tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
31.03.2015
Vũ Hùng
Trang Lứa


Chương 3



Đại đội được nghỉ cả tuần để chuẩn bị ngày về. Những năm tháng khổ luyện đã chấm dứt, nhường chỗ cho những ngày thảnh thơi. Súng đạn và xẻng cuốc đã trả kho. Không còn kiểm tra nội vụ. Không còn bị phê bình vì chăn gấp không vuông, giầy để không thẳng hàng. Không họp hành. Không kiểm điểm. Không kèn báo động. Ngay khi kèn dậy đã nổi, vẫn có thể lười biếng nằm thêm trên giường mươi phút mà không ai nhắc nhở.



Một buổi sáng, phó cạo tiểu đoàn lại tới, bày đồ nghề bên phiến đá dưới bóng cây tùng trước cửa giảng đường. Lại như ngày nào khi Hoàng mới về đại đội, chỉ khác phó cạo là lính mới, Hoàng gặp lần đầu. Phó cạo cũ, phục vụ đã lâu năm, được chọn đi học khoa Quản lý hành chính, một khoa mới khai giảng của nhà trường, đào tạo các sĩ quan hậu cần.



- Thủ trưởng ngồi xuống đây. Thủ trưởng cắt kiểu gì? Cắt "bốc", "móng lừa" hay nuôi tóc?



- Mình nuôi. Liệu ba bốn tháng, tóc đã dài chưa?



- Mỗi tháng thêm một phân, tạm rẽ ngôi cũng được rồi, thủ trưởng ạ.



Hoàng vừa định cởi áo ngoài thì chàng phó cạo đã giữ tay Hoàng lại và sốt sắng nói:



- Thủ trưởng không phải cởi áo, để tôi khoác cho thủ trưởng tấm vải choàng rộng.



- Anh bạn ơi, đừng đùa nữa! Thủ trưởng gì bọn mình, mới học xong, đầu lính cuối quan ấy mà!



- Một tí quan thì cũng là thủ trưởng. "Binh sĩ hướng thủ trưởng kính lễ"(13). Chẳng gì thì các thủ trưởng cũng đã là thủ trưởng trung đội, chỉ huy mấy chục con người. Về chiến trường thì lên đại đội, tiểu đoàn mấy chốc.



- Đâu mà dễ dàng thế, anh bạn ơi!



Phó cạo quân sự vốn bông lơn, chẳng biết chàng phó cạo này "kính lễ" thật hay đùa.



Cũng như bạn bè, Hoàng dành phần lớn thời gian để mua sắm những đồ cần thiết cho ngày về. Cải cách ruộng đất qua lâu rồi mà chợ vẫn vắng teo. Các cửa hàng không mở lại. Vài món hàng có thể mua được là những tấm gương soi hai mặt, những bánh xà phòng "Đêm Thượng Hải", thứ đồ rẻ tiền còn sót lại trong các gánh hàng xén mà những người dân kiệt quệ không còn mua nổi.



 



Các thứ khác, mua đồ căng tin trên Hiệu bộ. Chẳng có gì nhiều: sổ tay, khăn mặt, mùi soa, bút máy "Anh hùng", thuốc lá "Đoàn kết". Những thứ đắt tiền, có thể bán đi những lúc ốm đau như đồng hồ, nhẫn... thì từ mấy tháng trước, phải gửi người lên mua tận thủ phủ Côn Minh.



 



Sau khóa học, ai cũng dành dụm được một món tiền nho nhỏ. Nhưng hàng không có nhiều, bán theo phân phối nên tiền không tiêu hết, đành để cho anh em ở lại. Ít thì coi như quà tặng. Nhiều thì người nhận cho lại chiếc đồng hồ, chiếc nhẫn mà họ vẫn giữ làm của phòng thân.



 



Ngày về, đại đội sĩ quan Thông tin cùng một đại đội sĩ quan Pháo binh và một đại đội sĩ quan Bộ binh được biên chế thành một tiểu đoàn.



 



Sau một đoạn đường vài trăm cấy số được đi bằng xe lửa, tiểu đoàn xuống ga, hành quân bộ. Cứ đi ba ngày nghỉ một ngày. Bẩy ngày về biên giới. Bẩy ngày nữa về đến Bộ Tổng tư lệnh. Từ đó các sĩ quan mới đào tạo sẽ được tung đi khắp các chiến trường.



 



Buổi xuất phát, trực ban tiểu đoàn giới thiệu "Mười nhanh ba chậm", phương thức hành quân đường dài của Bát lộ quân. Để các sĩ quan mới ra trường thử áp dụng, rút kinh nghiệm chỉ huy đơn vị hành quân sau này, khi trở về chiến trường.



 



Bước nhanh mười bước, đếm theo từ một đến mười. Rồi theo nhịp kéo dài, đếm và bước chậm ba bước. Vừa bước vừa đếm. Thở đều. "Thập khoái, tam mạn". Mười nhanh để rút ngắn đường, ba chậm để nghỉ, cứ đều đặn như thế mà đi. Tập trung vào nhịp đếm, đường xa sẽ bớt dài. Chỉ đếm vẻn vẹn đến mười mà vượt nổi con đường ngàn dậm.



 



Hoàng đã thử nhiều lần nhưng không hợp với thể trạng của mình. Mệt quá. Phương pháp nặng nhọc và khắc khổ, giống như phép luyện "thần hành" của một đạo giáo hoặc một môn phái võ lâm nào trên đất Trung Quốc thời xa xưa.



 



- Thế nào, Trịnh? Thử chưa?



 



- Điều đó có thể thích hợp với lính Trung Quốc nhưng không thích hợp với bản thân mình. Chân bước đã mệt thì phải để cho cái đầu được thảnh thơi. Càng tập trung nghĩ đến con đường, càng mệt.



 



- Mệt thật. Cứ như ta đang trở về thời Thủy Hử, cùng với người chạy tin Thần hành Đái Tôn dán hai đạo bùa vào hai bắp chân để đi cho nhanh.



 



- Tốt nhất là đừng đếm, để mắt nhìn cảnh. Tâm hồn thoải mái, đường sẽ bớt dài. Đi đường xa không nhìn cảnh thật phí. Sẽ chẳng có dịp để nhìn lại.



 



Thay vì đếm "Thập khoái tam mạn", Hoàng nhìn mây trắng, trời xanh. Nhìn những ngọn núi tím biếc, những rừng tùng reo hát, những thác nước ào ào, những con đường uốn lượn...



 



Đã qua sáu ngày hành quân. Vùng đất tiểu đoàn đi qua, bé như một manh chiếu trên đất nước Trung Quốc mênh mông, nhưng đã gặp bao điều kỳ lạ.



 



Long Sở với những đỉnh đèo cheo leo rợp bóng rừng tùng, đi trong rừng, dưới những vách đá dựng đứng và những đám mây lãng đãng, như đi trong một bức tranh rộng lớn vẽ bằng mực Tàu.



 



Bình Viễn Cái, một làng Hồi giáo với ngôi đền thờ kiến trúc theo lối Ảrập, đứng lẻ loi giữa một vùng Nho giáo và Phật giáo bao la. Mối liên hệ nào đã đưa Hồi giáo đến được vùng cực Nam xa xôi hẻo lánh này của Trung Quốc?



 



Tây Thọ, một huyện thành còn mang nhiều nét bí hiểm của thời phong kiến cát cứ, đêm đêm vẫn còn người "công sai" mang cồng vừa đi vừa đánh, kêu gọi cẩn thận củi lửa và báo giờ trong các ngõ tối.



 



Giao Chí Sìn - Giao Chỉ Thành - với dấu vết đã sụt lở của những thành lũy bao quanh. Sao lại Giao Chỉ Thành? Có phải nơi đây đã từng là thành trì của người Giao Chỉ?



 



Cuối cùng là thị trấn sơn phòng Ma Lì Phố, một cửa ải trên ngọn núi cao ngất, lúc nào cũng vương vất mây mù.



 



Như ngày Hoàng đi, Ma Lì Phố vẫn sừng sững đứng đó, cheo leo trên mỏm núi, với nhũng mái ngói phủ rêu, với chiếc cầu đá bắc qua khe, một trong những ngọn nguồn của dòng sông Lô, với hàng liễu xanh mướt, nơi những người mã phu thồ lê táo sang Hà Giang thường ngừng lại, bẻ cành làm roi ngựa. Xa xa, tít mù bên dưới là dốc Cổng Trời dựng đứng và bên dưới nữa là những giải ruộng bậc thang, những cánh rừng thăm thẳm, nơi dựng tấm bia Lạc Long Quân phân định ranh giới hai nước.



 



Tiểu đoàn được lệnh chỉnh đốn lại trang phục trước lúc đi vào Ma Lì Phố. Người phụ trách tiểu đoàn, tốt nghiệp khóa đầu tiên của trường, đã từng chỉ huy một trung đoàn ngoài mặt trận, muốn tiểu đoàn tiến vào Ma Lì Phố với tư thế thật hùng dũng, xứng đáng là một tiểu đoàn sĩ quan. Đoàn quân sẵn sàng theo lệnh ông, biểu dương sức mạnh của đội ngũ và niềm phấn khởi trước khi xa rời cái sơn trấn Trung Quốc cuối cùng này để trở về đất nước.



 



Hoàng lột bỏ chiếc mũ mềm, lau mặt bằng tấm khăn bông khét mồ hôi, đã khô cong và đỏ quạch vì bụi đường. Cũng với tấm khăn, Hoàng phủi lớp bụi bám trên quần áo và trên chiếc ba lô quấn bằng chăn, bó dây ngang dọc như chiếc bánh chưng, lau bóng chiếc nón mây sơn vàng, mang huy hiệu "Bát nhất"(14), rộn ràng nghĩ đến lúc được cởi bỏ tất cả những thứ này để nhận lại chiếc mũ nan thân thuộc bọc lưới, buộc những túm vải dù ngụy trang cùng chiếc ba lô nhiều mảnh rất gọn và tiện lợi...



 



Trực ban tiểu đoàn đã hô tập họp. Các tiểu đội trưởng ra khỏi hàng quân, kiểm soát trang phục từng người. Một cuộc kiểm tra nghiêm ngặt nhưng quen thuộc, mỗi khi có cuộc diễu hành nghi thức. Mũ không được đội lệch. Quai ba lô cân trên hai vai. Nón và ba lô ngay ngắn trên lưng. Khóa dây lưng đặt đúng giữa bụng. Tà áo bên dưới thắt lưng không dúm dó mà xòe đều ngang hông. Giây giày buộc nút kép... Cả trăm, ngàn người như một.



 



Một tiếng hô "nghiêm" vang vọng. Lệnh hành tiến. Đoàn quân chuyển mình. Nhịp chân bước rầm rập. Những bộ ngực trẻ trung căng lên. Những cánh tay lực lưỡng đánh mạnh...



 



Đoàn quân đã tiến đến gần trạm tiền tiêu thị trấn. Có lệnh truyền xuống cho đơn vị hát. Quản ca bước ra khỏi hàng, lấy giọng:



 



- Ù xing hùng xì ing phong phieo yang...



 



Đoàn quân hát theo. Bài hát Trung Quốc hát lần cuối để từ giã những năm tháng khổ luyện.



 



Trấn sơn phòng Ma Lì Phố chỉ có một đường phố chính. Nghe tiếng quân ca, người dân kéo ra xem hai bên đường. Những ông già ngồi trên bậu cửa. Họ không ngừng hút thuốc và phun khói từ những ống điếu dài nghêu. Bọn trẻ nhóc đứng phanh bụng, trố mắt nhìn. Các cô nương, vẫn tóc cài trâm ngọc và mặc "hồng trang" tươi sáng, cười mủm mỉm. Họ bẽn lẽn che mặt, mỗi khi bắt gặp một cặp mắt lính nhìn lại hơi lâu.



 



Xuống đến Thanh Thủy, trời đã chiều. Nhìn lại phía sau, Ma Lì Phố khuất trong mây. Giáp ranh giữa hai nước, nơi dựng tấm bia Lạc Long Quân, có một tấm ván đóng trên cột tre. Mặt ván hướng về phía đoàn quân mang hàng chữ: "Lục quân 7! Tổ quốc chờ mong!"



 



Ngày Hoàng rời Việt Nam, trên mặt ván phía bên kia là khẩu hiệu: "Chất tươi Ma Lì Phố chờ đón anh em khóa 7". Ngày về, nhà trường đang chuẩn bị cho khóa học mới, hai chữ khóa 7 đã được thay bằng khóa 8: "Chất tươi Ma Lì Phố chờ đón anh em khóa 8"



 



"Lục quân 7! Tổ quốc chờ mong!" Dòng chữ giản dị ngân vang trong các sĩ quan mới ra trường như những tiếng gọi. Quản ca bỗng lấy giọng, không chờ lệnh. Tiếng hát vọng lên, thoạt đầu dụt dè rồi vang động, lan nhanh xuống phía dưới hàng quân. Cả tiểu đoàn bừng bừng hát bài ca của nhà trường:



Thề cùng non sông



Lục quân Trần Quốc Tuấn



Xua sài lang



Giữ yên biên thùy...



*



Từ Việt Bắc, đại đội của Hoàng được tung đi khắp các chiến trường. Người xuống Quân khu Ba. Người vào Quân khu Bốn. Người đi cực nam Trung bộ. Người lên Tây Nguyên. Người vào tận mịt mùng Nam bộ.



Trịnh và Hoàng chia tay, mỗi người đi mỗi ngả: Trịnh được điều động về một đại đoàn quân chủ lực còn Hoàng thì sang Lào, đến tăng cường cho đơn vị Thông tin của trung đoàn quân Tình nguyện Việt Nam đang hoạt động tại Trung Lào.



Cuộc hành quân ngàn dặm lại tiếp tục với đôi chân không mệt mỏi. Mấy ngày đầu, từ Thái Nguyên sang Phú Tho, Hoàng được đi với Quang, người ngày nào đã cùng Hoàng dịch "Tinh cầu" cho đài phát thanh của tiểu đoàn. Họ cùng ghé thăm gia đình người chị hai của Hoàng lúc đó đã được phục hồi công tác. Sau khi chia tay, Quang về đơn vị mới, một mình Hoàng dấn bước trên con đường thăm thẳm: Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, rồi Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình...



 



Tới đây, theo đường 12, đi dưới những cột thép cao ngất của đường tàu treo trên giây cáp đã bỏ hoang, Hoàng qua Tân Ấp, Thanh Lạng, Xóm Cục và vượt đèo Mụ Giạ. Xuống đến chân đèo đã là đất Lào. Những cánh rừng mịt mùng phủ kín sườn núi, đầy gai góc và chằng chịt dây leo, nhường chỗ cho những rừng phẳng bát ngát, xen lẫn những khoảng ruộng lúa nước. Tầm mắt rộng thênh thang, thỉnh thoảng mới bị vướng bận vì một dãy lèn đá chơ vơ nhô lên từ đâu đó.



 



Chỉ vượt khỏi Trường Sơn, bề ngang không quá 100 cây số, Hoàng đã bước vào một nền văn hóa rất khác biệt. Nền văn hóa của một vùng đất cổ sơ, chưa bị các cuộc chiến tranh xâu xé, tàn phá. Nền văn hóa của Bình Yên, của Nghỉ Ngơi, của Yêu Đương...



 



Lào là nước "mưa dầu, nắng lửa". Từ tháng tư đến tháng tám, mưa lũ triền miên, nước cuốn ào ào. Nhà ở phải là nhà sàn, dựng trên những cột cao chống lũ. Những tháng còn lại, nắng chói chang, đến ngạt thở. Nhà phải làm rộng, thoáng và hơi tối, vì nhà là chốn để nghỉ ngơi. Chẳng ai muốn vất vả làm giàu. Kiếp người ngắn ngủi, con người sinh ra đâu phải để chịu khó nhọc. Đủ ăn, đủ mặc là được rồi, mà đất Lào thì kiếm đâu chẳng có cái ăn.



 



Chiều chiều ở các làng bản, những chàng trai tóc chải dầu dừa bóng nhẫy, khoác chiếc áo trắng cổ đứng, vàng chói một hàng khuy đồng, quấn ngang hông chiếc váy tơ nhiều màu, chân mang đôi dép Thái Lan, mải mê thổi cây khèn ống sậy đi kiếm người tình. Nếu không ưng những cô gái ở bản mình thì anh ta mang cây khèn đến kiếm bạn ở các bản làng bên cạnh.



 



Từ trên sàn cao, cô gái hồi hộp nghe điệu khèn và ghé nhìn qua khung cửa khép hờ. Nếu vừa lòng, cô sẽ lẳng lặng đi xuống. Ông bà, cha mẹ không một ai can ngăn. Họ cũng đã từng qua một thời tự do xao xuyến như thế, trước khi từ bỏ mọi cuộc rong chơi để lập một gia đình bền vững



 



Chùa chiền được dựng khắp nơi. Ở những bản làng xa xôi hẻo lánh, không có trường nhưng vẫn có chùa. Con trai vừa đi tu, vừa học trong chùa, trước hết là học làm người hiền lành tử tế rồi học chữ, đến tuổi trưởng thành mới cởi áo sư, về nhà tìm vợ.



 



Bữa cơm thanh đạm nhưng bao giờ cũng có phần dành cho khách lỡ đường, cần cứu giúp. Nếu không có ai đến thì phần ấy lại dành cho người khách lạ hôm sau. Không nuôi lòng thù hận. Không một chút ý nghĩ tàn bạo, một mưu mẹo lắt léo trong đầu.



Bộ đội Lào hoặc bộ đội Tình nguyện bị Tây lùng đuổi, họ đem giấu trong rừng, ngày ngày mang cơm nước tới nuôi. Tây bị lùng đuổi, họ cũng giúp như vậy.



- Sao lại cứu giúp giặc Tây? Nó cướp nước ta mà.



- Ai gặp khó khăn thì cứu giúp thôi!



Đối với họ, lòng từ thiện là trên hết. Cứu giúp người hoạn nạn, dù người đó ở phía nào, bao giờ cũng là nghĩa vụ cao cả thiêng liêng.



Đất nước có chiến tranh mà vẫn như một đất nước bình yên. Máu lửa chỉ diễn ra vào các mùa chiến dịch. Hết chiến dịch, cuộc sống trở lại bình thường, không khí trận mạc chỉ tái diễn khi bắt đầu một chiến dịch mới...



*



Điện đài quân báo.



Từ ngày cùng các bạn dịch "Tinh cầu", mấy tiếng "điện đài quân báo" lúc nào cũng vang vọng trong Hoàng. Tuổi trẻ dễ dàng học theo những tấm gương. Hình ảnh viên trung úy đội trưởng quân báo và cô báo vụ, mối tình của họ... là ước mong của Hoàng những năm tháng đó.



Cuối cùng rồi mong ước cũng được thực hiện: sau nhiều tháng phục vụ ở hậu cứ của Trung đoàn, Hoàng và Tráng, một điện báo viên đã được điều động sang Lào từ những năm trước, mang đài đi theo một đội quân báo. Đơn vị đi sâu vào vùng địch, thu thập tin tức cho chiến dịch sắp tới.



Để ngăn chặn cuộc tiến công đang âm thầm chuẩn bị, địch cũng tung một đội quân báo ra vùng tự do. Hai đội đều có điện đài. Để tăng cự li liên lạc và giữ bí mật, điện đài địch không liên lạc nói như thường lệ mà liên lạc tín hiệu. Mỗi lần làm việc, tín hiệu của hai bên đập vào máy nhau. Đội nào cũng biết có một điện đài địch đang làm việc gần đâu đó, nhưng không có phương tiện định vị để phát hiện vị trí chính xác của đối phương.



Đơn vị Hoàng được lệnh rút về vùng tự do, tìm diệt đội quân báo địch. Để giữ bí mật hành trình của đội, điện đài hạn chế phát sóng. Ở Bộ chỉ huy, người ta canh thường trực với điện đài của Hoàng, lắng nghe Hoàng 24 giờ trên 24, nhưng mỗi ngày Hoàng chỉ liên lạc một lần, giữa đêm khuya. Im lặng. Dò tìm... Khi đài địch lên máy, tín hiệu của họ va đập vào máy của Hoàng lúc mạnh, lúc yếu. Điều đó chứng tỏ khi thì họ ở gần Hoàng, khi thì họ ở xa: họ đang hành quân. Có lúc tắt hết mọi va đập, chỉ còn tìm thấy tín hiệu của họ trên một tần số nhất định: đội quân báo địch đi xa rồi.



 



Cho đến một buổi, tín hiệu của họ lại va đập rất mạnh, như có ai gõ vào máy của Hoàng, dù ăng ten đã được rút ra khỏi máy. Địch đã ở rất gần. Có lẽ khoảng cách giữa Hoàng và họ không quá một kilômét.



 



Một cuộc tập kích chớp nhoáng được tổ chức. Tráng đi theo để kịp xử lí khi bắt được điện đài địch. Hoàng ở nhà chờ kết quả để điện về Bộ chỉ huy.



 



Hoàng nghe vẳng một loạt K50. Không thấy tiếng súng kháng cự của địch. Nửa giờ sau, một chiến sĩ quân báo đã về đón điện đài đến trận địa.



 



Đội quân báo địch đóng trong hang núi. Điện đài đặt ở một góc, ăng ten dẫn ra ngoài dọc theo một cành cây để ngụy trang.



 



Tráng kể lại: đơn vị áp sát rất nhanh. Tên lính gác cửa hang bị vô hiệu hóa, bên trong không hề biết gì. Khi người quân báo đầu tiên và Tráng ló mặt vào hang, viên chỉ huy rút súng và cho lệnh điện đài mở máy gọi cấp cứu. Nhưng hắn chưa kịp nổ súng thì người quân báo đã bắn một loạt K50. Hắn gục ngã.



Tráng hô to:



- Vất súng xuống! Giơ tay lên! Các anh đã bị bao vây.



Toàn đội đã vào trong hang. Thấy lực lượng chênh lệch, dịch vất súng xuống đất, đầu hàng.



Các trinh sát địch bị dồn vào góc hang. Rất nhanh, một cuộn dây dù được rải ra, trói tay họ người nọ vào người kia. Riêng viên đài trưởng vẫn được tự do, đứng bên bộ máy dã chiến.



- Tráng, cậu đến dịch cho tôi.



Như phần đông các điện báo viên thời ấy, thường xuất thân là học sinh, Tráng cũng nói được đôi chút tiếng Pháp. Đội trưởng hỏi và Tráng dịch lại. Tên họ, cấp bậc, đơn vị, nơi đồn trú. Rồi...



- Nhiệm vụ của anh?



- Thưa ông, truyền tin.



- Nhiệm vụ của đơn vị?



- Thưa ông, tôi chỉ biết là đi trinh sát. Nhiệm vụ cụ thể, chỉ ông sĩ quan của tôi mới biết rõ.



- Đội có bao nhiêu người?



- Mười một.



- Bốn người nữa đâu?



- Đi trinh sát chưa về.



- Bao giờ về?



- Họ thường về vào ban đêm.



- Về theo lối nào?



- Lối các ông vừa vào.



- Lính gì?



- Hai Bắc Phi. Hai Lào.



- Trang bị gì?



- Tiểu liên Mas.



- Điện báo đâu?



- Sổ báo vụ đây. Còn điện và sổ mật ngữ thì ở trong "xà cột" của ông sĩ quan, tôi không được phép giữ.



Đội trưởng lấy chiếc "xà cột" vướng trên vai viên chỉ huy. Tráng thu thập giấy tờ và sổ sách của điện đài, đưa cho anh.



- Anh có thể làm gì cho chúng tôi? Đội trưởng hỏi viên đài trưởng.



- Thưa ông...



- Anh có thể làm gì?



Sau một lúc suy nghĩ, viên đài trưởng trả lời:



- Có thể xin thả dù tiếp liệu. Điện xin tiếp liệu bằng mật ngữ vẫn do ông sĩ quan tự thảo. Nhưng xin cho mượn sổ, tôi thử...



Đội trưởng đưa sổ. Lát sau, bức điện được thảo xong. Đội trưởng nhìn những hàng chữ vô nghĩa, bảo Tráng:



- Cậu dịch lại cho tôi nghe.



Tráng đối chiếu bức điện với sổ mật ngữ:



"Xin tiếp liệu. Đạn và lựu đạn tấn công... Pin cho điện đài... Thuốc... Lương khô... Thời gian: 23 giờ đêm nay, ngày... tháng... Tọa độ địa điểm: X... Y... Hiệu lệnh: lửa.



Kí tên: Trung úy... "



Đọc xong bản dịch, đội trưởng lộ vẻ nghi ngờ:



- Kiểm tra lại xem có thể là một cái bẫy không?



Tráng lại cắm cúi tra cứu.



- Theo mật ngữ trong sổ thì nội dung đúng là như vậy.



Đội trưởng gay gắt bảo viên đài trưởng:



- Anh phải chịu trách nhiệm về bức điện này.



- Tôi xin chịu trách nhiệm. Là tù binh, tôi muốn làm một việc có ích cho các ông để đựoc khoan dung. Ông có thể trừng phạt tôi, nếu có điều gì gian trá. Trừ khi vì một lí do nào đó, như thời tiết xấu, máy bay không tới được.



Sau cuộc hỏi cung, tất cả tù binh và điện đài được di chuyển tới một địa điểm khác. Đội trưởng bố trí một nửa tiểu đội ở lại chờ sẵn bốn trinh sát địch sắp trở về. Số còn lại, tới địa điểm đón tiếp liệu.



23 giờ thiếu 5 phút, lửa hiệu bắt đầu được nhóm trên một bãi rộng. Một đống lửa lớn như lửa đốt rẫy ở giữa, bốn cụm lửa nhỏ ở bốn góc bãi.



Trời đêm trong veo. Lửa cháy bừng bừng. Thời khắc nặng nề trôi. Đứng khuất dưới một lùm cây, đội trưởng chốc chốc lại nhìn xuống chiếc đồng hồ dạ quang lấp lánh đeo trên tay.



Đúng 23 giờ. Rồi 23 giờ 1 phút... 23 giờ 5 phút... 23 giờ 10 phút... Không một tiếng động cơ ì ầm, trời đêm vẫn hoàn toàn yên tĩnh.



- Đêm nay thời tiết tốt quá! Anh trả lời sao về việc này?



Đội trưởng giận dữ hỏi viên đài trưởng, tay chỉ lên bầu trời đầy sao.



Viên đài trưởng trả lời:



- Thưa ông, có thể do thiếu một mã số bí mật nào đó mà chỉ riêng ông sĩ quan của chúng tôi nắm giữ.



Rổi nhìn Tráng với đôi mắt cầu khẩn, viên đài trưởng nói tiếp:



- Ông chắc là người trong ngành, ông biết rõ. Xin ông nói giúp tôi: điện báo viên chỉ có trách nhiệm truyền tin mà không biết chút gì về khoá mã. Tôi hoàn toàn không dám lừa dối các ông.



... Cùng lúc ấy, bốn trinh sát địch trở về. Họ làm hiệu từ xa, trước lúc tới hang, nhưng không thấy trả lời. Lập tức họ ngừng lại. Nhưng đã muộn. Sáu chiếc đèn ló đã lóe sáng, rọi thẳng vào mắt làm họ luống cuống.



- Vất súng xuống! Giơ tay lên!



*



Đêm tháng tám tràn đầy ánh trăng. Vầng trăng Lào dịu mát lơ lửng trên bầu trời như một chiếc âu bạc, giữa muôn ngàn sao biếc. Gió mang vào nhà mùi hoa lá và tiếng thì thào của con suối bên rừng.



Nằm trong màn, Hoàng bâng khuâng nhìn ra ngoài trời như qua một mành tơ, khoan khoái hít thở hương thơm của hoa đêm đã được hơi nước của dòng suối bay lên làm cho mát rượi.



Từ màn bên, Tráng nói vọng sang:



- Thơm quá! Lẫn trong các hương thơm này có một làn hương dịu dàng, man mác thoảng bay vào, cậu phân biệt được không?



- Mình chịu. Cậu ở đất này lâu, cậu đã quen, nhưng điều ấy quá tinh tế đối với mình.



- Đó, đó! Cậu thử hít thở đi. Thích thật! Mùi hoa chămpa(15). Sao bên này họ trồng nhiều hoa chămpa thế. Nó làm mình nhớ đến ngôi chùa làng mình. Trưa hè dù oi bức đến đâu, vào tới sân nhà hậu là thấy trời đất như mát dịu, nhờ những cây hoa đại và hoa mộc tỏa hương bên bể nước mưa...



 



Có tiếng kèn lá vẳng bay về từ đâu đây. Tiếng một cô gái gọi người tình. Hoàng như hình dung được cô đang kẹp chiếc lá rừng mỏng manh giữa các ngón tay. Cô ghé môi thổi vào đó làn hơi nóng hổi của mình, làm bay ra một chuỗi dài những tiếng gọi run rẩy.



 



Lắng nghe những âm thanh phảng phất đang làm xao xuyến trời đêm, Hoàng bỗng nhận ra không phải chỉ có một điệu kèn. Ai đó đang mời gọi ở rất gần, ngay đầu nhà, nơi có những bụi chuối đang nghiêng các tàu lá non tắm ánh trăng. Còn một tiếng nữa bay về từ xa, thoang thoảng rồi rõ dần, nghe như thở than, chờ đợi.



Sau những chiến dịch đi ngang dọc trên đất nước này,



Hoàng cũng đã như Tráng, đủ hiểu biết để nhận ra tiếng gọi gửi trong âm thanh đam mê của chiếc kèn lá.



Cái tiếng ở gần ngân lên thiết tha:



Ơi chiếc lá rừng chiếc lá rừng



Hãy ngân vang ngân xa



Cho chàng trai nghe thấu lòng ta...



Và cái tiếng ở xa thì thổn thức:



Như con nai tơ gọi con nai tơ



Như con hươu vàng mong con hươu vàng



Người tình ơ... ơi



Đừng hoài phí



Đêm trăng đầu tháng chóng tàn...



Tráng khe khẽ đá vào chân Hoàng, thì thầm:



- Họ đang gọi bọn mình đấy. Nhớ không, hồi chiều bọn mình đã gặp họ.



Buổi chiều hành quân vào bản này, bản Na Nhôm, Hoàng và Tráng đã gặp hai cô gái ấy. Lính tráng vẫn thì thầm với nhau: những cô gái Lào xinh đẹp không kém bất cứ những cô gái ở nơi đâu, lại rất tự nhiên, rất mời gọi, may mắn cho ai lọt vào mắt họ...



Nhưng cuộc gặp gỡ buổi chiều không làm Hoàng rung động, khiến Hoàng quên ngay. Lúc ấy họ mới đi nương về. Hai giỏ nấm vừa hái để trên bờ, chừng như nấm hương, thoảng bay mùi thơm. Còn họ thì đang ở dưới suối, lưng quay về phía Hoàng và Tráng. Hai tấm áo với nhiều mảnh vá trên vai và trên lưng, hai chiếc váy Lào sờn cũ với những hoa văn màu vàng và màu chàm đã phai bạc, buông sát mặt nước, chẳng để lộ một chút vẻ đẹp nào trước những cặp mắt lính khát khao.



Đúng lúc Hoàng và Tráng đi qua, họ quay lại nhìn. Hoàng thấy mặt họ lem nhem những vết than đen. Ở những bản làng heo hút, rất xa cách với văn minh này, các cô gái thường chà răng cho trắng bằng cát mịn hoặc bột than mang về từ trên nưong rẫy. Họ khoát vội mấy làn nước lên để rửa mặt, vừa bẽn lẽn cười vừa cúi chào khách lạ. Vì vội vàng, nước chưa xối hết bột than nên dù một vài chiếc răng trắng đã lộ ra như những ánh bạc, nụ cười của họ vẫn còn đen. Với nụ cười ấy, không thể đoán biết họ đẹp hay xấu.



 



Hoàng đang cố gắng hình dung lại khuôn mặt của họ thì tiếng kèn lá nơi đầu nhà lại ngân vang khiến Tráng lại đá chân sang phía Hoàng.



 



Ôi cô gái Lào khao khát yêu đương và can đảm. Cô chẳng biết sợ hãi là gì. Rừng đêm vắng lặng, những vị chỉ huy lầm lì sắt đá, những người lính cảnh vệ súng lăm lăm trong tay, đang đi đi lại lại ở kề bên, tất cả chẳng là gì đối với cô. Cô làm Tráng lục đục không yên. Cuối cùng, không cưỡng được tiếng gọi quyến rũ của chiếc lá rừng đang rung động trên môi cô, Tráng, đã quá quen với đất Lào, thò đầu hẳn sang bên màn Hoàng, van vỉ:



 



- Chỉ là nếp sống bình thường ở nơi này, có gì đâu mà phải giữ gìn! Cậu đi trước, khi cậu về, mình đi. Sẽ chẳng ai biết, nếu bọn mình giữ cho nhau.



 



Hoàng nghĩ: phải, sẽ chẳng ai biết nếu cả hai cùng giữ kín. Hai cái màn lính mắc kề bên nhau, ít nhất lúc nào cũng có một người nằm bên trong, khi cần người nọ có thể sẵn sàng cất tiếng hộ người kia.



 



Nhưng Hoàng lặng yên, không biết phải trả lời Tráng ra sao. Thấy Hoàng im hoài, Tráng nói tiếp:



 



- Chiến dịch lại sắp mở màn, lần này biết còn hay mất. Đi đi, chẳng rồi lại tiếc. Có nghe rõ chiếc kèn lá không: Đêm trăng đầu tháng chóng tàn...



Đã bao lần, khi chiến dịch bắt đầu, không ai nói với ai nhưng cả Hoàng và Tráng đều mong qua được trận này để còn kịp yêu đương. Đất nước này thanh bình, hiền hòa quá, với những nhà sàn xinh xắn nằm thấp thoáng dưới cây lá, hứa hẹn một cuộc sống êm ả, với biết bao cô gái đẹp chưa từng ai biết đến, như những bông phong lan ta bất chợt gặp trong rừng.



Nghe Tráng nhắc tới chiến dịch, Hoàng ngập ngừng:



- Tráng đi trước đi, mình trông nhà.



- Cẩn thận nhé! Đừng để lộ!



- Cứ yên tâm mà đi.



Rất nhẹ nhàng Tráng chui ra khỏi màn, cẩn thận giắt lại bốn phía diềm màn rồi rón rén xuống thang.



Tiếng kèn lá nơi đầu nhà đã tắt. Tráng và người tình chưa rõ mặt của Tráng lặng lẽ đi vào bóng tối. Họ theo con đường bí mật, do cô gái dẫn đi, rón rén như một đôi thú rừng trong mùa trăng mật, dù lính cảnh vệ có chú ý đến đâu cũng không phát hiện được.



Chỉ còn cái tiếng lá xa xăm đang gọi Hoàng và đang tiến lại gần. Lúc này trăng và tiếng lá làm Hoàng rung động đến bồi hồi. Từng phút dài dặc trôi qua. Hoàng nao lòng chờ đợi.



Thật lạ lùng, một niềm yêu thương bồng bột chợt trào lên trong Hoàng, dù Hoàng chưa rõ mặt người con gái đang mời gọi ngoài rừng. Em có đẹp như người tình mà anh hằng ao ước trong đêm mộng? Hay em xấu?



"Lạy trời cho em xinh đẹp!" Hoàng bỗng buông lời cầu nguyện. Nhưng rồi lại tự bảo mình: dù em thế nào, đẹp hay xấu, thì anh cũng sẽ dấn thân đi theo tiếng gọi của chiếc lá em đang thổi trên môi và anh sẽ yêu em.



Cuối cùng Tráng đã trở về. Tráng bước rất nhẹ, nhưng Hoàng vẫn nghe tiếng chân giẫm đạp trên lá khô. Tráng ghé vào tai Hoàng:



- Lầu gạo ngoài cánh đồng, đi đi.



Người con gái đã ngừng thổi vào chiếc lá. Em lặng im đi trước Hoàng, cái bóng mảnh mai của em chập chờn trong bóng tối những tán cây rừng. Lát sau họ đã ra tới cánh đồng. Cô gái bước chậm lại. Một lầu gạo đứng chơ vơ ở xa, nổi rõ trong ánh trăng, giữa cánh đồng bao la. Em chỉ tay và thì thầm, giọng dịu dàng, êm ái:



- Lầu gạo nhà em đó. Em vừa trải một nệm rơm êm.



Từ nơi ấy, nơi em vừa trải sẵn nệm rơm, em đã trở về bản, vừa đi vừa gửi vào yên lặng những tiếng gọi đầy khao khát qua chiếc kèn lá tới Hoàng.



Ngoài cánh đồng, trăng không còn xanh xao như trong rừng. Ánh trăng rãi vàng khiến những cọng rơm trở nên vàng óng. Cô gái quay lại. Hoàng thấy một khuôn mặt thanh thanh với cặp mắt trong veo nhìn mình đăm đăm. Không còn những vết than đen, chiếc áo vá cùng chiếc váy đã sờn của buổi chiều lam lũ. Em đã thay một chiếc áo màu vàng tơ. Chiếc váy thì vàng đậm với những hoa văn đan bằng kim tuyến rực rỡ dưới gấu. Màu áo và váy hợp với ánh trăng đến nỗi Hoàng thấy em như trong suốt và nhẹ lâng. Mỗi bước em đi, hàng kim tuyến dưới gấu váy lại hiện thành những đợt ánh sáng lấp lánh.



 



Hoàng bước lên chiếc thang gỗ ngả nghiêng, tim đập mạnh. Có một chút gì chuyếnh choáng như men rượu trong Hoàng.



 



Khi lách qua khung cửa khép hờ, treo những cụm phong lan màu tím, Hoàng đã thấy cô gái vào trước nằm trên nệm rơm bồng bềnh. Từ một khung cửa mở rộng, ánh trăng tràn vào căn phòng nhỏ, làm từng sợi rơm trên đệm tỏa sáng.



- Lại đây! Lại đây! Em thầm gọi.



Em lần lần cởi nút áo. Trăng rọi vằng vặc trên thân thể em phơn phớt màu nâu. Không phải màu nâu xậm của da thịt đàn ông, mà thứ màu nâu mịn màng, dìu dịu trong trong của một lọai hổ phách. Mớ tóc, trước bới lệch trên đầu, nay xõa rộng như mây bao phủ khuôn mặt và đôi bờ vai.



 



Mắt Hoàng bỗng hoa lên khi Hoàng nhìn vào ngực em: nó lấp lánh như được giát vàng. Một mùi hương nồng nàn, mùi dạ lan, mênh mang trong căn phòng, như có ai đã rảy đâu đó những giọt nước hoa.



Hoàng ngây ngất và cảm nhận được ngay hương thơm ấy bay lên từ bộ ngực vàng của em.



Em kéo Hoàng lại gần:



- Người tình ơi, có sợ không?



- Không.



- Em thì sợ.



- Em sợ gì?



- Không biết nữa...



Em cười khe khẽ. Một nụ cười run run, nhưng vừa đủ để phô hai hàm răng ngà ngọc. Khuôn mặt em thoáng một chút lo âu nhưng rạng rỡ. Em vươn dậy, lần cởi nút áo cho Hoàng. Em xoa tay lên ngực em, rồi xoa bàn tay ấy lên ngực Hoàng. Hoàng cúi nhìn, chợt thấy ngực mình cũng vàng óng ánh và thơm thoảng.



- Gì vậy em?



- Phấn lan rừng. Anh biết không, lúc gặp anh ở ngoài suối trở về, em đã hái cả một vạt lan rừng, rũ phấn hoa đầy chiếc khăn tay, chờ anh.



Rồi em nhắm nghiền mắt, ôm riết lấy Hoàng. Lát sau Hoàng bỗng thấy thân thể mình như đang tan ra và hòa lẫn vào trong em...



Gối đầu trên cánh tay em, Hoàng nhìn mãi vầng trăng nghiêng nghiêng bên khung cửa. Hoàng nghĩ về niềm hạnh phúc bất ngờ của mình. Hoàng bỗng thấy hết những tẻ nhạt của chuỗi ngày mình đang trải qua và chợt muốn ở lại đây, quên mọi ràng buộc của nhiệm vụ, của sự nghiệp và vinh quang, để được sống cuộc đời dân dã với em như một chàng trai đã sinh ra ở đất này. Nhiệm vụ và sự nghiệp bao giờ cũng mang nặng khổ hạnh. Mà ngày ấy, Hoàng còn quá trẻ để nghĩ tới khổ hạnh.



- Em có yêu anh không?



- Nhiều. Nhiều lắm.



- Vì sao?



- Em không biết. Còn anh?



- Yêu em nhiều, nhiều lắm. Nhưng chẳng nói được vì sao. Chỉ biết anh đi theo tiếng kèn lá em gọi.



Họ lặng im. Lâu lắm, Hoàng mới nói:



- Lạ thật, chúng mình chẳng biết gì về nhau. Cả đến tên cũng không biết. Em tên là gì?



- Em tên là Sao Tàn.



Hoàng chờ đợi và rất ngạc nhiên khi thấy em không hề hỏi lại tên Hoàng. Mãi sau em mới nói:



- Đêm mai anh có đến với em nữa không?



- Có. Em thổi chiếc kèn lá lên, anh sẽ đến.



- Đến nhé. Khăn tay của em vẫn còn đầy phấn hoa.



Trăng đã ngả ngang đầu. Nhìn qua khung cửa, vầng trăng đang rơi nhanh xuống dãy núi xa. Đã đến lúc phải chia tay.



- Anh về. Trăng sắp lặn mất rồi



Em thổn thức cầu xin:



- Trăng ơi! Trăng ơi! Đi đâu mà vội thế. Xin đừng về núi vội, cho chúng tôi được gần nhau thêm chốc lát.



Rồi giật mình, than thở:



- Đêm vui ngắn quá, chẳng tày lóng tay.



Vừa nói, em vừa đặt ngón tay em vào bàn tay của Hoàng. Hoàng nắm chặt cái ngón tay bé nhỏ, bỗng thấy yêu thương em vô hạn. Và cảm mến dân tộc em. Phải là một dân tộc ham vui, nuối tiếc đến da diết những đêm vui chóng tàn, mới than thở như thế.



Chúng ta nói: "Ngày vui ngắn chẳng tầy gang". Không, gang tấc vẫn là dài, ngày vui đối với em ngắn quá, chưa bằng một lóng tay, hãy vội vàng lên.



Khi Hoàng trở về, trời đã gần sáng. Hoàng nhè nhẹ chui vào màn nhưng không ngủ lại được. Bộ ngực vàng của em chập chờn mãi trong Hoàng. Hạnh phúc biết bao khi được áp mặt vào bộ ngực thơm thoảng, ướp bằng hoa rừng ấy.



 



Hoàng thao thức với những cảm giác bâng khuâng, lẫn lộn vui buồn, trong khi ở màn bên, Tráng cũng trăn trở. Tráng cựa mình hoài rồi thò đầu sang màn Hoàng. Trong ánh trăng đã nhạt, Hoàng thấy mặt Tráng lấm tấm những điểm sáng.



- Tráng ơi, mặt cậu vẫn còn đầy phấn hoa.



Tráng xoa mặt, cúi nhìn bàn tay rồi nhỏm dậy và bước ra ngoài. Hoàng nghe tiếng nước dội róc rách xuống sàn. Trở vào, Tráng lại thò đầu sang bên màn Hoàng, thì thầm:



- Em tên gì?



- Sao Tàn. Còn em?



- Sao Can.



- Vừa lòng không? Hoàng hỏi.



- Không ao ước gì hơn. Nhưng hơi lo.



- Chuyện gì vậy?



- Lo mấy em đem chuyện chúng mình đi khoe.



Đã thành tục lệ, ở những bản làng xa vắng này, khi có một người tình mà họ tự hào, các cô gái không bao giờ giấu giếm. Họ khoe với gia đình, với họ hàng, bè bạn rồi qua những người khao khát yêu đương và nhàn rỗi ấy, chuyện sẽ lan đi rất nhanh, rất xa.



- Có dặn em bí mật không? Hoàng hỏi



- Không. Còn cậu?



- Mình cũng vậy. Hoàn toàn câm lặng.



- Thật kinh khủng khi mở miệng cầu xin em giữ kín. Em sẽ coi chúng ta là một lũ hèn!



Tráng lặng im, rồi lát sau nói tiếp:



- Có những việc dù chết cũng phải gắng chịu, không sao làm khác được. Thôi, mặc cho may rủi!



Ở Tráng cái liều lĩnh lính tráng hình thành sớm hơn ở Hoàng. Chỉ một cái tặc lưỡi là xong và Tráng sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả.



Hoàng không cảm thấy nỗi lo của Tráng, nỗi lo bị phát hiện. Hoàng chỉ nghĩ tới bộ ngực đầy phấn hoa vàng của cô gái, lòng man mác buồn.



(còn tiếp)



Nguồn: Trang lứa. Truyện vừa của Vũ Hùng. Viết & in tại Pháp sau năm 1991.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »