Chiều hôm đó tôi có giờ học xướng âm đầu tiên với anh Thành Lang. Chỉ có một thầy, một trò và cây đàn piano trong phòng học. Khu nhà hai mươi sáu, đường Cột Cờ lặng như tờ vì các em học sinh đã nghỉ hè từ tuần trước. Chỉ còn số ít cán bộ giảng dạy thì vẫn có mặt thường xuyên ở đây. Tất cả các phòng học được khoá cẩn thận. Chỉ khi nào tôi có giờ lên lớp thì người bảo vệ mới mở cửa thôi.
Để thẩm định thính năng của tôi, anh Lang dùng piano đánh đi đánh lại vài ba lần những câu nhạc lạ từ dễ đến khó, rồi bảo tôi lập lại cho đúng luôn cả cao độ, trường độ và phách nhịp. Tôi cố gắng tập trung làm theo lời anh dặn, sợ lỡ sai thì mắc cỡ lắm. Thật may mắn, tôi không làm anh Lang thất vọng, trái lại anh vui vẻ khen trí nhớ âm nhạc của tôi và sôi nổi khẳng định:
- Tốt lắm Mai à. Em có thể chọn âm nhạc làm nghề được đó.
Tôi hơi ngỡ ngàng trước niềm vui của anh:
- Ủa, anh bất ngờ lắm hả? Sao có vẻ vui quá vậy?
- Anh rất vui vì thính năng của em khá tốt. Em tha thiết với âm nhạc quá mà không có khả năng thính âm thì anh cũng chịu thua thôi. Nói thiệt nghen: Trước khi thử, anh cũng hồi hộp lắm.
Tôi tròn mắt ngây thơ hỏi lại:
- Thính năng quan trọng vậy hả anh?
- Quan trọng lắm chứ em. Sẽ vô cùng gay go nếu em chọn học âm nhạc mà không có khả năng nghe chính xác. Cho dù có khổ luyện cũng khó mà thành công được.
- Vậy thì may cho em quá! Thực ra anh không cần đánh đàn ba lần cho
mỗi câu nhạc, chỉ một lần thôi là em đã nghe được rồi. Em thấy không khó lắm; tuy vậy em sẽ hết sức cố gắng trau dồi hơn nữa cho khỏi phụ công thầy. Chỉ lo thời gian ít quá không kịp chuẩn bị chu đáo cho kỳ thi.
- Anh cũng lo như vậy, nhưng đâu có cách nào khác. Phải ráng thôi em.
- Dạ, em sẽ cố hết sức.
Buổi học đầu tiên anh Lang kết thúc sớm hơn dự định. Anh dùng thời gian còn lại khéo léo hỏi chuyện hồi trưa ở tiệm cơm. Tôi không muốn giấu anh điều gì nên thật thà kể hết đầu đuôi, hy vọng anh sẽ bảo vệ tôi và lên án những người đàn ông thô lỗ kia.
Nghe xong chuyện, anh Lang suy nghĩ một lát rồi chậm rãi nói:
- Thái độ của mấy người đó thật không ổn. Anh không tán thành cách nói năng thô thiển và có hàm ý đe dọa của họ như thế. Nhưng có một điều em phải hết sức lưu ý, vì họ nói đúng.
Không để anh Lang nói hết, tôi hỏi dồn:
- Đó là điều gì hả anh? Họ đúng chỗ nào chớ? Anh bênh họ hả?
- Em bình tĩnh nghe anh nói nè. Vì em không biết nên anh phải nói rõ ràng để em tránh. Việc em chuyện trò với người ngoại quốc là không bình thường trong con mắt mọi người. Nhất là có quan hệ tình cảm thì lại càng không được. Nhà nước mình nghiêm cấm chuyện đó, em biết không.
- Anh nói gì kỳ cục vậy. Em với người đó có gì với nhau đâu. Họ tự đến chuyện trò với em đó chứ. Chỉ vậy thôi mà em đã mắc lỗi sao?
- Em chưa mắc lỗi, nhưng nếu không dừng lại thì anh không dám chắc.
Anh Lang ngưng một lát rồi nói tiếp:
- Anh biết anh chàng này. Những điều anh ấy nói với em đều đúng cả, và đây là người tốt thật sự. Nhưng chủ động tới chuyện trò với em là không bình thường trong hoàn cảnh hiện nay. Em phải biết là người ta chỉ quen và muốn nhìn những gì bình thường quanh mình thôi, nên chỉ cần ra khỏi khuôn khổ đó một chút xíu là đã thành đề tài cho thiên hạ xôn xao, bàn tán rôi. Đời là vậy đó em. Huống hồ…
Anh Lang bỏ lửng câu nói, nhìn tôi khẽ rướn lông mày, nhún vai tỏ ý không tiện nói tiếp. Thái độ của anh khiến tôi cảm thấy mình đã thât sự mắc lỗi. Tôi im lặng nhìn anh, buộc miệng nói:
- Cảm ơn anh Lang. Em sẽ lưu ý những điều anh đã trao đổi. Nhưng thú thật là em không biết phải phản ứng thế nào nếu người đàn ông đó lại đến
chuyện trò với em.
- Anh thấy cũng khó cho em. Chẳng lẽ nói thẳng với người ta là không được làm vậy nữa. Vô lý quá… Thôi bỏ việc đó qua một bên đi, từ từ rồi tính tiếp. Tối nay anh sẽ đưa em đến nhà chị Nhật Ánh. Chị là giảng viên piano của trường âm nhạc Việt Nam, và đã nhận lời dạy đàn cho em trong thời gian luyện thi rồi đó.
Tôi ngạc nhiên, tròn mắt lên phản đối:
- Chỉ có thời gian rất ngắn thôi, làm sao em học piano cho nổi. Anh tính lại giùm em đi.
- Tất nhiên là em không thể học như những thí sinh piano khác có điều kiện học đàn từ nhỏ. Chị Nhật Ánh chỉ tập trung giải quyết cho em những vấn đề thật cơ bản và dạy em vài tiểu phẩm nhỏ để dự thi thôi. Em phải hết sức cố gắng mới được.
- Sao trước đây anh Lang bảo em là thí sinh năng khiếu cơ mà?
- Anh cũng đã tính như vậy, nhưng nghĩ lại thì thấy không được. Thí sinh năng khiếu thường được tuyển từ bảy đến mười hai tuổi thôi, đó là hệ sơ cấp. Còn tuổi mười bảy của em thì phải thi vào hệ trung cấp cơ bản. Hệ này chỉ học bốn năm là thi tốt nghiệp. Hiện tại, nhà trường chỉ đào tạo hệ sơ cấp bảy năm, trung cấp dài hạn mười một năm và trung cấp cơ bản bốn năm. Với nhu cầu phục vụ trước mắt, thì học xong trung cấp cơ bản ra làm việc cũng khá tốt rồi.
- Vậy em nhất thiết phải là thí sinh piano, đúng không? Mắc cỡ chết! Đã học hành gì mà dám dự thi môn nhạc cụ “quý tộc” đó chớ. Người ta sẽ cười nhạo em mất thôi. Em không dám đâu. Rắc rối quá anh Lang ơi, hay là em không thi nữa?
- Em đừng nói lung tung. Ráng tập trung cật lực để đạt nguyện vọng.
Chưa gì đã nản thì coi sao được.
Nghe anh Lang nhắc nhở, tuy trong lòng còn nhiều hoang mang nhưng tôi cũng phải im lặng vâng lời. Liền sau đó, tôi đi cùng anh Lang ra phía cổng chính, là “mũi tàu” của ngôi nhà 26 Cột Cờ. Anh mở cửa đưa tôi vào một căn phòng xinh xắn có hai cửa sổ thật cao ở hai vách tường bên, sơn màu ngọc thạch rất thanh nhã và chiếc piano nhỏ ở tường đối diện với cửa ra vào.
Anh Thành Lang hồ hởi nói với tôi:
- Đây là phòng học đàn của em với chị Nhật Ánh. Em thích không? Mỗi lần học xong, em nhớ đóng cửa sổ, tắt đèn, khoá phòng, khóa cổng cẩn thận rồi hẵng về nhé.
- Dạ vâng. Phòng học tuy nhỏ nhưng đẹp và sang trọng, em thích lắm. Nhưng tại sao em được học ở đây? Anh Lang lo cho em chắc cực lắm?
- Cũng may là học sinh đã nghỉ hè nên sắp xếp phòng học cho em không khó khăn gì. Điều kiện cho em học hành đang rất thuận lợi, chỉ cần em tập trung và cố gắng nữa thôi.
- Dạ, em biết rồi.
Trong lòng tôi thầm biết ơn anh Lang rất nhiều vì sự quan tâm lo lắng cho việc luyện thi của tôi. Anh chu đáo mọi việc, không có điều gì khiến tôi phải buồn phiền cả, chỉ có mỗi việc học và học cho tốt. Nhất định tôi phải thật chăm chỉ, thật cố gắng để thi đậu thì mới không phụ công sức và nhiệt tình của anh.
* * *
Đời sống tiếp diễn ngày này qua ngày khác không có gì thay đổi, vẫn hai lần đi bộ từ nhà hai mươi sáu Cột Cờ qua ngõ Cấm Chỉ đến tiệm cơm Tân An, nơi tôi có nhiệm vụ giữ bàn xếp ghế, còn các anh thì xếp hàng lấy chén đũa và thức ăn. Ngoài chuyện học hành, chỉ có người đàn ông mắt xanh làm tôi phân tâm nhiều nhất. Anh không biết tôi phải chịu nhiều áp lực nặng nề như thế nào, nên vẫn tiếp tục đến ngồi bên tôi trò chuyện như chẳng có gì bất thường.
Lần thứ hai gặp nhau anh không lịch sự xin phép như lần đầu, mà ung dung ngồi xuống đối diện, nhìn thẳng mắt tôi cười rạng rỡ:
- Hãy nói gì về em đi, anh muốn biết lắm. Hôm trước anh nói về mình rồi. Bây giờ đến lượt em nhé.
- Dạ xin lỗi, em đâu có gì để nói với ông.
- Có nhiều chứ, ví dụ như em là ai, tên gì, từ đâu đến v.v…
Tôi bỗng nhớ việc “khai lý lịch” của anh lần trước, liền che miệng cười tủm tỉm:
- Dạ, em không muốn “khai lý lịch” như ông đâu.
- Ít nhất anh cũng được biết tên, chẳng lẽ em không cho phép?
Tôi nghĩ, những thông tin vô hại thì người ta có biết cũng chẳng sao, nên liếng thoắng đáp:
- Dạ em là Mai, Trương Tuyết Mai. Mười bảy tuổi. Là học sinh miền
Nam tập kết…
- Em Mai mới về Hà Nội phải không?
- Dạ phải, nhưng sao ông biết?
- Nhìn dáng vẻ và mắt em, anh đoán thế thôi.
- Em có dự định thi vào trường Âm nhạc Việt Nam, nên phải về Hà Nội chuẩn bị. Em chỉ ở đây một thời gian ngắn, nếu thi đậu thì mới quay lại để tiếp tục học.
- Anh hiểu rồi. Trong thời gian ở Hà Nội, em có gặp nhiều khó khăn không? Nếu có thể thì cho phép anh được giúp đỡ em.
- Dạ thưa, em rất ổn. Cám ơn ông.
Bất ngờ anh nắm lấy hai bàn tay tôi đang đặt trên bàn, nhìn thẳng vào mắt rồi nói khẽ vừa đủ cho tôi nghe:
- Vậy thì, cho phép anh được nghĩ tới em nhé.
Tôi như bị điện giật, vội rút phắt tay về, kinh hãi nhìn anh. Sợ quá đi mất! Trông người đàng hoàng, lịch sự vậy mà nói năng lạ lùng. Còn dám nắm tay người ta nữa chứ! Trời ạ!... Tôi sợ hãi đưa mắt nhìn xung quanh thật nhanh xem có ai nghe những lời anh vừa thốt ra. Tôi luống cuống, chưa biết phải trả lời sao thì anh đã dịu dàng nói tiếp:
- Anh xin phép mà. Có gì khiến em hốt hoảng vậy?
- Dạ… dạ, em sợ!
Anh nhìn tôi khẽ lắc đầu, mỉm cười:
- Ôi, cô bé! Cho anh xin lỗi.
Thật ra, đó là cách tỏ bày tình cảm đẹp và lịch sự, nhưng vì xảy ra bất ngờ giữa đám đông nên đã khiến tôi kinh hãi và vô cùng luống cuống. Hơn nữa, một cô bé tuổi mười bảy, chưa thoát khỏi vòng giáo huấn nghiêm ngặt của gia đình và nhà trường - những điều giáo huấn ấy vẫn còn ngấm sâu trong huyết mạch. Tôi lại chưa có chút kinh nghiệm trong tình yêu thì làm sao biết chống đỡ và không sợ hãi trước thái độ đường đột, cũng như những lời nói ngọt ngào đường mật. Nghĩ lại cũng thấy tội nghiệp! Nào anh có lỗi gì. Tôi cố gắng bình tĩnh nói với anh vài lời, chứng tỏ mình cũng là người cứng cỏi và biết phép tắc:
- Dạ xin lỗi, em không thể trả lời gì cho ông được bây giờ.
- Anh không hy vọng nghe em trả lời ngay. Nhưng em sẽ trả lời cho anh sau chứ? Tạm biệt. Chúc em ngon miệng.
Rồi với ánh mắt nhìn tôi thân thiện, anh ung dung đứng lên đi vào phía trong quán ăn. Ngay lập tức, một người đàn ông trung niên sấn sổ tới, hầm hừ những câu đe dọa làm tôi sợ chết khiếp, nhớ đến tận bây giờ:
- Cô muốn bị ghi sổ đen hả?
Tôi tròn mắt hỏi lại:
- Sổ đen là sổ gì, thưa ông?
- Là sổ sẽ làm cho cô bị công an theo dõi sát và suốt đời không ngóc đầu lên nổi đó.
- Ai sẽ ghi tôi vào sổ đen? Về tội gì, thưa ông?
- Đó là tội nặng ghê gớm – giống như tội phản quốc vậy!
- Tôi phản quốc hồi nào? Ông đừng uy hiếp tôi độc ác như thế.
- Cô to gan quá mà. Dám quan hệ với người ngoại quốc, dám thách thức những quy ước xã hội. Dám vi phạm điều cấm kỵ của nhà nước. Dám… Dám… Dám…
- Ông nói sai rồi. Tôi không vi phạm điều cấm kỵ nào hết.
- Không cần biết đúng hay sai, hiểu chưa? Những gì cô làm là đã vi
phạm rồi đó. Còn khờ lắm nghen nhỏ!
Tôi hoàn toàn không hiểu gì hết, chỉ bất lực nhìn họ và lắc đầu ngao ngán. Những chuyện vô lý và ngu xuẩn như vậy có thật sao? Không lẽ nói chuyện với người nước ngoài là bị ghi sổ đen, là bị theo dõi? Nếu có quan hệ yêu đương chắc càng bị bao vây, trấn áp và có thể…ngồi tù nữa. Tôi không tin nhà nước có chủ trương lạ lùng dốt nát như vậy. Chắc họ thấy tôi còn con nít nên làm dữ để dằn mặt thôi.
Nhưng họ không ngờ là càng dữ dằn thì tôi càng gan góc. Tôi không thách thức ai, chỉ lẳng lặng làm những gì mình cho là đúng. Điều đáng buồn là anh Lang cứ nhất quyết tôi và “người mắt xanh” yêu nhau, nên sau mỗi lần lên lớp, thế nào anh cũng mang chính trị, đạo đức và nhân cách làm người ra thuyết giảng. Để giám sát và nhắc nhở tôi, anh luôn nói: “Đồng bào và con em miền Nam đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, đầu rơi máu chảy từng giờ. Phải chịu đựng trăm ngàn đắng cay tủi nhục để em được ra miền Bắc học hành. Em làm như vậy là có tội, là phụ công ơn Đảng Bác và đồng bào miền Nam, hiểu không? Em đang sống trong hạnh phúc mà không biết! Yêu ai không yêu, lại đi yêu thằng Tây! Tôi đã nói với em nhiều lần rồi: Đó là điều tuyệt đối cấm kỵ, tại sao em không hiểu?”
Những lần như vậy, tôi và anh Lang cãi nhau kịch liệt chỉ vì tôi muốn bảo vệ lý lẽ của mình, nhất định không tin điều anh và mọi người nói. Tôi nghĩ rằng họ bịa đặt những chuyện ấy để uy hiếp tôi vì một lý do nào đó.
Thật tình, tinh thần tôi đã bắt đầu lung lay sợ hãi, vì ai cũng nhìn tôi với vẻ khinh khi lạnh nhạt, không thương mến thân thiện như trước nữa. Có lần tôi tình cờ nghe chú Tăng Lộc tức giận nói với anh Lang: “Nó là đứa nhỏ vừa ngu vừa ngông và hết sức lì lợm bướng bỉnh! Không đúng với vẻ ngoài nhu mì, hiền thục của nó chút nào. Sao không lo học hành mà mới “chân ướt chân ráo” đã sanh chuyện rồi. Cậu phải cẩn thận, những đứa có cá tính như vậy không dễ cầm cương đâu”.
Tôi xấu xa đến vậy ư? Chú Tăng Lộc mà cũng nói tôi như thế? Không tha thứ hay chấp nhận tôi thật sao? Mà tôi đã làm gì nên tội chứ? Những gì anh Lang và những đàn ông trong quán cơm đã nói, không hề làm tôi lo nghĩ, vậy mà những lời nghe lỏm từ chú Tăng Lộc lại khiến tôi hoang mang khổ sở vô cùng. Đó không phải là lời trách cứ, chê bai bình thường mà là sự phán quyết về nhân cách và đạo đức của tôi. Hóa ra dưới mắt họ tôi đã làm một điều thật sự tồi tệ. Vậy là những lời họ cảnh báo tôi ở tiệm cơm đều là thật cả - một sự thật tuyệt đối ư? Trời ơi, làm sao đây? Trái tim thơ dại của tôi run rẩy vì bị tổn thương nặng nề. Tôi buồn bã chẳng còn thiết gì nữa…
Bữa cơm trưa hôm đó Boudarel vẫn đến ngồi bên tôi như thường lệ. Nhưng tôi không vui, lòng nặng trĩu những muộn phiền. Anh nhìn tôi lo lắng, hỏi dồn:
- Em Mai sao vậy? Mắt em buồn lắm. Có điều gì làm em lo lắng phải không? Cho phép anh được biết nhé.
Boudarel yên lặng, chăm chú nghe tôi trả lời từng câu hỏi của anh. Đột nhiên anh xin lỗi cắt lời:
- Em đừng buồn nữa. Anh hiểu hết rồi. Đúng là nhà nước Việt Nam có
những quy định như thế. Từ từ anh sẽ tìm cách. Chỉ cần em luôn nghĩ đến anh là được.
- Nhưng em sợ lắm. Họ nói em sẽ bị ghi sổ đen nếu còn tiếp tục quan hệ với anh.
- Chúng ta không làm gì nên tội. Em đừng sợ. Đó chỉ là những quy ước của nhà nước Việt Nam đặt ra để tiện việc quản lý. Những quy ước ấy chỉ áp dụng trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, chứ không thể duy trì mãi để làm khổ mọi người được. Anh nghĩ, dần dần rồi những vô lý cũng sẽ được xóa bỏ.
- Anh tin như thế chứ? Nhưng đến bao giờ mới có sự đổi thay?
- Em nói đúng, không biết đến bao giờ. Nhưng anh tin chắc chắn sẽ thay đổi. Để em bớt lo sợ, từ ngày mai anh không đến ngồi bên em nữa.
- Vậy là không có cách nào? Phải chấp nhận thực tế này hả anh?
- Anh sẽ nghĩ cách. Hứa với anh là đừng quá lo lắng và nghĩ ngợi nhiều nhé. Chúc em ngon miệng. Tạm biệt.
Vẫn ánh mắt ấy, nụ cười ấy - anh dịu dàng nhìn tôi như muốn cho tôi thêm sức mạnh. Anh giữ đúng lời hứa, không ngang nhiên ngồi chuyện trò bên tôi nữa.
* * *
Nhưng có lẽ số trời đã xếp đặt cho chúng tôi có cơ hội tiếp tục gặp nhau. Vì trong quán cơm không có ấm tách uống nước trên bàn, nên sau khi ăn, ai cũng phải đến chỗ có thùng nước, xếp hàng chờ đến lượt. Nhờ vậy, mà ngày nào chúng tôi cũng được đứng bên nhau sau bữa cơm như thế. Những lúc ít người, anh tranh thủ nói với tôi vài điều gì đó, lúc thì: “Em khỏe chứ? Còn lo lắng nhiều không? Để anh nghĩ cách, em đừng buồn…” Lúc thì quan tâm hỏi han: “Sắp đến ngày thi rồi, em chuẩn bị đã tốt chưa? Tự tin nhé!”
Có một lần anh nói nhỏ rất nhanh:
- Hãy lấy xe đạp của anh mà đi Mai à. Anh đã có xe máy nên em đừng băn khoăn. Thấy em đi bộ hoài anh ái ngại lắm.
- Không được đâu anh. Em không bao giờ làm thế.
- Em ngại vì nó là xe court phải không? Anh sẽ tìm cách đổi xe dame cho em. Đồng ý nhé?
- Dạ không. Em không muốn như vậy. Đi bộ cùng mọi người cũng vui mà. Anh đừng lo cho em.
Những lúc có đông người xếp hàng, hầu như chúng tôi chỉ im lặng đứng bên nhau. Chẳng cần gì hơn, vì như vậy cũng đã có thể nghe rõ hơi thở của nhau rồi. Dù chỉ một thoáng cũng đủ làm tôi ngây ngất như có men say.
Tôi thương anh ít được bữa cơm nào trọn vẹn. Bao giờ tôi và các anh Thế Bảo, Đức Thiện và Thành Lang cũng về trước. Dù muốn nấn ná thêm cũng không thể lâu hơn được. Có những bữa tôi đã ăn xong mới nghe tiếng xe máy của anh ngoài cửa. Chỉ cần anh xuất hiện là tôi thấy ấm áp và yên lòng. Bấy giờ tôi có thể xếp hàng uống nước và bình thản ra về cùng mọi người.
Có một lần đang xếp hàng chờ lấy nước uống, không ai xô đẩy hoặc đụng vào người mà tự nhiên tôi thấy nóng ran sau gáy. Quay lại nhìn thì thấy anh đã đứng sát phía sau từ lúc nào. Tôi mỉm cười hỏi nhỏ:
- Anh mới tới hở? Ăn xong chưa mà xếp hàng uống nước vậy?
- Anh sẽ ăn sau. Đứng gần em một chút thôi.
- Gián đoạn bữa ăn sẽ mất ngon. Anh về bàn đi.
- Anh sẽ ngồi vào bàn ngay đây. Tạm biệt em.
- Ngon miệng nhé. Chào anh.
Tôi nhìn theo anh - lòng ngậm ngùi: “Giá như không bị ai cấm đoán, không bị ai theo dõi ghi sổ đen, thì đâu đến nỗi thế này!”
Có một hôm anh em tôi đi ăn trễ hơn mọi ngày. Đến quán đã thấy Boudarel nấn ná ngồi chờ ở bàn ăn. Khi tôi tới địa điểm uống nước, lúc ấy anh mới rời khỏi ghế. Hôm đó anh hỏi:
- Buổi tối em thường làm gì?
- Dạ, em tập đàn ở phòng học phía trước cổng chính.
- Anh có mấy việc phải làm gấp trong vài ngày tới. Em đừng đợi. Anh về trước nhé. Tạm biệt em.
Đặt ly nước xuống bàn, anh vội vàng ra cửa, gấp gáp lên xe đi thẳng. Tôi đoán anh cần nhiều thời gian cho quyển sách đang dịch dở dang, nên trong giai đoạn này anh đến tiệm ăn không đều đặn và đúng giờ như trước. Anh đã chu đáo dặn dò vì không muốn tôi trông ngóng,
Anh Thành Lang, Thế Bảo, Đức Thiện và tôi thường đến tiệm cơm đúng giờ. Boudarel thì đến trễ hơn một chút. Tôi biết vậy nên hay ngồi quay mặt về hướng cửa ra vào, để khi anh xuất hiện là tôi nhìn thấy ngay, và cũng để tránh cho anh không phải đưa mắt tìm tôi lâu. Chúng tôi nói với nhau bằng một thứ ngôn ngữ và tín hiệu riêng. Ðôi khi chỉ là cái gật đầu khẽ, động tác ngước mắt nhìn, hay một thoáng môi cười. Tín hiệu thầm kín ấy chỉ những người có tình ý với nhau mới cảm nhận được.
Mỗi lần anh xuất hiện, khuông cửa tiệm ăn như bừng sáng. Một thứ ánh sáng dịu nhẹ thánh thiện lạ lùng, cuốn hút tôi không cưỡng lại được. Và tôi buông thả mình mải miết trôi theo dòng ánh sáng đó đến mê muội…
10. Con đường vòng
Những gì xảy ra trên con đường vòng tôi đã đi?
Tuổi mười tám với đứa con nhỏ trên tay, là học sinh khoa kèn trường Âm nhạc Việt Nam, niên khóa một 1961 – 1965. Ðó là “chân dung” của tôi ngày ấy!
Thực ra, tôi chỉ muốn học sáng tác nhưng nhà trường không nhận vì khả năng tôi chưa đủ đáp ứng những yêu cầu chuyên môn đặc trưng của khoa này. Tôi đành chấp nhận phải chọn đi “con đường vòng” để đến đích.
Dạo ấy, tôi rất thích violoncello vì âm thanh man mác trầm buồn mà nồng nàn ấm áp, gần gũi như tiếng người. Nhưng nhạc sĩ Hoàng Dương, giảng viên violoncello thời ấy đã nhận xét: “Em học đàn này sẽ gặp khó khăn vì ngón tay em mảnh khảnh quá, nhất là ngón út”. Ngày hôm sau, anh Lang đưa tôi đến gặp nghệ sĩ piano Thái Thị Liên, tôi lại nghe bà nói những lời tương tự. Ngoài ra bà còn bảo: “Với tuổi mười bảy, học piano để biết chơi cho vui thì được, chứ học thành nghề thì không nên, khó đạt được tới đích lắm em ạ!”
Phải chăng cánh cửa trường âm nhạc đang khép lại trước mặt tôi ? Hay con đường nhỏ đưa tôi mon men đến với âm nhạc đang dần tan biến dưới chân? Tôi bắt đầu thấy mệt mỏi và thất vọng!
Một số cán bộ giảng viên trường âm nhạc Việt Nam lúc bấy giờ cũng ái ngại và thông cảm cho hoàn cảnh của tôi nên cố gắng tạo điều kiện giúp đỡ tôi học thi với khả năng tốt nhất.
Có lẽ vì tôi thật sự có chút năng khiếu âm nhạc và cũng là con em miền Nam tập kết, nên nhà trường và Bộ Văn hóa đã thu nhận tôi để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ hoạt động nghệ thuật bổ sung cho miền Nam khi cần. Về sau tôi mới được biết ban giám khảo nhận xét, ngoài những yếu kém về chuyên môn, tôi chỉ được hai ưu điểm là: “năng khiếu và nhạc cảm tốt”.
Hành trang trước khi bước vào con đường nghệ thuật của tôi chỉ có thế Tôi phải cố gắng rất nhiều nếu muốn cầm trên tay trái ngọt.
Thế rồi, tôi quyết không cho phép mình chậm bước hoặc dừng lại trước bất cứ hoàn cảnh nào. Tôi vẫn tự nhủ: “Cố lên!. Hoàn cảnh đã vậy, chỉ còn con đường thoát duy nhất là phải nỗ lực phấn đấu. Nhất định mình không để cho nhà trường, cũng như bạn bè phiền trách, cười chê!”
Nghĩ vậy tôi thấy yên lòng hơn, và bắt đầu lao vào học. Có thể nói, ngoài các giờ lên lớp tập thể, tôi luôn tranh thủ lúc con ngủ hoặc đi nhà trẻ để học chuyên môn. Những môn khác, tôi học ở bất cứ nơi nào, thời điểm nào có thể; ngay cả khi đi chợ, nấu cơm hay giặt tã lót cho con. Tôi quyết tâm thu thập kiến thức nhà trường truyền dạy để thỏa niềm khao khát bấy lâu, và đã đạt được kết quả loại khá sau mỗi năm học - nhất là năm học cuối cùng đã mang lại thành quả rất đáng vui mừng.
Những năm ở trường, tuy học flute nhưng tôi luôn mơ ước học sáng tác. Nhiều lúc tôi muốn đánh bạo xin trường cho học dự thính một số môn của khoa sáng tác, nhưng xét lại thấy mình không đủ sức. Thời gian và điều kiện không cho phép - nhất là đang có con nhỏ. Chỉ hoàn thành tốt chương trình học chính cũng đã căng thẳng quá rồi. Tôi đành tự an ủi: “Sau khi tốt nghiệp, bằng mọi cách, tôi phải học sáng tác dưới bất cứ hình thức nào!”
Ra trường năm 1965, tôi được chỉ định đi chiến trường B, dù con trai Thao Giang tôi lúc đó chưa đầy ba tuổi. Để con ở lại hậu phương, chia tay với nó thật không dễ dàng chút nào! Nhưng nhiệm vụ cần phải thế. Hơn nữa, khi vào học trường nhạc, tôi đã xác định điểm đến của mình, đó là nơi có tiếng gọi tha thiết giục giã tôi nhất. Biết trước như thế nên tôi không băn khoăn, ngại ngần khi cầm quyết định đi B trên tay.
Chỉ thương con thôi! Nó còn bé bỏng quá! Nhưng lúc đó đâu phải chỉ mình tôi phải xa con! Hy vọng con trai tôi lớn lên, sẽ hiểu cho mẹ nó về quyết định hôm nay. Tôi cũng thấu hiểu lòng người dân đất Bắc lúc bấy giờ, ai nấy đều tâm niệm: “Làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” và:“Tất cả vì tiền tuyến”, nên họ hăng hái, sẵn sàng gác lại mọi nhu cầu và tình cảm riêng tư. Ai cũng thấu suốt từ tim óc: “Hành động vì miền Nam là nhiệm vụ thiêng liêng, cần phải dốc sức.”
* * *
Ngày đầu tiên chúng tôi được tập trung tại một địa điểm cách xa trung tâm Hà Nội để nghe cán bộ cấp trên cho biết tình hình miền Nam và nhiệm vụ mới. Trái với chỉ định, cấp trên chính thức quyết định nhiệm vụ cụ thể của đoàn chúng tôi là làm việc tại một cơ quan mật thuộc Ban tổ chức trung ương. Hoá ra chúng tôi thuộc diện đi B “nằm vùng” chứ không ra chiến trường. Ý nghĩ đầu tiên và duy nhất khiến tôi xúc động đến ứa nước mắt là:“Chưa phải xa con!”. Một điều tưởng đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và ý nghĩa đối với tôi.
Ðơn vị chúng tôi có nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp cho cách mạng miền Nam. Vì tính chất đặc biệt của công tác, nên dù làm việc tại miền Bắc, chúng tôi vẫn phải sẵn sàng ba lô lên vai bất cứ lúc nào có lệnh.
Với tất cả diễn viên trong đoàn, tổ chức có nghiêm lệnh không ai được sai phạm: Nghĩa là người nào chưa có gia đình thì khoan cưới, ai đã có gia đình thì khoan có con, ai có một con thì không được sinh thêm nữa. Các cặp vợ chồng son dù rất thèm có con cũng phải nghiêm ngặt tuân theo lệnh của tổ chức. Người nào không may để “vỡ kế hoạch” thì phải mau đến bệnh viện phụ sản giải quyết ngay. Diễn viên nữ của A8 lúc bấy giờ chỉ có tôi và Thu Năm là có con, còn lại đều là học sinh trung học chuyên nghiệp mới ra trường.
Giữa năm 1966, có một tin vui bất ngờ là cơ quan sẽ tổ chức cho cả đoàn đi tập huấn sáu tháng tại trường Âm nhạc Việt Nam. Quyết định này hợp với nguyện vọng của tất cả anh chị em, vì trình độ chuyên môn trong đoàn hầu hết còn non yếu, chưa thật sự đáp ứng với nhu cầu phát triển.
Lúc bấy giờ đoàn chỉ làm nhiệm vụ ca nhạc là chính, chưa có cải lương hay dân ca khu Năm. Tổ thơ và ca Huế cũng chưa hoàn chỉnh. Chỉ có ban nhạc là vững vàng hơn cả vì bộ hơi gồm những người mới tốt nghiệp, được học chính quy từ trường âm nhạc Việt Nam. Toàn bộ dàn dây là các nghệ sĩ được bổ sung từ dàn nhạc giao hưởng Việt Nam, có nhiều kinh nghiệm hòa tấu. Dàn nhạc chúng tôi lúc đầu không đông và hoành tráng như của đài Tiếng nói Việt Nam hoặc như những dàn nhạc lớn khác, nhưng cũng hội đủ biên chế để thích hợp với hoàn cảnh chiến trường. Chỉ huy dàn nhạc lúc bấy giờ là nhạc sĩ Lê Ðình Lực học ở Liên Xô mới về. Bộ kèn lẫn dàn giây đều đủ tất cả các nhạc khí. Ngoài ra còn có thêm accordeon, mandolin, guitar, sáo trúc, thập lục và tam thập lục. Bộ gõ cũng phong phú không kém. Ðặc biệt có một số nhạc công sử dụng được nhiều loại đàn, sẵn sàng đáp ứng công việc đòi hỏi.
Trên thực tế, tổ ca là bộ phận được coi trọng nhất, nhưng cũng là tổ cần phải quan tâm trau dồi chuyên môn nhiều nhất vì khả năng vẫn còn non yếu. Lực lượng chính tương đối mỏng, đơn ca nam chỉ có anh Hoàng Minh từ đoàn ca nhạc đài Tiếng nói Việt Nam chuyển sang, đơn ca nữ Trần Thu từ trường Âm nhạc về. Cả hai anh chị đều đáp ứng tốt mọi yêu cầu của công tác. Số còn lại là các học sinh Miền Nam học nghành thương nghiệp mới ra trường, không ai biết một nốt nhạc. Hát hò cũng khó khăn lắm. Tập hát bè cho tốp ca, đồng ca lại càng “trầy vi tróc vảy”. Nhưng tất cả đều lao vào làm việc cật lực. Người biết hướng dẫn cho người không biết, nâng đỡ nhau bằng mọi cách để hoàn thành công việc với mọi khả năng của mình.
Ðể bảo đảm bí mật, tất cả nhạc sĩ và diễn viên xuất hiện trên sóng đài Phát thanh Giải phóng, kể từ ngày mới thành lập đoàn cho đến ngày giải thể đều phải đổi tên khác. Ca sĩ Thanh Hoa – tên thật Huyền Thanh, Mỹ An – tên thật Ngô Thị Liễu, Trần Thu chính là Thu Năm, Trần Phương – chính là Trần Tiến, Hoàng Minh – chính là Minh Phụng v.v... Một số tên tác giả tôi vẫn còn nhớ như Y Na chính là nhạc sĩ Hoàng Vân, Cẩm La là nhạc sĩ Hoàng Hà, Hương Lan là nhạc sĩ Trọng Loan, Lê Anh Chiến là nhạc sĩ Huy Thục, hoặc Huy Quang là nhạc sĩ Phan Huỳnh Ðiểu, Huỳnh Minh Siêng là nhạc sĩ Lưu Hữu Phước v.v... Tôi cũng có cái tên bí mật Trương Linh Hương dùng cho tác phẩm của mình trên đài Phát thanh Giải phóng những ngày ấy.
* * *
Trường Âm nhạc Việt Nam sơ tán về Xuân Phú, tỉnh Hà Bắc vào mùa hè năm 1965. Thế là cả đoàn lại “bồng bế” nhau từ làng Nga My, tỉnh Thái Nguyên về Hà Bắc để kịp năm học mới. Ngoài việc tập huấn chuyên môn chính là flute, tôi còn được ban lãnh đạo bố trí cho học thêm lớp tác khúc do thầy Lê Yên phụ trách. Nhờ những kiến thức có được từ trường Âm nhạc Việt Nam nên những giờ học tác khúc của nhạc sĩ Lê Yên tôi có thể tiếp thu không khó khăn lắm.
Tôi đặc biệt thích thú nghệ thuật phổ thơ của thầy Lê Yên, với những dẫn chứng điển hình trong các bài: “Nhớ”, “Bộ đội về làng”, “Diệt phát xít” v.v... Do đó tôi hiểu thêm nhiều vấn đề mà trước đây hoàn toàn mù tịt. Tôi rất cảm động mỗi khi lên lớp vì những bài tập đầu tiên của tôi bao giờ cũng được thầy chỉ dẫn tận tình. Một trong những bài tập trầy trật nhất lúc đó là “Ơi anh giao liên”- phổ thơ Ngọc Sơn. Tôi viết bài này cho giọng soprano và tốp ca nữ. Tưởng các bè hòa thanh và phức điệu đã hợp lý và hoà quyện nhưng thầy vẫn không chịu thông qua, bắt tôi chữa đi chữa lại đến lần thứ sáu mới xong. Chỉ vài tháng sau, tôi thật bất ngờ nghe bài hát của mình phát trên làn sóng đài Tiếng nói Việt Nam, qua tình bày của ca sĩ Thu Phương và tốp ca nữ đoàn Ca Múa Trung ương. Tôi không sao tả hết được niềm hân hoan vui sướng ngập tràn trong lòng mình, vì đó là phần thưởng đầu đời quí giá nhất mà tôi có.
Mỗi lần nhớ tới “Ơi anh giao liên”, là tôi nhớ tới những lời khuyên dạy của thầy:
- Phải biết tiết kiệm chất liệu âm nhạc, em đã quá phung phí đấy.
- Lời thơ và âm nhạc phải được phát triển, bổ sung cho nhau hài hoà, cân đối. Không để âm nhạc bị lời thơ chi phối.
- Phổ thơ, tuyệt đối không có nghĩa lấy âm nhạc minh họa cho thơ. Phải biết khai thác thơ để phục vụ cho âm nhạc…
Ðó là những bài học và kinh nghiệm quý báu thầy đã giúp tôi soi tỏ mỗi tác phẩm của mình sau này.
Tôi biết ơn thầy Lê Yên không những vì những bài học đầu tiên mà còn vì thầy là người dìu dắt tôi qua ngưỡng cửa của cái nghề “vinh quang thì ít, khổ đau thì nhiều” như cố nhạc sĩ Xuân Hồng đã viết giới thiệu trong tập: “Sao anh không là...”- Tình khúc Trương Tuyết Mai, do nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành năm 1990.
Kể từ đó, trên con đường dài nghệ thuật hơn 50 năm tôi đã qua, hành trang đơn sơ trong chiếc ba lô nhỏ ngoài cây flute, còn như có chút gì làm bước chân tôi thêm tự tin. Từng ấy năm không ngơi nghỉ, tôi luôn mong được gửi gắm, giãi bày lòng mình qua âm nhạc tình yêu quê hương và cuộc sống này.
(còn tiếp)
Nguồn: Lật từng mảnh ghép. Tự truyện của Trương Tuyết Mai. NXB Hội Nhà văn, 2014. Tác giả gửi www.trieuxuan.info |