Chương 2
Ngày chủ nhật là ngày lính mong đợi hơn cả. Ngày đó lính được dậy muộn nửa giờ. Thật vô cùng hạnh phúc, nửa giờ ngủ thêm. Không có kèn báo thức, cái điệu kèn hối hả vẫn vang lên mỗi buổi sớm làm Hoàng bật dậy trong tâm trạng vừa hoảng hốt vừa tiếc nuối giấc ngủ chưa trọn vẹn. Thay vào điệu kèn là một hồi còi của trực ban. Ngay cả hồi còi cũng bớt vẻ gay gắt, không còn giật giọng như ngày thường. Nhưng để bù cho hạnh phúc này, lính phải trả giá: nhịn bữa sáng. Ngày chủ nhật lính chỉ được ăn hai bữa, bữa trưa và bữa tối.
Nhịp sinh hoạt như trùng lại. Cả đại đội được đi tắm nước nóng. Nếu may mắn, buổi chiều có thể một nửa đại đội được đi chơi phố.
Nhà tắm công cộng ở giữa phố chợ, làm trên một nguồn nước khoáng nóng từ trong lòng núi chảy ra, có một bể chứa rộng và sâu đủ cho hàng trăm lính cùng tắm một lượt. Trước đây nó được xây dựng để phục vụ cho một đơn vị không quân Mỹ có nhiệm vụ yểm trợ tác chiến cho quân đội Quốc dân đảng trong vùng Hoa Nam.
Lính thay nhau đạp guồng, đưa nước nóng từ mạch nước ngầm vào bể. Nước sặc mùi diêm sinh, bốc hơi như khói và dâng lên dần. Khi nước dâng đã cao, nhiều người bắt đầu vẫy đạp tung tóe. Hơi nước càng bốc lên và đám người tồng ngồng trong bể tắm như biến thành những cái bóng hỗn độn trong vầng khói sương mờ mịt.
Khi nước đã dâng lên đủ mức, ở một góc, một trò chơi quen thuộc bắt đầu. Trước hết là những tiếng cười vang dội, lẫn trong tiếng vỗ nước, tiếp sau là những tiếng gọi hoan hỉ:
- Chúng mày ơi! Chúng mày ơi!
Nghe những tiếng gọi thoải mái đó, trực ban đại đội lại la lên cái điệu muôn thuở:
- Thế là thế nào? Bộ đội cách mệnh sao lại cứ mày tao chi tớ. Bảo mãi cũng thế thôi. Gọi lại đi: các đồng chí!
- Rõ! Rõ! Tuân lệnh!
- Các đồng chí ơi!
- Ới các đồng chí ơi, là các đồng chí ơi!
- Cái gì đó? Cái gì đó?
Nhiều tiếng la hét đồng loạt vang lên vui vẻ.
- Trời ơi là trời! Tìm đâu cho thấy được cỡ này, lại cả đây mà ngắm!
Lập tức có tiếng lội nước ào ào, xen lẫn những tiếng tán thưởng rất lính tráng.
Những người đó đang chơi trò thi chim. Họ đo của nhau, rồi so sánh, bình luận và cười sặc sụa...
Hoàng bỗng nhớ về thời học sinh mới ngày nào, khi từ thành phố, các trường tản cư đến những làng quê xa xôi. Ở đó chiều chiều Hoàng thường bắt gặp trò chơi thuần túy nhà quê này của các trẻ chăn trâu, tắm truồng cùng với đàn trâu đang đằm mình trong những ao làng ngầu bùn. Về sau, trong suốt đời quân ngũ, Hoàng nhận
thấy nhiều người chơi trò này khi có dịp tắm chung, trong các sông suối ở nơi đóng quân hay trên đường hành quân. Chẳng những lính tráng mà nhiều khi cả sỹ quan, chỉ huy, chính ủy. Có lẽ đây là một trong những điều mách bảo ngẫu nhiên về tuổi nhỏ của họ: đã một thời, họ cũng từng chăn trâu cắt cỏ, chiều chiều từng cùng nhau tắm truồng trong những ao làng.
Lũ trẻ sống ở thành phố, bơi trong những bể bơi có lẫn con gái, không bao giờ bày trò chơi này. Vì thế khi thấy trò chơi diễn ra trước mắt, trong tiếng cười re ré, Hoàng cảm thấy nóng bừng trên mặt... Ngoại trừ sự không quen đó, thật sung sướng được ngồi thư dãn trong làn nước, thân thể như được ve vuốt bởi những bàn tay nóng ấm.
Buổi chiều các tổ ba người được thay nhau ra chơi phố. Đi đâu cũng từng tổ ba người. Một tổ ba người, nếu có một "hạt nhân đoàn kết" xuất thân công nông, thường là nơi diễn ra một chuỗi dài những thống khổ không đáng có. Suốt ngày dẫn lời Chu chính ủy, vị cố vấn của tiểu đoàn. Tiếp theo là tự kiểm điểm và hối hận. Hối hận vì bất cứ một điều vẩn vơ gì. Vì khi kèn gọi dậy không vùng dậy ngay. Vì gấp chăn chưa vuông vắn. Vì ăn chậm nên tập họp chậm...
Nhưng nếu là một tổ mấy chàng học sinh, dù khác trường khác lớp, thì cũng chẳng đến nỗi nào. Người ta không bao giờ báo cáo về nhau, trái lại gượng nhẹ và che đỡ cho nhau, chia sẻ cùng nhau niềm vui trước những cảnh lạ đường xa.
Mỗi chủ nhật, số tổ ba người được đi nhiều hay ít tùy theo tâm tính của trực ban. Mỗi tổ một giấy phép. Đó là một mảnh bìa ghi số, truyền tay đã cũ nát, giữa có dấu son của đại đội.
Với người trực ban hào phóng, chủ nhật nào giấy phép cũng được phát tới cái cuối cùng. Nhưng với người trực ban khó tính, keo kiệt, "hắc sì dầu" như lính tráng thường gọi, thì bao giờ cũng có rất nhiều lí do để từ chối. Tổ A vừa mới đi phố tuần trước. Tổ B phải ở nhà vì một người trong tổ tuần qua đã vi phạm kỉ luật nội vụ: giầy để không thẳng hàng, chăn gấp không vuông góc, xẻng ở thao trường về rửa chưa sạch đất... Chỉ một người phạm lỗi, nhưng cả tổ phải chịu trách nhiệm liên đới. Để mà dìu dắt nhau cùng tiến bộ.
Mặc dù vậy, hầu như tuần nào tổ Hoàng cũng xoay được một giấy phép. Hoặc do nài nỉ trực ban. Hoặc cảnh vệ ngày chủ nhật đó là người quen. Chỉ cần chìa ra lấy lệ một mảnh bìa nào đó thế là lập tức rào chắn đường được nâng lên. Hoặc xin thư kí đại đội một giấy phép giả. Các thư kí đại đội thường được tuyển chọn trong những anh chàng nhiều chữ. Mà đã nhiều chữ thì còn ai khác ngoài bọn học sinh. Mới rời các trường văn hóa chưa bao lâu, học sinh còn rất gắn bó với nhau và các chàng thư kí đại đội, chưa kịp bị kỉ luật của nhà trường quân sự biến thành sắt đá, không hẹp hòi gì với bè bạn một mảnh bìa.
Ngày ấy, Quân giải phóng vừa vượt sông Trường Giang đánh xuống phía nam. Chiến dịch Nam hạ vừa kết thúc. Ở vùng mới giải phóng, guồng máy quyền lực của cuộc cách mệnh Trung Quốc chưa đủ khả năng xiết chặt, người dân còn đang phấn khởi trong không khí mới.
Hoàng rất thích ra phố vào dịp này. Tổ trưởng nâng niu cất tấm bìa vào túi áo ngực, rồi tổ ba người của Hoàng phơi phới theo nhau đi vào khu chợ thị trấn.
Chơ họp tấp nập. Quang cảnh thật vui mắt. Lũ trẻ nhỏ tưng bừng nhẩy "ương ca" trên đường phố, vung những dải lụa tha thướt đủ màu sắc, trong rộn ràng chiêng trống, ca ngợi chính quyền mới. Các cửa hiệu mở rộng với những dãy đèn lồng bọc lụa đỏ treo la liệt trước hiên. Chỗ nào cũng thấy thuốc bắc, vải vóc và hàng tạp hóa.
Chen giữa các cửa hiệu là những "Tửu lầu", tấp nập người ra vào. Đây là những quán rươụ, cắm một cành thông xanh làm hiệu, hệt như trong truyện Thủy hử, với những xâu thịt nặng trĩu, những chùm ớt chín đỏ, treo bên trên các hũ rượu bắng sứ, buộc dây ngũ sắc.
Từ trong quán, tiếng cười nói ha hả, sảng khoái vang ra, lẫn với tiếng gọi thức ăn vào bếp, trầm bổng như tiếng hát của "tửu bảo" chạy bàn. Rượu tỏa hơi nồng nặc: nơi đây người ta uống rượu không phải bằng chén mà bằng bát lớn. Nhiều lần sự tò mò làm Hoàng phải liếc nhìn, tưởng như trong quán có những "hiệp khách" tạm nghỉ chân trên đường "hành hiệp", đang cùng nhau nâng bát rượu đã được hâm nóng bên những đĩa thịt lớn, đầy tú hụ, thái từng cân.
Ngoài đường phố, những "mã phu" ngực phanh trần, nón mây đeo sau lưng, chân dận giầy cỏ, dong đoàn ngựa thồ vừa đi vừa thét lớn "Ngựa tới! Ngựa tới!" để mở lối giữa đoàn người chen chúc. Những cặp vợ chồng từ trên núi "hạ sơn" xuống chợ, người vợ ngồi lắc lư trên lưng mã lí, hai chân vắt sang một bên, người chồng đi dưới đất che nắng cho vợ bằng chiếc dù sơn quang dầu mở rộng. Bọn mã lí lùn tịt, bước gấp gáp những bước ngắn. Thỉnh thoảng chúng lại vươn cổ vừa đi vừa hí những hồi dài ngay giữa chợ, tiếng hí thăm thẳm, vang động hơn cả tiếng của loài ngựa.
Giữa thị trấn là những bậc đá cheo leo dẫn lên núi cao, nơi có một ngôi chùa tường vách rêu phong. Ẩn mình giữa rừng tùng xanh ngắt, ngôi chùa bí hiểm và cổ kính như đã xuất hiện ở đây từ cả ngàn đời.
Vào những ngày đầu và giữa tháng, chùa lung linh đèn nến, các cửa đều mở rộng, chuông khánh ngân nga. Khói hương nghi ngút đến ngạt thở. Người đi lễ chen chúc, tấp nập, quần áo xênh xang, nhất là các cô nương. Họ cài những chiếc trâm nạm ngọc trên mái tóc, mặc quần áo sặc sỡ với nền là màu đỏ, mà người ta gọi là "hồng trang", một tay dắt theo vài đứa bé mũm mĩm như trong tranh, tay kia xách những giỏ mây chứa đầy vàng hương, hoa quả.
Ngày nào trời lạnh, các cô nương mang theo chiếc lồng ấp, vừa đi vừa vung vẩy theo nhịp bước. Than tí tách cháy đỏ, tỏa ấm tới cả những người đi bên cạnh. Giá rét làm đôi má họ bừng đỏ như những trái táo chín. Họ chăm chú lễ Phật nhưng không khỏi đôi lúc kín đáo liếc nhìn lính trẻ bằng cặp mắt sắc long lanh.
Mọi cái ấy, như những đam mê, hấp dẫn lính. Những ngày khổ luyện để chờ dịp cuối tuần sao mà dài! Mỗi chủ nhật nếu không được phép ra phố, ai cũng nuối tiếc như đã đánh mất một ngày vui.
Nhưng quang cảnh này không kéo dài . Nửa năm sau, chính quyền mới đã được củng cố. Cuộc "Phóng tay phát động quần chúng, cải cách thổ địa" đã mở màn, một cuộc biến thiên mà Chu chính ủy, vị cố vấn của tiểu đoàn, gọi là "cuộc đổi đời long trời lở đất, chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc và trong lịch sử nhân loại".
Khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng căng khắp nơi, từ thị trấn đến tận hang cùng ngõ hẻm trong các làng quê: "Tiêu diệt giai cấp địa chủ và bọn cường hào ác bá", "Bần cố nông có khổ nói khổ, có thù trả thù"...
Từ đó khu thị trấn hoàn toàn suy sụp. Sự sợ sệt và vẻ tan tác, nghèo khó hiện rõ khắp nơi. Người ta lấm lét nhìn người lạ, nhất là những ai mặc quân phục.
Trước đây Hoàng và các bạn được chào đón trong thương mến. Bộ quân phục Quân giải phóng Trung Quốc đã làm họ tự hào. Đến bất cứ đâu họ cũng thấy những cánh cửa mở rộng, những ánh mắt cảm phục, những nụ cười thân ái và những lời chúc tụng rộn ràng.
Lúc này người ta kín đáo khép chặt cửa khi thoáng thấy màu xanh quân phục từ xa. Người lính không còn là con em nhân dân, không còn là người giải phóng, họ đã trở thành công cụ bạo lực của những kẻ vừa chiến thắng.
Ngôi chùa trên vách núi đã tắt hết đèn nến và lạnh khói hương. Không còn thấy đâu những cô nương xinh đẹp cài trâm ngọc, mặc "hồng trang" và mang lồng ấp. Dưới bóng rừng tùng câm lặng, chỉ thấy những mái ngói phủ rêu và những khung cửa khép kín nặng nề.
Chợ dưới núi vắng teo. Không còn các "mã phu" phanh ngực đuổi đoàn ngựa thồ lưng chất đầy hoa quả. Hết các cặp vợ chồng "hạ sơn" trên lưng mã lí. Các quán rượu hào hùng đều đóng kín, cành thông làm hiệu trước cửa đã bị nhổ đi. Chỉ còn lại mấy bà già chân bé tẹo, bó chặt trong một nùi vải bẩn thỉu, vai mang mấy cành củi lơ thơ, bước lầm lũi giữa những cửa hiệu đã cạn hàng hóa và đã hạ hếṭ đèn lồng.
Tất cả chỉ còn lại một màu tro xám.
*
Giáo sư Mã, Mã liên trưởng(6) - Hoàng không biết tên mà chỉ biết họ của ông - dạy thu và phát báo. Ông có hai bàn tay vàng. Ông phát báo bằng cả hai tay, có thể đạt tốc độ chóng mặt, 140-145 chữ một phút, tốc độ mà chỉ cần một thoáng mất tập trung, những tay lão luyện trong ngành cũng đành buông bút, ngồi nhìn. Những lúc thấy cả hội trường bối rối, ông mỉm cười hiền lành rồi phát chậm lại.
Giáo sư Trương, cũng cấp liên trưởng, với cặp kính trắng luôn luôn đeo trên mắt, dạy quy ước quốc tế và phương thức liên lạc quốc tế. Tất cả đều thực hiện bằng tiếng Anh. Ông nói và viết rất thành thạo ngôn ngữ này.
Nếu Mã liên trưởng có hai bàn tay kì diệu, thì Trương liên trưởng có một cái đầu kì diệu. Đầu óc ông tinh vi và hữu hiệu hơn một máy thu. Dù đã lắp mạch chống nhiễu, máy thu ngày ấy chưa bao giờ loại trừ được hết các nhiễu loạn. Với Trương liên trưởng thì không hề gì. Dù bị đài địch phá rối hoặc bị nhiễu loạn điện trời đến mức tín hiệu bị chìm lấp, thoang thoảng khi mất khi còn, ông vẫn chép được đầy đủ bức điện ra giấy, không sai sót một chữ.
Không khi nào hai ông liên trưởng nói chuyện chính trị với Hoàng. Giờ nghỉ trong buổi học, gặp gỡ trên sân thể thao, bao giờ cũng chỉ là những lời thăm hỏi.
- Đồng chí sinh trưởng ở phương Nam nắng ấm, chắc là khó chịu với cái giá lạnh phương Bắc?
- Đêm đêm ngựa gõ móng và hí nhiều có làm đồng chí mất ngủ không?
Doanh trại của Hoàng ở bên cạnh nơi nhốt bầy ngựa của đại đội pháo. Ngựa thường được đưa sang buộc nhờ dưới bóng cây tùng. Cùng với tiếng tàu lửa hú còi khi đến ga gần doanh trại, đêm lừa ngựa thay nhau hí vang, khiến nhiều đêm Hoàng trằn trọc không sao ngủ được.
Dần dần hiểu nhau hơn, hai ông liên trưởng đôi khi để lộ một chút nỗi niềm. Vì sao các ông hỏi Hoàng tiếng ngựa hí có làm Hoàng mất ngủ?
Với hai ông, tiếng ngựa hí gợi lại những ngày trai trẻ mấy chục năm về trước, khi họ tham gia cuộc Vạn lý trường chinh. Hai ông kể:
"Người và ngựa nặng nhọc dò từng bước trong gió bão, tuyết ngập đến bụng chân. Trời đất lạnh buốt, nhìn đâu cũng chỉ thấy mênh mông một màu trắng. Thức ăn đã cạn. Lương thực quý như mạng người. Những con ngựa chiến thân thiết gày rạc vì từ đã bao lâu không có cỏ ăn, bưóc không vững, chốc chốc lại khắc khoải hí lên những tiếng khàn khàn trong gió. Vậy mà người ta phải đành lòng giết chúng, lấy thịt ăn dần. Khi thịt ngựa đã hết, trừ đôi giầy để đi trong tuyết không dám đụng đến, tất cả dây lưng, dây đeo súng và những mảnh da bóc ở yên ngựa đều đem nấu lại để có thức ăn cầm hơi..."
Nhiều lần Hoàng băn khoăn tự hỏi: vì sao đã từng tham gia cuộc Vạn lý trường chinh, Nam chinh Bắc chiến đã gần bạc hết mái đầu, tài năng lỗi lạc, mà hai ông chỉ mới là liên trưởng? Trong khi, theo hồi ký của nhiều tướng lĩnh Hồng quân, có binh sĩ ngày ấy nay đã trở thành sư trưởng(7), có người lên đến cấp quân trưởng(8), chỉ huy cả một quân đoàn. Từ cấp đại đội lên sư trưởng, chưa nói đến cấp quân trưởng, ngước trông đã thăm thẳm, khoảng cách xa vời biết bao! Có phải vì hai ông thuộc những thành phần không được cuộc cách mệnh Trung Quốc này tin cậy và ưu ái, dù đã hết lòng phụng sự nó?
Một người nữa chiếm được nhiều cảm tình của Hoàng và bè bạn là Châu Ái Liên. Cô thường bảo Hoàng, mỗi lần gặp gỡ ở đâu đó:
- Sách mới đã về. Có nhiều cuốn thích hợp với đại đội các anh. Bữa nào anh lên thư viện, Châu sẽ giới thiệu.
Trên đoàn Cố vấn có một thư viện nhỏ. Phần lớn là sách tra cứu Trung văn, phục vụ cho các cố vấn. Từ ngày có các học viên sĩ quan Việt Nam, thư viện nhập thêm nhiều sách Nga văn, đã được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Người giữ thư viện là Châu Ái Liên. Cô là người Thượng Hải. Châu Ái Liên nói rành tiếng Anh và đôi chút tiếng Pháp.
Thật là kì lạ, khi có một cô gái như vậy trong đội quân thuần túy nông dân. Giữa một tập thể binh sĩ đông cả ngàn vạn đàn ông mói có vài ba người đàn bà xồ xề lam lũ, Châu Ái Liên nổi lên như một cô gái trí thức và duyên dáng.
Vào ngày đại hàn, bộ quân phục lót mền bông làm cô to xù như mọi binh sĩ khác. Nhưng hết mùa đông, với những quân trang nhẹ nhàng của mùa hè, có thể thấp thoáng nhìn thấy những nét thanh mảnh trẻ trung dưới lớp vải mỏng. Nếu cô mặc áo "sường sám" Thượng Hải và đi giày gót cao, chắc hẳn sẽ rất quyến rũ.
Châu Ái Liên ít nói, ít cười. Mắt nhìn thăm thẳm, cô lặng lẽ cũng như ông Mã ông Trương. Chỉ khác không bao giờ cô gọi Hoàng là đồng chí như hai ông. Hoàng cũng vậy. Gọi nhau lúc nào cũng anh và tôi, cô và tôi, cách xưng hô dân dã rất ít dùng ở môi trường này. Một lần, không hiểu vì sao Hoàng gọi "Châu muội!" (9). Có phải vì cảm thông với cô gái lúc nào cũng lặng lẽ, đi đâu cũng một mình? Châu Ái Liên ngơ ngác nhìn Hoàng và thì thào một tiếng gọi gì đó nghe không rõ. Hoàng bàng hoàng, tự thấy mình đã quá bồng bột. Anh khe khẽ nói "Xin lỗi Châu!" Sau lần ấy, Hoàng lại trở về cách xưng hô cũ.
Buổi trưa Hoàng thường cùng Trịnh và một bạn nữa, Quang, lên thư viện. Họ có thể đọc sách tại chỗ hay mượn về. Cả những sách Trung văn. Sau nhiều tháng kiên nhẫn học tập, Trịnh và Hoàng đã đọc được những bài báo dễ và truyện tranh. Trung Quốc in rất nhiều truyện tranh cho đại chúng, chữ to, lời dễ hiểu, chỉ cần một vốn liếng nhỏ, chừng một ngàn từ là đọc được.
Ngày đó, cuốn "Nhật ký Thuận Xuyên"(10) đang được nhóm của Hoàng dịch cho buổi đọc truyện đêm khuya của đài truyền thanh tiểu đoàn. Truyện đã được chuyển ngữ từ Nga văn sang Pháp văn, kể lại những hoạt động bí mật của một viên đại tá tình báo Nhật trong chiến tranh Triều Tiên.
"Nhật ký Thuận Xuyên" với những trang gay cấn, li kỳ, được cả tiểu đoàn yêu thích. Chẳng những học viên mà cả các sĩ quan, các chỉ huy.
Từ ngày truyện được đọc trên đài, các buổi điểm danh được rút ngắn. Các thủ trưởng chính trị không còn nhận xét triền miên. Ít thấy trung đội trưởng la hét về những chiếc giường "bốn chân". Trước khi kèn ngủ ngân vang, ai cũng mau chóng lên giường, im lặng chờ nghe.
Nhóm dịch của Hoàng được một quy chế đặc biệt. Sáng không phải tập thể dục. Trưa không phải ngủ. Tối được thức thêm một giờ sau điểm danh. Nhiều khi cần dịch cho kịp buổi truyền thanh thì được miễn sinh hoạt. Họ thường lên làm việc trên giảng đường. Nếu muốn hưởng một chút khoáng đãng thì ngồi bên một cột đèn nào đó trong doanh trại, dưới ánh điện.
Công việc dịch như một cơ hội để thoát li thực tại. Mọi người nhìn họ bằng cặp mắt dễ dãi thân tình. Nhiều sơ xuất được bỏ qua. Cuộc sống bớt gò bó. Bớt được một vài buổi sinh hoạt. Bớt được thời giờ nói lý luận, tranh cãi vì những chuyện không đâu. Có thêm một chút thời gian thanh thản để theo đuổi những ước mộng viển vông...
"Nhật ký Thuận Xuyên" đã dịch và đọc gần hết.
Châu Ái Liên giới thiệu với nhóm của Hoàng những sách mới: "Đội cận vệ thanh niên", "Suối thép","Sinh viên", "Tinh cầu"...
Hoàng, Trịnh và Quang chia nhau lật rất nhanh từng trang để nắm nội dung từng cuốn. "Đội cận vệ thanh niên" quá nhiều trang, khô khan đến mức khổ hạnh. Nhiều cảnh sinh hoạt tư tưởng giống hệt những cảnh họ đang muốn trốn tránh. Cuốn sách thay vì lôi cuốn động viên, làm họ sợ. "Sinh viên" thực hơn, vui tươi và sinh động hơn. Chắc chắn cuốn sách sẽ được các học viên mới rời trường văn hóa yêu thích, nhưng chỉ có thể dịch nó trong thời buổi thanh bình.
Chỉ có "Tinh cầu" là thích hợp, cả ba người đều ưng ý. Truyện vừa, không quá hai trăm trang, có thể dịch để đọc trong ba, bốn tuần. Nội dung cảm động, nói về cuộc chiến đấu của một đội quân báo, công việc gian khổ của một điện đài hoạt động trong vùng địch hậu, mối tình giữa người đội trưởng và cô báo vụ viên.
Hoàng mượn Châu Ái Liên "Tinh cầu", mang về.
- Cô Châu đọc "Tinh cầu" chưa?
- Rồi. Cả bản Pháp văn và bản Trung văn. Trung Quốc cũng vừa dịch xong.
- Hay không, cô Châu?
- Hay lắm. Hợp với đại đội Thông tin của các anh lắm. Tiếng loa của tiểu đoàn đêm nào cũng vọng lên tận đây, nghe rất rõ. Tiếc quá! Nếu biết tiếng Việt, Châu sẽ thức và lắng nghe bản dịch của các anh.
Khi đã trở về Việt Nam, nhiều năm sau Hoàng vẫn luôn nhớ đến hai ông liên trưởng họ Mã, họ Trương và cô Châu. Nhất là những năm 59 - 60, vào đêm khuya, khi tiếng nói của đài phát thanh Bắc Kinh ca ngợi "Đại nhẩy vọt" và phê phán "bè lũ xét lại Liên Xô" được tiếp âm vang vang khắp phố phường Hà Nội.
Cuộc đời dâu bể, không biết ông Mã, ông Trương và cô Châu có được yên thân trong bước "Đại nhẩy vọt" và sau này, trong cuộc "Đại cách mạng văn hóa vô sản"?
Mãi đến ngày đó, Hoàng mới thực hiểu thái độ cam chịu của hai ông liên trưởng và Châu Ái Liên. Dân tộc thế nào thì số phận thế ấy, muốn có thêm một chút cơ may, một chút hạnh phúc đều không được.
Ai có thể chọn trước dân tộc đã sinh ra mình?
*
Khác với hai ông liên trưởng và cô Châu, cố vấn chính trị của Tiểu đoàn, Chu chính ủy có dáng dấp của một người đại diện cho quyền lực, thành đạt và mãn nguyện. Trông ông phương phi tốt tướng: da dẻ nhuận hồng, tai to mặt lớn, mắt phượng môi son... Lính tráng thấy ông thấp thoáng trên Tiểu đoàn bộ và chỉ rõ mặt ông trong các buổi lên lớp chính trị. Lúc nào ông cũng tươi tỉnh, ông cười với lính từ xa. Nhưng không hiểu vì sao, ông như rất gần mà lại rất cách biệt. Mỗi lời nói dù bình thường của ông, đều được cấp trên nhắc nhở như những khuôn phép khiến ông càng cao xa vời vợi.
Ở đại đội Thông tin, sau những tháng thực tập trên các mạng liên lạc, khóa học đã kết thúc. Các tiểu đoàn Bộ binh, Pháo binh, Công binh cũng kết thúc cuộc tổng diễn tập. Toàn trường bước vào chỉnh huấn chính trị.
Người ta sẽ gửi về chiến trường những sĩ quan đã được rèn luyện và được giác ngộ như thế nào? Tất cả do cuộc chỉnh huấn chính trị này quyết định.
Ngày ấy đảng cộng sản Việt Nam đã ra công khai. Người ta không còn dùng hai chữ "Đoàn thể" mà trước đó đảng viên và quần chúng vẫn thì thầm với vẻ bí mật pha lẫn cảm mến.
Trong bài giới thiệu kinh nghiệm của cuộc cách mệnh vô sản Trung Quốc, mở đầu cho cuộc chỉnh huấn, chính ủy họ Chu đã nhấn mạnh: ở Việt Nam cũng sẽ như ở Trung Quốc, dù mang cái tên thế nào, Giải phóng quân, Vệ quốc đoàn hay Quân đội nhân dân, thì quân đội cũng không thuộc về nhân dân. Thực chất, quân đội là của giai cấp vô sản, nói đúng hơn, của đảng của giai cấp vô sản. Nó là một phương tiện, một công cụ đắc lực của đảng của giai cấp vô sản để giành giật và giữ chính quyền.
Chính ủy họ Chu kêu gọi các học viên sĩ quan xuất thân từ mọi thành phần xã hội đầu hàng không điều kiện giai cấp vô sản và tư tưởng vĩ đại của giai cấp ấy, nếu muốn có chỗ đứng trong cuộc cách mệnh thần thánh này.
Sao đột nhiên Hoàng và bè bạn lại biến thành công cụ của giai cấp vô sản và lại phải đầu hàng không điều kiện?
Hoàng hoàn toàn thất vọng khi nghe bài giảng của ông Chu. Còn đâu nữa những tình cảm phơi phới, đầy thương mến của những buổi đầu cách mệnh và kháng chiến. Mới ngày nào, ở các buổi học tập chính trị trong nước, người ta xác định giai cấp tiểu tư sản là bạn của giai cấp vô sản. Những người bạn đồng minh lâu dài, cùng chịu áp bức, cùng đi cứu nước, đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau.
Nhưng ở đây, một trong những vùng đất thánh của cách mệnh vô sản, nơi mà Hoàng và bè bạn từng khao khát được một lần trong đời đặt chân tới, người ta kêu gọi Hoàng đầu hàng không điều kiện. Bạn sao lại phải đầu hàng bạn? Vậy những điều nói trước đây không phải là sự thật?
Ông chính ủy họ Chu thật là cực đoan. Hoàng chờ đợi một vị chỉ huy nào sáng suốt và dũng cảm, nói với lính: đó chỉ là kinh nghiệm người ta đã từng làm ở Liên Xô, ở Trung Quốc. Còn ở Việt Nam chúng ta thì khác. Việt Nam! Việt Nam! Ở đó, ngoài chính trị còn có hòa hợp, có yêu thương... Nói đi, nói đi, các vị chỉ huy. Nói đi cho lính tráng chúng tôi được yên lòng.
Hoàng chờ đợi hoài nhưng không một ai giải đáp. Sao lại phải đầu hàng giai cấp vô sản và tư tưởng của giai cấp ấy, dù tư tưởng đó vĩ đại như nó tự nhận? Những người phải đầu hàng họ thì đang ở bên kia trận tuyến. Còn Hoàng và các học sinh bè bạn, cùng trận tuyến, cùng gánh vác nhiệm vụ cứu nước với họ, Hoàng đâu cần đầu hàng ai để xin cho mình một chỗ đứng.
Hoàng hăng hái tranh cãi trong các buổi thảo luận. Ngày ấy, chưa có kinh nghiệm sống trong một chế độ đang chuyển đến chuyên chính, Hoàng nghĩ sao nói vậy, không hề biết điều đó sẽ đem lại hậu quả nặng nề.
Trịnh đã kịp thời chấn chỉnh sai lầm của Hoàng.
- Guồng máy đang quay, cản lại nó sẽ bị nghiền nát. Đừng làm những việc không đúng lúc. Ngay cả người đã phát động nó chạy cũng không còn cản được nó nữa rồi.
- Phải làm gì bây giờ?
- Mặc nó quay. Cãi vã nguy hiểm mà không kìm được nó. Vả lại mục đích của ta đâu phải để trở thành một anh quân nhân cách mệnh. Ngày nào hết chiến tranh, làm xong nghĩa vụ, về đi học, sống như một người dân bình thường.
Mỗi lần gặp khó khăn, họ hết sức tự kiềm chế, tránh những phản ứng chưa đúng lúc và tự an ủi: hết chiến tranh, về đi học vẫn còn chưa muộn. Ngày ấy họ cứ đinh ninh, dù thiết lập một chế độ chính trị gì đi nữa thì sau khi giành được độc lập, người dân bình thường vẫn có một khoảng riêng cho cuộc sống lương thiện của mình.
Để chuẩn bị cho cuộc tố khổ, phim Bạch mao nữ (11) được chiếu đi chiếu lại nhiều đêm. Nhiều người, không biết nỗi khổ thực sự của họ đến đâu, lăn lộn, gào thét, chửi rủa, ném đá rào rào lên màn ảnh khi thấy xuất hiện những nhân vật địa chủ, cường hào, ác bá. Không ít người ngất xỉu, phải khênh ra khỏi bãi chiếu bóng để cấp cứu. Thật hay giả?
Một cuộc lên đồng vĩ đại đã được khởi động.
Mọi sinh hoạt như đã ngừng lại. Không kèn gọi dậy. Không kèn đi tập. Không kèn cơm. Không điểm danh. Không kèn ngủ. Đài truyền thanh tiểu đoàn ngừng đọc "Tinh cầu". Thay vào đó là những bản tố khổ của các điển hình. Những ca khúc trong phim Bạch mao nữ: "Gió bấc thổi, hoa tuyết bay", "Bài ca của ông lão chăn dê họ Triệu" không ngừng được phát đi phát lại:
Nước trong veo, trời xanh xanh
Dưới chân núi, lúa bồng bềnh
Đất họ Hoàng đếm không xuể
Ruộng cao lương trùng trùng xanh
Nhà quyền quý, lầu gác tía
Đám tôi đòi đến bán mình
Đổ mồ hôi, thân trâu ngựa
Nỗi khổ này, ai thấu tình...
Rồi những buổi tố khổ được tổ chức. Sáng, chiều và tối, lính xách ghế lên hội trường ngồi nghe kể khổ. Các điển hình "có khổ" vừa "kể khổ" vừa khóc, nhiều lúc bỗng gào lên nức nở.
Đã bao lần Chu chính ủy đưa khăn thấm nước mắt. Cả Tiểu đoàn thấy ông khóc: ông xót thương các đồng chí khác biệt Tổ quốc nhưng cùng Giai cấp với ông.
Không khí tang tóc và thù hận bao trùm khắp nơi. Như có một khối thuốc súng đặt ở đâu đây, đang chờ để bùng nổ. Mọi người trở nên e sợ, dụt dè. Không ai dám nói to, cười to. Ngay cả tiếng nhai thức ăn trong các bữa cơm cũng bị lính kìm giữ cho nhỏ lại. Ai cũng trưng ra một khuôn mặt đăm chiêu, đau khổ để chứng tỏ lồng đồng cảm với những người anh em bất hạnh cùng giai cấp. Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua mà những bài ca và không khí ngày ấy vẫn dai dẳng hiện về trong kí ức của Hoàng.
Chưa bao giờ, chưa ở đâu lòng căm thù giai cấp lại được đề cao như ở đây. Nó là tiêu chuẩn hàng đầu cho đạo đức cách mệnh. Nó đã được nâng lên tới mức:"Căm thù là một nghệ thuật"(12). Làm sao có thể "phá sạch tan tành" "chế độ xưa" nếu không căm thù nó đến tận xương tủy?
Cái cũ đập phá tan tành rồi, người cách mệnh sẽ xây dựng cái mới, trên nền tảng nhân văn mới. Ở Trung Quốc không có những màu sắc nhờ nhờ, nửa chừng. Đỏ là đỏ, đen là đen. Yêu nhân loại là yêu ai, nếu không phải là yêu giai cấp vô sản, cái khối đông đảo và khốn khổ nhất của nhân loại này?
Sau tố khổ là phản tỉnh. Khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng, ca ngợi công ơn đảng và kêu gọi thành khẩn phản tỉnh, căng khắp nơi. Từng người, dùng lí luận vừa được trang bị, rọi vào quá khứ nhơ bẩn, xét đoán và phê phán nó để tỉnh ngộ về chính mình và tầng lớp xuất thân của mình, để nhớ công ơn cứu vớt của đảng.
Mỗi học viên viết một bản tự truyện. Dưới cột đèn nào trong doanh trại cũng có người ngồi cắm cúi viết đến khuya. Nhiều đêm, vài người chợt thức giấc lại im lìm ra khỏi giường, đến ngồi dưới cột đèn viết tiếp. Nhiệt tình của họ khiến Hoàng lo sợ vì bản tự truyện củ̀a Hoàng ngắn quá. Và Hoàng tự hỏi: họ viết gì nhiều thế, họ cũng như Hoàng ngày ấy, đều còn măng sữa, chưa hề từng trải việc đời?
Tự truyện viết xong đem thông qua tập thể. Anh xuất thân từ tầng lớp xã hội nào? Gia đình khá giả hay túng thiếu? Có biết sống dư dật ung dung trong lúc người vô sản đói khổ là tội lỗi? Giáo dục và học vấn bị đả phá kịch liệt: đã đi học bao nhiêu năm? Có biết càng đi học, càng bị đế quốc phong kiến nhồi sọ thì càng khó cải tạo? Kết bạn với những ai? Đã làm gì cho các đảng phái hoặc tôn giáo phản động? Có thấy nguồn gốc và quá khứ của mình nhơ bẩn, đầy tội lỗi? Có nhớ công ơn cứu vớt trời bể của đảng? Có quyết tâm cải tạo và xây dựng lòng căm thù giai cấp?
Phải sau phản tỉnh, sợi dây mới được nới chùng. Cuộc lên đồng đã chấm dứt. Các nhà lãnh đạo tư tưởng hỉ hả vì đã làm xong cuộc cải tạo tư tưởng vĩ đại những sĩ quan mới ra lò. Ngày vào trường họ chỉ là những học sinh yêu nước, nhưng ngày ra trường, họ đã trở thành những người con trung kiên của giai cấp, giác ngộ giai cấp đến chân răng kẽ tóc, lấy căm thù giai cấp làm động cơ cho mọi hành động.
Tiếp đến là những ngày nhớ công ơn đảng.
Người ta muốn những ngày này phải thật đình đám, tưng bừng. Các bữa ăn đươc cải thiện, được tăng thêm chất tươi. Các đại đội chuẩn bị tiết mục cho những đêm văn nghệ. Đài truyền thanh tiểu đoàn không còn phát những ca khúc Bạch mao nữ. Giờ truyền thanh được kéo dài,"Tinh cầu" lại được đọc tiếp trong các buổi đọc truyện đêm khuya. Trịnh, Quang và Hoàng được lệnh dịch gấp một truyện gì đó thật hay để đọc tiếp khi "Tinh cầu" đã hết.
Chẳng những thế, tiểu đoàn còn tổ chức lớp dạy quốc tế vũ: Tango, rumba, vasle, boston... Không có nhạc, các quản ca thay nhau gõ trống làm nhịp. "Cắc! Tùng! Tùng!" "Cắc! Tùng! Tùng!" "Cắc! Tùng! Tùng!" Không có nữ, chỉ toàn lính tráng nhẩy với nhau.
Nhưng dăm ba ngày nghỉ ngơi không đủ làm Hoàng lại sức. Hoàng thấy mệt rũ. Tư tưởng như đã bị chấn thương. Lúc nào Hoàng cũng thấy mình lạc lõng, bơ vơ, chẳng còn biết trông cậy vào đâu, ngoài tình bạn với Trịnh.
(còn tiếp)
Nguồn: Trang lứa. Truyện vừa của Vũ Hùng. Viết & in tại Pháp sau năm 1991. Bản điện tử của vu-hung.com
_______
(5) Tiếng lóng để chỉ 3 chữ tắt T.T.S: Tiểu tư sản.
(6) Đại đội trưởng.
|