào khoảng sân không rộng lắm để vào tòa nhà chính và các phòng phụ khác của khu nhà 26.                                      


Từ ngoài đường nhìn vào khu nhà, bên phải là dãy nhà phụ gồm các phòng không lớn lắm. Chỉ phòng chú Tăng Lộc là rộng rãi khang trang hơn cả. Năm phòng còn lại đều nhỏ xinh giống nhau. Có lẽ trước đây chủ nhà đã xây dãy phòng ở này cho những người quản lý, lái xe và giúp việc. Ở đây có một phòng tắm và một phòng vệ sinh cho tất cả những người ở tầng trệt dùng chung. Hơi bất tiện, nhưng với Hà Nội lúc bấy giờ, được vậy là tốt lắm rồi.


Tôi tò mò vòng ra phía sau phòng tắm để tiếp tục “khám phá”. Khi ngước nhìn lên, tôi bất ngờ thốt lên: “Ôi, tuyệt quá!”. Trên đầu tôi là vòm lá bồ đề xanh rười rượi, tỏa bóng mát khắp một khoảng sân của nhà số 26. Bóng mát vượt qua phía sau tường, trùm sang ngôi nhà số 24 của hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận. Không biết cây bồ đề ấy được trồng từ bao giờ mà thân cây to hai ba người ôm mới hết. Rễ cây như những sợi dây dài, từ trên cao buông xuống đất. Có những chiếc rễ to hơn cổ tay tôi, trẻ con tinh nghịch có thể bám vào đó leo lên cao mà không sợ bị đứt.


Ấn tượng nhất là vòm lá bồ đề xanh thắm. Những chiếc lá to hơn lòng bàn tay với cuống lá nhỏ xíu, yếu ớt. Chỉ cần gió thoảng nhẹ qua là ngàn vạn chiếc lá lay động, lao xao như đang vui với mây, reo với nắng, hay đang vẫy gọi ai đó một cách thật đằm thắm, nhẹ nhàng. Tôi miên man trong sự dịu dàng quá đỗi ấy của một ban mai Hà Nội. Tôi bỗng tin vào sự thanh khiết của cuộc đời. Có lãng mạn hay ngộ nhận quá không nhỉ? Ồi! Tôi mới mười bảy tuổi. Cuộc đời đối với tôi như một trang giấy mới, trắng tinh.


* * *


- Tuyết Mai ơi, em đâu rồi? Tụi anh đang đợi em đấy.


Tiếng gọi của anh Lang làm tôi giật mình thoát khỏi cơn mơ mộng. Chắc các anh đã tìm tôi lâu lắm. Tôi vội vàng chạy ra phía trước:


- Dạ, em đây ạ.


Anh Lang tròn xoe mắt, vẻ rất ngạc nhiên, hỏi dồn:


- Em ra phía sau làm gì vậy? Cần tìm nhà vệ sinh phải không? Anh xin lỗi đã quên không chỉ dẫn cho em.


Tôi mắc cỡ quá, chỉ biết tủm tỉm cười:


- Dạ không, em đã biết nó ở đâu rồi.


- Vậy em ra sau làm gì đó?


- Em đã có bạn rồi. Tuyệt lắm! Nếu em không ra phía sau thì không thể gặp được. Em sẽ giới thiệu. Hai anh theo em nhé!


Dứt lời, tôi hồn nhiên chạy trước dẫn đường. Hai anh Thế Bảo và Thành Lang cũng không giấu vẻ tò mò, bước theo tôi. Ðến nơi, anh Thế Bảo nhìn quanh quất, rồi lên tiếng hỏi:


- Có thấy ai đâu?


Tôi mới đến đứng sát cây Bồ Ðề, dang rộng hai tay vừa ôm thân cây vừa nói:


- Giới thiệu hai anh, đây là bạn của em. Mới quen nhưng thân thiết lắm.


Hai người ngơ ngác nhìn nhau, anh Thế Bảo còn nhún nhẹ một bên vai tỏ ra không hiểu:


- Tụi anh tò mò lắm đấy, chắc em sẽ giải thích sau nghen. Bây giờ cũng muộn rồi, mình phải đi ăn sáng rồi còn tới nhiều nơi nữa.


Anh Lang nhanh nhẹn tiếp lời:                                    


- Anh em mình đến Lý Quốc Sư ăn phở rồi đi chơi vườn Bách Thảo. Ở đó có nhiều cổ thụ, bóng mát, nhiều thảm cỏ xanh, có cả thú quý nữa đấy. Thiên nhiên ở đây rất tuyệt. Trưa về ăn ở quán cơm Tân An. Buổi chiều sẽ đi ngắm cảnh Hồ Hoàn Kiếm rồi đến phố Tràng Tiền ăn kem. Kem Tràng Tiền ngon nổi tiếng đó em. Tuyết Mai thích đi thăm những đâu nữa thì tụi anh sẽ đưa em đi. Ðừng ngại nhen.


- Cám ơn hai anh. Mới ngày đầu tiên mà các anh muốn đưa em đi nhiều nơi vậy, sợ không đủ thời gian đâu.


Anh Thế Bảo có vẻ sốt ruột:


- Thôi được rồi, lát nữa mình bàn sau. Bây giờ em chờ ở đây, tụi anh vô lấy xe…


Ba anh em tôi trên hai chiếc xe đạp, thong dong trên đường phố Hà Nội giữa sớm mai thanh bình dưới bầu trời trong xanh. Sau cơn mưa đêm qua, đường phố mát rượi, và nắng sớm làm gió cũng dịu dàng hơn. Tôi bị choáng ngợp giữa Hà Nội đô hội, phố xá tấp nập với bao sắc màu lộng lẫy. Nhưng ấn tượng tôi nhất là vẻ đẹp của người Hà Nội.


Quả thật, con trai Hà Nội thuở ấy sao có vẻ thanh nhã, lịch thiệp thế. Còn con gái Hà Nội thì gương mặt nào cũng sáng trưng, đầy vẻ tự tin. Trông rất dịu dàng lịch lãm.


Tôi bỗng đưa mắt tự ngắm mình rất nhanh từ trên xuống dưới: Quả là thô kệch! Chẳng có gì ngoài bộ bà ba đen với ống quần thật rộng, chiếc khăn rằn quấn cổ, một đầu khăn luôn được vắt ngược ra phía sau. Gương mặt bầu bĩnh, chân mày rậm rịt trên đôi mắt đen tròn, luôn mở to ngơ ngác, lạ lẫm với tất cả. Thấy cái gì hay và đẹp, là đôi mắt ấy chỉ đăm đăm như muốn dán vào. Cũng đâu có gì lạ, tôi là con gái miền Nam từ quê ra tỉnh, huống chi bây giờ ra tới tận Thủ đô Hà Nội! Lạ lùng là tôi không cảm thấy xấu hổ hay mặc cảm về sự thô kệch, cục mịch của mình, mà cứ hồn nhiên như hoa đồng cỏ nội. Hình như tôi chỉ cần vui và hài lòng với lời nhận xét của một người là đủ.


          Còn nhớ có lần, người bạn đó ngồi rất gần bên tôi, nói:


- Anh đã quan sát lâu rồi nên mới nói điều này: “Hình như trong đôi mắt luôn mở to của Mai có ẩn chứa điều gì lạ lắm, nó vừa thăm thẳm buồn, lại vừa có vẻ rất kiêu hãnh.”


Tôi thầm nghĩ: “Buồn thì có thể đúng, chứ kiêu hãnh thì… nhóc con như tôi đã làm được gì nên chuyện mà dám!”. Quả thật tôi chẳng biết mình kiêu hãnh về điều gì. Chắc người đó muốn tôi vui nên nói vậy. Nhưng bức ký họa sơ sài ấy về tuổi mười bảy của tôi, không hiểu sao cũng đã từng khiến không ít chàng trai một thời phải ngơ ngẩn, liêu xiêu.


9. Tiệm cơm Tân An


Trưa chủ nhật, tiệm cơm Tân An phố Hàng Bông Hà Nội luôn đông nghẹt người. Những người miền Nam tập kết ở Hà Nội rất thích tới đây ăn cơm tháng, vì tiệm này có nấu các món ăn đặc trưng miền Nam như canh chua cá lóc, cá kho tộ, thịt kho tàu, khổ qua hầm nhồi thịt. Vào ngày lễ hoặc chủ nhật, tiệm còn có thêm món gà xé phay và chè trôi nước. Ai thích ăn món gì của quê hương cũng có. Khách tới tiệm cơm này đủ mọi thành phần, có cả trí thức và nghệ sĩ. Nhiều người còn đưa bạn bè tới đây ăn để giới thiệu món ngon của quê mình. Một nơi chốn ẩm thực độc đáo như vậy giữa lòng Hà Nội dĩ nhiên luôn đông khách.


Trong không gian chật chội chỉ đặt được hơn mươi bộ bàn ghế, mọi người chen chúc nhau chẳng còn chỗ ngồi. Bữa cơm đầu tiên, tôi được các anh phân công lo việc bàn ghế. Nhìn quanh không thấy chiếc bàn nào còn trống, ba anh em đành đứng nép bên tường, cạnh một bàn ăn khách sắp đứng lên. Anh Thành Lang nghiêng đầu qua tôi nói nhỏ:


- Tuyết Mai đứng chờ ở đây nghen. Khi khách đứng lên, em phải ngồi xuống chiếm chỗ và giữ mấy cái ghế ngay. Tụi anh đi xếp hàng lấy cơm và đồ ăn nha.


Tiệm cơm không có người phục vụ, nên thực khách phải tự làm mọi việc, từ lấy chén đũa đến bưng thức ăn. Quán nhỏ, người đông, lại phải len lách chen lấn với cơm canh trên tay, trông rất lộn xộn. Ăn xong, mọi người phải vào góc phía trong để lấy tăm xỉa răng và xếp hàng uống nước; nơi ấy có một thùng thiếc nhỏ đã pha sẵn trà, được đặt trên một bàn gỗ hình chữ nhật, cùng những chiếc ly thủy tinh nhỏ.


Tuy tôi rất ngại ngùng trước đám đông, nhưng được giao nhiệm vụ thì phải nghe và làm theo, không thì biết chừng nào mới được ăn. Hơn nữa, cả buổi đi chơi lang thang, ba anh em cũng thấm mệt và đói lắm rồi.


Bữa cơm diễn ra trong nóng bức, ngột ngạt và tiếng cười nói ồn ào. Ai cũng nhễ nhại mồ hôi, khó lòng thưởng thức được món ngon cho tử tế.


Anh Thế Bảo thấy tôi có vẻ ái ngại, lên tiếng an ủi:


- Ngày thường ở đây dễ chịu hơn, không đông đúc ồn ào vậy đâu.      


- Dạ, không sao, anh đừng lo cho em.


Rồi bắt đầu từ chiều hôm đó cho đến nhiều tháng sau, bữa ăn nào cũng có mặt chúng tôi ở đây. Đúng như anh Thế Bảo nói, trừ ngày chủ nhật được nhiều thực khách chiếu cố, ngày thường đến quán cơm này đa số là người ăn cơm tháng. Họ mê những món ăn Nam Bộ mà bà Tư đặc biệt lưu ý để chiều khách.  Họ thường là người lịch lãm, nên không khí trong quán cũng trật tự và yên tĩnh hơn; người ta có thể nghe được khách ở bàn bên cạnh chuyện trò.


Như mọi hôm, tôi giữ bàn và xếp ghế trong khi anh Thành Lang, Thế Bảo và Lê Đức Thiện đi lấy chén đũa và thức ăn. Nhiệm vụ tôi đã xong mà các anh vẫn chưa đến lượt. Tôi ngồi chờ, bâng quơ hờ hững nghe loáng thoáng những câu chuyện chung quanh.


Bỗng một người đàn ông ngoại quốc bước vào quán, lẳng lặng tiến sâu vào phía trong để qua một phòng khác. Hình như chủ quán có dành một bàn riêng cho ông thì phải. Sự xuất hiện và thái độ lạnh lùng bất cần không chào hỏi ai của người khách này làm cho không khí trong quán đột nhiên xôn xao khác hẳn mọi khi. Người ta tò mò đặt ra những nghi vấn. Có vài người ra vẻ biết chuyện, hạ thấp giọng rì rầm to nhỏ trả lời.  


- Người này là ai vậy? Tại sao đến đây ăn?


- Ông này là người Pháp, đã ăn cơm tháng ở đây lâu nay. Chắc từng sống nhiều năm ở miền Nam nên hợp khẩu vị các món ăn ở đây.


- Là “Tây thất trận”[1] hả? Sao trông phong thái có vẻ đàng hoàng vậy?


- Ông này là trí thức chứ không phải “Tây thất trận”. Nghe nói có nhiều công trạng với dân mình lắm.


Một người đàn ông khác, vẻ mặt hằm hằm nói xen vào:


            - Công trạng gì tui không cần biết, hễ thấy thằng nào mắt xanh mũi lõ là tui ghét lắm, chỉ muốn xông vô “quánh” chết cha nó. Vì tụi nó mà gia đình, xóm làng tui tan hoang.


            - Bình tĩnh đi ông, không phải người Pháp nào cũng ác với mình đâu. Cũng có nhiều người tốt và hết lòng với dân mình đó chứ!


Một người đàn ông khác kéo ghế từ bàn mình qua ngồi góp chuyện, có vẻ thân thiện và thán phục:


- Nghe nói Bác Hồ rất quý người này, đặt cho tên Việt là Đại Đồng đấy.


Một người khác cướp lời, đầy vẻ hằn học:


- Trông bộ điệu đi vô mà không thèm nhìn ngó ai là tôi không ưa rồi. Đã bị mình đánh cho te tua, đại bại rồi còn gì đâu mà làm bộ làm tịch.


- Ông suy nghĩ hẹp hòi và cố chấp quá. Bộ dạng chỉ là bề ngoài, không nói lên được tính cách của người ta. Hơn nữa, ai cũng biết có nhiều người Pháp rất ủng hộ cuộc kháng chiến của mình. Ông này là một trong những người này đó.


 “Thì ra vậy!” Tuy chỉ nghe lõm bõm được vài câu nhưng tôi có cảm giác như đã hiểu sơ sơ về người này. Không biết có phải vì thái độ đường hoàng, đầy vẻ tự tin của ông hay không mà trong đầu tôi lúc ấy đã có sự khẳng định: “Đó là một người tốt!”.


                                                            * * *


Tôi còn nhớ rất rõ lần đầu tiên tiếp chuyện với ông. Hôm đó là ngày thứ ba, bữa ăn trưa lần thứ năm của tôi tại tiệm cơm này. Sau khi sắp xếp ngay ngắn bàn ghế đủ cho bốn anh em, tôi chống tay lên bàn, tựa cằm lên những ngón tay đan vào nhau, chăm chú quan sát phòng ăn và thực khách chung quanh; chờ mấy anh đem thức ăn tới để bắt đầu bữa cơm. Đang mải mê theo dõi những phát hiện ngồ ngộ diễn ra chung quanh, bỗng người đàn ông mắt xanh ấy xuất hiện sát bên tôi lúc nào không biết. Ông xin phép được ngồi cùng bàn khiến tôi vô cùng lúng túng, ngượng nghịu nhìn ông ấp úng:


            - Dạ thưa, bàn đã đủ người rồi ạ.


- Xin lỗi, tôi không ngồi lâu đâu. Muốn được nói chuyện với em một


chút thôi. Em cho phép?


            Tôi ngại ngùng nhưng vẫn lịch sự đáp:


- Dạ được ạ, mời ông ngồi.


            Tôi ngoài mặt ra vẻ bình tĩnh nhưng trong lòng thì run thật sự. Có lẽ mặt tôi khi ấy tái mét không còn hột máu. Ðầu tôi bưng bưng khó chịu: “Tại sao? Tôi biết gì mà nói chuyện với ông? Ông là Tây chính cống mà. Có gì liên quan với tôi đâu chứ”.                                                                                       


Ông ngồi xuống đối điện, thân thiện nhìn tôi cười hiền hòa giống như  đã quen nhau từ lâu. Rồi nhỏ nhẹ nói với tôi bằng tiếng Việt vẫn còn lơ lớ:


- Không sao đâu, em đừng ngại. Tôi muốn đến gặp em từ ngày hôm qua, nhưng không kịp. Sau khi uống nước, em và những người bạn ra về nhanh quá. Không muốn đường đột nên tôi đành ngồi lại.


            Tuy có lúng túng nhưng tôi cũng cố gắng trả lời từ tốn:


            - Xin lỗi, dạ… thưa ông là…? Ông cần gì không ạ?


            - Tôi là Boudarel. Georges Boudarel[2]. Tên Việt là Đại Đồng. Tôi không cần gì cả. Chính bộ bà ba đen, mái tóc và đôi mắt em đã khiến tôi phải đến xin phép nói chuyện. Em mặc bà ba đẹp lắm.


Tôi ngờ vực, ngần ngại hỏi lại:


- Ông nói nghe lạ quá. Sao một người Âu lại để ý một cô gái Việt mặc bà ba. Chắc có điều gì đó khiến ông liên tưởng, phải không ạ?


- Tôi từng ở Nam Bộ nhiều năm. Em làm tôi nhớ đến những nơi mình đã sống và làm việc. Giữa thành phố Hà Nội, em rất đặc biệt với bộ bà ba đen này đấy.


Tôi đã hiểu ra phần nào và tủm tỉm cười, tuy vẫn còn ngỡ ngàng khi nghe anh trả lời. Dù muốn dù không, tôi cũng phải lịch sự tiếp tục chuyện trò với anh như có thể:


            - Dạ, cảm ơn ông. Nhưng xin lỗi, tôi chưa được biết gì về…      


- Tôi từ Pháp qua Việt Nam, dạy học ở trường Marie Curie Sài Gòn từ cuối những năm bốn mươi, rồi theo Việt Minh đi kháng chiến. Tôi đã từng phục vụ tại Đài phát thanh Sài Gòn Chợ Lớn Tự do ở chiến khu Đ, rồi sau đó ra chiến khu Việt Bắc. Tôi đang làm việc ở Nhà xuất bản Ngoại văn và Ban tiếng Pháp Đài Tiếng nói Việt Nam… Em cần biết thêm gì về tôi nữa không?           


Tôi bẽn lẽn nhìn anh:


- Dạ, cảm ơn ông.


 Khi hỏi tôi câu cuối cùng, anh nhìn tôi đầy thiện cảm, đuôi mắt nheo lại như cười. Trời ơi trời! Tôi hoang mang chẳng biết phải hiểu thế nào nữa. Hình như “Người Mắt Xanh” chỉ mong đến ngồi bên tôi để khai lý lịch. Mà phải khai vội vàng cơ! Chắc muốn tôi nhanh chóng biết mọi điều về anh, như sợ không còn cơ hội nào khác. Tôi chưa kịp nói gì thì anh nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng chân thành:


              - Tạm biệt em. Đừng lo lắng nhé. Sẽ gặp lại sau.


Nói xong không chờ câu trả lời, anh đứng lên nhìn tôi mỉm cười rồi đi thẳng vào bên trong. Ngay sau đó có mấy người đàn ông tự tiện ngồi vào bàn tôi, hạch hỏi với một giọng đầy ác cảm: 


- Cô là ai? Sao quen thằng đó? Nói chuyện gì mà lâu vậy?


            Tôi vô cùng ngạc nhiên trước thái độ bất lịch sự và thô thiển của những người này. Chợt nhớ bao nhiêu cặp mắt đã đổ dồn về phía tôi khi “Người mắt xanh” đến ngồi trò chuyện. Một cảm giác hoảng hốt, sợ sệt từ từ xâm lấn. Chưa kịp hoàn hồn để trả lời thì người ngồi bên cạnh lên tiếng dữ dằn hơn nữa:


            - Cô biết thằng đó là ai không mà nói cười với nó? Làm vậy chẳng khác gì thách thức mọi người, hiểu không? Mới chút tuổi mà bày đặt!


            - Cô là con gái mới lớn mà dám nói chuyện với Tây giữa thanh thiên bạch nhật, cô muốn thách đố ai vậy?…


            Những câu hỏi không khác lời kết tội cứ dồn dập làm tôi ngu ngơ không hiểu. Càng khó hiểu hơn nữa là sự can thiệp trắng trợn của những người không hề liên quan một mảy may với tôi hay ông Boudarel. Mà tôi có làm điều gì sai đâu cơ chứ. Tuy vậy tôi vẫn cố gắng trấn tĩnh trả lời:


            - Sao các anh nói người ta như vậy? Ông ấy là người tốt mà.


            - Quen lâu rồi hả? Sao biết thằng đó tốt?


            - Tôi không quen lâu, nhưng biết chắc họ không phải người xấu.


            - Ngây thơ khờ dại lắm nhỏ ơi! Có biết quan hệ với người ngoại quốc là mắc tội gì không? Thôi đừng có to gan nha!


Tôi không kìm được, tức tối hỏi vặn lại:


- Như vậy mà đã mắc tội sao? Nhưng tội gì chớ? 


          Họ nhìn tôi với vẻ hung dữ, nói giọng uy hiếp:


 - Cô không thôi ngay thì sẽ biết!


            Đang lúc căng thẳng, bức xúc thì tiếng anh Thành Lang vui vẻ vang lên phía sau :


- Cơm canh có rồi đây, mình bắt đầu thôi.                           


Mấy người đàn ông hung dữ thấy vậy cũng tự động đứng lên giải tán. Tôi nhẹ lòng vì thoát nạn, nhưng tình trạng bất an của tôi không giấu được các anh, nhất là Thế Bảo: 


- Có chuyện gì hả Tuyết Mai? Họ làm gì em mà mặt mày xanh mét vậy? Có quen người ta không?


            - Dạ, em không quen, nhưng không sao đâu anh ạ.


            Anh Thành Lang vừa xới cơm vô chén vừa liếc mắt nhìn tôi lo lắng, nhưng làm ra vẻ không quan tâm:


- Thôi trễ rồi, mọi người ăn cơm cho nóng. Có chuyện gì thì lát nữa về nhà nói sau.


(còn tiếp)


Nguồn: Lật từng mảnh ghép. Tự truyện của Trương Tuyết Mai. NXB Hội Nhà văn, 2014. Tác giả gửi www.trieuxuan.info








[1] Cách gọi bình dân chỉ lính Pháp thua trận ở Việt Nam thời kỳ kháng chiến 9 năm.




[2] G. Boudarel là một trong những người Pháp đầu tiên đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân (chú thích trong tài liệu “Những chiến sĩ Đức trong Việt Minh” của Heinz Schutte (Tạp chí Nghiên cứu và thảo luận – Thời đại mới). Ông sinh tháng 12 năm 1926 tại tỉnh Loire. Xuất thân từ một gia đình công giáo. Cử nhân triết. Gia nhập Đảng cộng sản Pháp năm 1947. Cũng năm đó ông xuống tàu sang Đông Dương làm giáo sư triết học ở trường trung học Pháp ngữ. Năm 1949, (Sau một năm ở nam Lào) ông tới Sài Gòn dạy ở trường trung học Marie Curie. Năm 1950 ông vào chiến khu theo Việt minh – khi đó ông 24 tuổi. Ông được nhà lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ Phạm Ngọc Thạch đón tiếp, cử làm việc ờ Cục địch vận Việt Minh và Đài phát thanh Nam Bộ kháng chiến. Năm 1952 được điều ra chiến khu Việt Bắc công tác. Sau hòa bình 1954, ông làm việc tại Đài Tiếng nói Việt Nam và Nhà xuất bản Ngoại văn - Hà Nội.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »