tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
20.11.2015
Nguyễn Hồng Cẩn
Bút ký: Viết trong tiếng sóng Biển Đông

Ông Nguyễn Hồng Cẩn – Người giàu nhiệt huyết với dân với nước


   Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân 


Biển Đông, hai tiếng đó vang lên vô cùng thiêng liêng, ấm áp đối với người dân Việt Nam.


Biển Đông, mặt tiền của đất nước, từ thời Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đã từng diễn ra những trận chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta tiêu diệt quân xâm lược từ phương Bắc tràn xuống.


Biển Đông, nơi có hàng ngàn hòn đảo – lãnh hải và lãnh thổ máu thịt của đất mẹ Việt Nam, nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cha ông ta từ rất lâu trước đây đã thực thi chủ quyền.


Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép cụm đảo phía Đông từ 1956 và chiếm toàn bộ năm 1974.


Biển Đông, nơi quần đảo Trường Sa của chúng ta với đảo lớn nhất là Ba Bình bị Đài Loan chiếm đóng từ 1956 và Trung Quốc tiến chiếm trái phép Gạc Ma cùng nhiều rạn đá ngầm khác từ tháng 3-1988. Trung Quốc đã và đang tôn tạo các bãi đá Xu bi, Chữ Thập, Vành Khăn thành đảo, và xây dựng đường hạ cất cánh cho máy bay quân sự cỡ lớn, xây dựng bến cảng cho tàu chiến… phục vụ âm mưu độc chiếm Biển Đông, biến Biển Đông thành ao nhà của họ.


Biển Đông cũng chính là huyết mạch của “vành đai kinh tế con đường tơ lụa trên bộ và hệ thống đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21” mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từ năm 2013 tới nay vừa đi các nước thuyết khách, vừa gấp rút xây dựng, nhằm thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, “Phục hưng Trung Hoa Đại Hán”, “Thiên Triều”, “Trung tâm của cả Thế giới”!


Sau sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép tại vùng biển Việt Nam, rồi gấp rút tôn tạo các bãi đá ngầm thành đảo để xây dựng căn cứ quân sự, dư luận thế giới yêu chuộng hòa bình và hầu hết các chính phủ trên hoàn cầu đều tỏ rõ sự bất bình trước hành động phi pháp của Bắc Kinh. Hoa Kỳ và Nhật Bản đều lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, dừng ngay các hành động xâm phạm lãnh hải của các nước trong khu vực, dừng ngay việc làm biến dạng Biển Đông để đảm bảo an toàn giao thương hàng hải quốc tế.


Biển Đông đã trở thành tâm điểm của toàn thế giới. Bắc Kinh không thể muốn làm gì tùy ý!


Chưa bao giờ như hôm nay, Biển Đông thu hút tất cả tình cảm và ý chí của toàn dân Việt Nam! Chúng ta quyết tâm bảo vệ Biển Đông, bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc như lời vua Trần Nhân Tông cách nay hơn 700 năm đã viết trong Di chúc: “… Không thôn tính được ta, thì [Trung Quốc] gặm nhấm ta. Họ gặm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lại lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.


Winston Churchill (30-11-1874/ 24-1-1965) làm Thủ tướng Anh Quốc trong thời Thế chiến thứ hai, vị thủ tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử Anh và lịch sử thế giới. Ông là Thủ tướng Anh duy nhất nhận giải Nobel Văn học và là người đầu tiên được công nhận là Công dân danh dự Hoa Kỳ. Tôi nhớ câu nói nổi tiếng của ông: "Trên thế giới này không có bạn bè [đồng minh] vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn; chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn"! Việt Nam từ xưa đến nay đều bị các nước lớn thôn tính, xâu xé. Thời kỳ chúng ta làm cuộc chiến tranh 9 năm chống thực dân Pháp, những nước lớn đi đêm với nhau trên lưng dân tộc Việt Nam. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Stalin không thèm công nhận chính phủ Hồ Chí Minh vì ông ta đang chơi với Pháp!Từ năm 1953, Mao Trạch Đông ép Đảng và chính phủ Hồ Chí Minh phải vâng theo họ răm rắp, nhất là phải ngay lập tức tiến hành “giai cấp đấu tranh”, cải cách ruộng đất; nếu không sẽ không giúp phương tiện để đánh Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, Việt Minh đang ở thế thượng phong, vậy mà Liên Xô, Trung Quốc đồng tình với nhau ép chính phủ ta phải ký vào Hiệp định chia đôi đất nước ở Vĩ tuyến 17: Hiền Lương; trong khi ta đòi giới tuyến tạm thời phải là ở Huế! Vào lúc tập đoàn Diệm – Nhu dùng Luật 10/59 tàn sát những người cộng sản ở miền Nam, Trung Quốc nhất quyết không đồng ý giúp cho Việt Nam vũ trang đánh Mỹ, Diệm. Năm 1972, Trung Quốc và Hoa Kỳ đi đêm với nhau, để cho Hoa Kỳ mặc sức ném bom hủy diệt miền Bắc, và sau đó, Trung Quốc ngang nhiên chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa. Không quân Việt Nam Cộng Hòa đã tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất, sẵn sàng cất cánh tại Đà Nẵng, chỉ cần nửa giờ là quyét sạch Trung Cộng tại Hoàng Sa, nhưng Hoa Kỳ bật đèn đỏ, ông Nguyễn Văn Thiệu phải bó tay!


Trước sự kiện đó 23 năm, ngày 26-9-1951, tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, Liên Xô đã lên tiếng mạnh mẽ đòi “trao trả cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chính phủ Quốc gia Việt Nam đang quản lý - kế thừa quyền hợp pháp của chính phủ Pháp giao lại – cho Trung Quốc[1]!


Sau sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, trong khi truyền thông Trung Quốc ào ạt xuyên tạc Việt Nam, kích động nhân dân Trung Quốc căm thù Việt Nam, hô hào phát động chiến tranh tiêu diệt Việt Nam, ném bom Hà Nội… thì lại rộ lên thông tin là Hoa Kỳ và Trung Quốc một lần nữa đi đêm với nhau nhằm để cho Trung Quốc độc chiếm Biển Đông (mặc dù, về mặt công khai, Hoa Kỳ lên tiếng phản đối Trung Quốc!)…


Những chuyện vừa nêu chứng tỏ lời ông Thủ tướng Anh nói là hoàn toàn chính xác! Vì quyền lợi của đất nước họ, các nước lớn sẵn sàng ăn trên lưng trên đầu dân tộc Việt Nam! Quả là không bao giờ có đồng minh vĩnh viễn, không bao giờ có kẻ thù vĩnh viễn!


Dã tâm thôn tính Biển Đông, xâm lược Việt Nam của tạp đoàn lãnh đạo Trung Nam Hải, Bắc Kinh dẫn đến hai câu hỏi lớn mang tính thời đại là: Thoát Trung, chơi với Hoa Kỳ hay là không? và Vận nước Việt Nam đang như thế nào, vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trước sứ mạng gìn giữ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải ra sao? Đó là những vấn đề mà cuốn sách bạn đang cầm trên tay:  Viết trong tiếng sóng biển Đông của tác giả Nguyễn Hồng Cẩn đề cập, trực tiếp giãi bày, khám phá và bình luận.   


Ông Nguyễn Hồng Cẩn, năm nay chín mươi tuổi! Điều lý thú là tuy tuổi cao, nhưng ngọn lửa nhiệt tình của ông với sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ văn minh thì luôn hừng hực, thể hiện trong từng mục từng chương của tác phẩm Viết trong tiếng sóng biển Đông. Ngọn lửa ấy, đã cháy lên, bền vững trong cuộc đời ông, có sức lan tỏa mãnh liệt trong những bạn bè đồng chí, người thân, và những ai từng tiếp xúc với ông. Tập sách là tiếng lòng của ông với đất nước, với nhân dân, mà nội dung chủ yếu mang tính cập nhật rất cao những vấn đề nóng bỏng liên quan đến sự tồn vong của Việt Nam hôm nay… 


Ông Nguyễn Hồng Cẩn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản, sinh ngày 05-04-1926, tại Đồi Thiên văn Phù Liễn, tỉnh Kiến An; nay là điểm du lịch thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế của thành phố Hải Phòng. Quê gốc của ông ở tỉnh Đông: Làng Xuân Đào, Mỹ Hào, Hưng Yên. Nguyễn Hồng Cẩn không chỉ là nhà Doanh nghiệp, ông còn đam mê nghiên cứu kinh tế xã hội. Từ thời còn trẻ, ông đã trải qua quá trình đào tạo của Đảng, của quân đội về triết học, kinh tế, lý luận từ Trung cấp đến Cao cấp. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về ngành kinh tế xã hội Thủy sản từ năm 1978 đến nay.


Tham gia cách mạng rất sớm, năm 1945, Nguyễn Hồng Cẩn tham gia Việt Minh bí  mật khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An, ông treo cờ Việt Minh ở Trại Bảo an binh. Ông là Bí thư thị bộ Việt Minh Đồ Sơn. Đây là trung tâm nghề cá nhân dân. Tác giả gắn bó với Thủy sản, tham gia chỉ đạo Thủy Sản từ đây.


Năm 1947, quân Pháp đánh chiếm Đồ Sơn Hải Phòng. Nguyễn Hồng Cẩn là Chính trị viên Mặt trận B Cầu Rào Đồ Sơn. Ông Vũ Hạnh là chỉ huy trưởng, ông Đặng Kinh là chỉ huy phó. Năm 1949, tỉnh Hải Kiến trở lại là Thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An, ông là Ủy viên thường vụ Ban chấp hành Tỉnh ủy Kiến An. Năm 1952, ông là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên tỉnh đội Kiến An, Chủ tịch Ban địch vận thống nhất. Cũng trong năm 1952, Khu ủy Khu Tả ngạn điều ông về làm Chính ủy của Trung đoàn E50, Quân khu Tả ngạn.


Giai đoạn tiếp quản 300 ngày Hải Phòng – Quảng Ninh, Nguyễn Hồng Cẩn làm Trợ lí cho Chủ tịch Ủy ban Quân quản Đỗ Mười; sau đó làm tham mưu phó Quân khu Tả Ngạn.


Năm 1959, ông học Trường Đảng Cao cấp Nguyễn Ái Quốc, rồi đảm nhận các nhiệm vụ: Giám đốc Sở Công nghiệp Hải Phòng, Trưởng ban Công nghiệp thành ủy, Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy. Phó chủ tịch UBND Thành phố Hải Phòng, phụ trách Công nghiệp và ngành Thủy Sản.


Năm 1974, ông được Ban bí thư Trung ương Đảng điều về làm Vụ trưởng Vụ kế hoạch Tổng cục Thủy Sản, rồi làm Tổng cục phó. Khi thành lập Bộ Hải Sản, ông làm trợ lý cho Bộ trưởng Võ Chí  Công. Từ năm 1978, ông là Thứ trưởng Bộ Thủy Sản.


Năm 1980, ông được Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định Thứ Trưởng kiêm Tổng Giám đốc Công ty sản xuất xuất khẩu thủy sản SEAPRODEX, kiêm phụ trách xuất khẩu Thủy Sản, Chủ tịch liên đoàn Xuất khẩu Thủy Sản Việt Nam.


Trong 10 năm liền, ông làm đồng chủ tịch Ủy ban hỗn hợp nghề cá Xô Việt; Đồng chủ tịch liên doanh nghề cá Xô Việt SEASFICO ở Xakhalin Liên Xô.


Suốt cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp cách nạng, Nguyễn Hồng Cẩn gần như đã đã trải hết đời mình cho kháng chiến chống Pháp, chống chiến tranh phá hoại của không lực Hoa Kỳ, phụ trách công nghiệp và thủy sản cho đến năm 1993, ông nghỉ hưu ở tuổi 69, tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục nghiên cứu và làm tư vấn cho nghành thủy sản: Trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP). Chủ tịch Hội đồng tư vấn Hội Nghề cá. Nguyễn Hồng Cẩn đã và đang nghiên cứu một số đề tài về Thủy sản. Ông đã xuất bản một số tác phẩm về Kinh tế, Xã hội Thủy sản Việt Nam: 


- Nghề cá Việt Nam nhìn từ Seaprodex. Khảo luận, 350 trang. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2003;


- Minh bạch. Tự truyện, 300 trang. NXB Văn học, 6-2010.


Ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân, huy chương, trong đó có: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì, Huân chương Chiến thắng hạng nhì, Huân chương kháng Mỹ hạng nhất, Huân chương Lao động hạng ba, Huân chương Độc lập hạng nhì.


Lần đầu tiên tôi gặp ông Nguyễn Hồng Cẩn là dịp đầu năm Dương lịch 1982. Năm ấy, tôi là nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam, được mời đến dự Hội nghị Tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Seaprodex năm 1981. Đây là năm vô cùng đặc biệt của Công ty sản xuất, xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Bởi vì, ngay từ khi thành lập công ty, Thứ trưởng Nguyễn Hồng Cẩn đã dũng cảm xé rào, tiên phong trong cuông cuộc đổi mới, không chịu bó tay bởi cơ chế hành chính quan liêu bao cấp. Thực tế là ngay từ đầu 1981, Seaprodex đã hoạt động theo cơ chế Tự cân đối, tự trang trải. Ngày nay, khi nền kinh tế quốc dân đang vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường thì chuyện này chả có gì lạ, nhưng cách nay 34 năm, giữa muôn trùng vây bủa của cơ chế hành chính bao cấp mà Seaprodex dám bung ra, xé rào, một mình một cõi làm ăn theo cơ chế Tự cân đối tự trang trải, thì ghê gớm lắm! Động Trời! Seaprodex bị chụp cho đủ thứ mũ, kể cả cái mũ nguy hiểm nhất, vô tù như chơi là: “Chạy theo Tư bản, muốn Tư bản hóa”! Toàn bộ hệ thống quản lý Nhà nước gồm các Bộ, các cơ quan liên quan đến doanh nghiệp đều phản đối, ngăn cản! Trải qua rất nhiều cuộc thuyết phục người đứng đầu Chính phủ bằng thực tế sản xuất kinh doanh, mãi đến tháng 6-1981, Văn phòng Hội đồng bộ trưởng mới có văn bản “cho phép Seaprodex làm thử”. Tự cân đối, tự trang trải mới chỉ áp dụng một năm, nhưng đã giúp Seaprodex vươn lên với sức bật làm nhiều người, nhiều ngành kinh ngạc. Nguyễn Hồng Cẩn và Seaprodex từ hồi đó đã thực sự là ngọn cờ đầu của công cuộc Đổi mới!  


Từ ngày ấy, là một nhà báo, nhà văn, tôi theo sát từng bước đi của Seaprodex, thường xuyên viết phóng sự, bút ký phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và in trên nhiều tờ báo khác như Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Sài Gòn Giải Phóng, Văn Nghệ, Đại đoàn kết…Tôi trở thành bạn vong niên của ông Nguyễn Hồng Cẩn, được Seaprodex đưa đi thực tế nghề cá từ Nam chí Bắc. Năm 1984-1985, ông Hồng Cẩn đã sớm nghiên cứu và quan hệ với Đài Loan, nơi nuôi tôm sú nổi tiếng thế giới, được coi là quốc sách rất thành công. Qua đó ông đã thông qua Công ty Lobana (Úc) thành lập Liên doanh Vatech (Việt-Úc) đột phá khảo nghiệm đưa công nghiệp tôm sú vào Việt Nam với mục tiêu đầu tư 120 triệu USD theo phương thức cuốn chiếu. Đợt đột phá khởi đầu, Úc đầu tư 2 triệu USD, Seaprodex 1 triệu USD. Ông Roynir, người Úc và ông Nguyễn Hồng Cẩn làm đồng chủ tịch Hội đồng Quản trị - ông Chước Giám đốc Seaprodex Đà Nẵng cùng một người Úc là đồng Tổng Giám đốc - thuê từ 5 đến 7 chuyên gia Úc, Mỹ, Đài Loan, lương từ 5,000 đến 10,000 USD/ tháng. Kết quả đợt đầu sản lượng không đạt, nhưng đã khẳng định vận dụng qui trình công nghệ nuôi tôm sú ở Việt Nam là tốt. Liên doanh Vatech đang chuẩn bị cho đợt 2 thì Ông Roynir, Công ty mẹ tại Úc bị sự cố nên xin rút lui.  Ông để lại toàn bộ cơ sở vật chất và qui trình cho Việt Nam. Ông chỉ đề nghị trả cho Ông 200,000 USD! Seaprodex đã chấp nhận khoản chi trả này bằng vốn tự có. Từ nền tảng đó, Seaprodex tiếp tục liên doanh với các địa phương nuôi tôm sú hàng đầu trên thế giới cho tới ngày nay, Việt Nam có năm xuất khẩu xấp xỉ 3 tỉ USD riêng con tôm.


Năm 1992, khi ông Hồng Cẩn đang đi thương thảo, tại Paris, bàn dự án liên doanh Việt - Nga – Pháp, thực hiện tại vùng Sakhaline (Liên Xô) và tại Việt Nam, thì được điện của Bộ trưởng: Anh về nước gấp để nhận Quyết định nghỉ hưu do Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ký! Sau khi nghỉ hưu, Navillut Group (Nhóm tư vấn đầu tư của Hoa Kỳ cho Việt Nam) đã mời Nguyễn Hồng Cẩn tham gia, là thành viên của Navillut Group. Navillut đã cử một nhóm 12 người gồm có các chuyên viên kỹ thuật và đầu tư sang Việt Nam để cùng đề suất một số dự án như:


Khôi phục cảng Cam Ranh, nếu để lâu sẽ hư hỏng; Xây dựng một nhà máy tháo dỡ tàu cũ và tập dượt đóng tàu với 4,000 công nhân, họ sẽ dành cho ta 1-2 triệu tấn/năm trong số 11 triệu tấn tàu được tháo dỡ hàng năm; Xây dựng một loạt khách sạn, resort ở Nha Trang; Xây dựng hai xưởng sửa chữa máy bay Boeing tại Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Những dự án này đã tiếp cận tới Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Sau mấy tháng trời chờ đợi, Thủ tướng Võ Văn Kiệt trả lời: chưa đúng lúc! Ông Cẩn tiếc ngẩn ngơ, Việt Nam đã để vuột mất cơ hội.


Thời điểm đó, Hoa Kỳ chưa bình thường hóa quan hệ với nước ta, thành thử những dự án kia không thành hiện thực, là dễ hiểu! Nghỉ hưu, ông Hồng Cẩn vẫn chủ động thường xuyên gặp gỡ bạn bè gồm các chuyên gia kinh tế, những người làm công tác nghiên cứu kinh tế, xã hội, chính trị, nhà văn, nhà báo… Ngoài chuyện tình cảm bạn bè, ông Hồng Cẩn thực sự có nhu cầu trao đổi, trò chuyện về những vấn đề bức xúc của ngành thủy sản và của cả nền kinh tế quốc dân. Ai đã từng nghe ông nói, lập tức sẽ bị ông cuốn hút bởi cái ngọn lửa trong ông vô cùng mãnh liệt…


Ông là một trong những nhà doanh nghiệp rất ham mê đọc sách, đi thực tế. Quả thật, tôi ít thấy doanh nhân nào đọc nhiều như ông! Trời cho ông có sức khỏe tuyệt vời nên ông hầu như rất ít khi ở nhà, thường xuyên lăn lộn tìm hiểu ở các doanh nghiệp khai thác, nuôi trồng thủy sản, các cơ quan nghiên cứu khoa học về thủy sản, các nhà máy chế biến thủy sản, các tập đoàn sản xuất kinh doanh đa quốc gia trong và ngoài nước. Bốn năm trở lại đây, từ sau khi vợ ông qua đời, sức khỏe của ông cũng suy giảm nhiều, nhất là bệnh cao huyết áp, nhưng ông vẫn đi, vẫn đọc đều đều. Ông có năng lực phân tích, xử lý thông tin rất khoa học. Và, điều khiến tôi khâm phục nhất từ ông là: Tuổi càng cao, ông càng giàu nhiệt huyết với sự nghiệp Đổi mới, với mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa nhằm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Cuốn bút ký Viết trong tiếng sóng Biển Đông này ông đã có dự định từ năm 2012. Tôi biết ông đã gửi gắm trọn cả tấm lòng mình, bầu máu nóng của trái tim mình vào đây! Trong tác phẩm này, ông dũng cảm thể hiện mình là người trung thành nhất với Đảng Cộng sản Việt Nam, sẵn sàng chiến đấu đến cùng cho sự đúng đắn và bền vững của Đảng, vì nước vì dân, không màng quyền lợi riêng tư, dám nhận khuyết điểm. Ông mong muốn thế hệ lãnh đạo hiện nay kiên quyết chống tham nhũng để lấy lại lòng tin của dân, và quan trọng hơn, phải biết lắng nghe dân vì dân mình rất tôn trọng, dốc lòng đi theo Đảng! Ông Hồng Cẩn đã viết những dòng rất thống thiết về sự cấp thiết phải lấy lại lòng tin của dân, phải biết lắng nghe dân… Ông lạc quan mà không ngờ nghệch, tin tưởng mà không mù quáng vào Đảng. Ông thấu hiểu, gần gũi, sẻ chia nên tin tưởng ở lòng dân, ý chí nguyện vọng của nhân dân. Ông viết: “Để gìn giữ non sông gấm vóc, toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có Biển Đông, người Việt Nam hôm nay phải làm gì? Vận nước hôm nay ra sao?Ai là người chịu trách nhiệm? Ai xứng đáng là người lãnh đạo? Giả sử Hiến pháp cho đa nguyên, đa đảng, tôi đồ rằng có thắp đuốc giữa ban ngày cũng không tìm ra được một đảng phái nào đủ tư cách hơn đảng cộng sản Việt Nam!


Đảng đã lãnh đạo toàn dân trong kháng chiến giải phóng dân tộc, đánh đuổi giặc ngoại xâm, thống nhất non sông. Nay, Đảng lại lãnh trọng trách lãnh đạo nhân dân trong công cuộc bảo vệ biển Đông, gìn giữ hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải. Tôi nghĩ, nếu Đảng kiên quyết Đổi mới, kiên quyết chống tham nhũng thì trong vài thập kỷ tới, vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị duy nhất không thể suy xuyển. Đảng xứng đáng với trọng trách lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam”…


Khi Đảng ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, ông reo vui như trẻ lại, và coi đây chính là động lực để Đảng ta giữ vững ngọn cờ, xứng đáng là người lãnh đạo của dân tộc trong thời đại mới. Ông chỉ mong Nghị quyết IV biến thành thực tế - chứ không phải chỉ là đánh trống bỏ dùi như hiện nay - để Đảng được dân tin, dốc lòng theo Đảng!


Những điều ông bày tỏ về Đảng, với Đảng trong tác phẩm này, trước thềm Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, quả là trung thực và dũng cảm! Ông coi đây là tấm lòng trung trinh của ông với Đảng, với sự nghiệp Đổi mới, hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước.


Là người đã xả thân chiến đấu để ngành thủy sản không tụt hậu, không sa xuống vực thẳm trong những năm Tám mươi của thế kỷ trước, nay ông vẫn sục sôi phát biểu ý kiến với Đảng, với Dân, như dân Việt ta ngày xưa trong Hội nghị Diên Hồng… Ông không hề nhằm tới một điều gì riêng tư. Nguyễn Hồng Cẩn chỉ mong cho đất nước thanh bình, vẹn toàn lãnh thổ, nhân dân không còn nghèo khổ, kinh tế, văn hóa không tụt hậu so với láng giềng.


Người như ông Hồng Cẩn hiếm lắm thay, đáng trân quý lắm thay! 


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Chín năm 2015.


Nhà văn Triệu Xuân


 


SỐNG TRONG TIẾNG SÓNG BIỂN


KHÁT VỌNG VỀ BIỂN ĐÔNG


 


Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nho giáo, thiết tha với đất nước, với dân tộc; thuộc lớp trung lưu ở Kiến An, nay là Hải Phòng. Từ thuở lọt lòng tôi đã thở bằng không khí của Biển Đông, sống trong tiếng sóng Biển Đông.


Từ đời cụ Cố trở về trước, gốc gác dòng họ tôi ở tỉnh Đông, miền đất trù phú châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình; với rất nhiều đặc sản như: các loại tôm cá, nhất là cá anh vũ, cá chình, cá lăng, cá chép… trên sông Hồng, sông Thái Bình, các loại thủy sản trên ruộng đồng ao hồ như rươi, cá rô, cá trê, cá quả, cua, cáy, ốc, hến…


Thiên nhiên ngấm vào máu thịt của mình, mặt nước sông ngòi biển cả và vô vàn loài thủy hải sản đã quyến rũ tôi: cá song, cá chim, thu, nụ, đé…, khiến tôi đam mê, tha thiết sống, gắn bó với nó, và có lẽ chết cũng vì nó!


Cụ nội tôi cho các con ăn học thành tài. Ông nội rời quê hương ra lập nghiệp ở Kiến An. Ông nội tên là Nguyễn Hữu Phú, là viên chức cao cấp của Đồi Thiên văn Phù Liễn Kiến An do người Pháp sáng lập và xây dựng. Ông được người Pháp phong Hàn lâm, thường gọi Hàn Phú; cùng thời với ông Nguyễn Xiển.


Quê gốc của tôi là làng Xuân Đào, xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tôi sinh ngày 05-04-1926, nơi sinh là khu tập thể viên chức trên đồi Phủ Liễn Thiên văn, tỉnh Kiến An, nay là quận Kiến An của thành phố Hải Phòng. Các con tôi thuộc thế hệ thứ năm của gia đình có nguồn gốc từ Hưng Yên, ra Hải Dương, rồi từ Hải Dương ra Kiến An, Hải Phòng; từ Hải Phòng vô thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng cả tôi và con cháu tôi đều chưa biết làng Xuân Đào ở đâu vì chẳng còn mối quan hệ họ hàng nào cả.


Năm 78 tuổi, tôi đi tìm mộ Cụ Tổ. Nghe lời mách bảo của anh Tạ Quang Ngọc, tôi liền tìm đến nhà thầy Khánh ở trước Trường Đại học Y Dược, khu Kim Liên, Hà Nội. Sau khi nghe lời đề nghị của tôi về việc tìm ngôi mộ của cụ tổ, thầy Khánh xin một lá trầu và một nén nhang để khấn vái. Một lúc sau, thầy nói: 


- Có thể tìm được ngôi mộ. Hiện nay, mộ đang nằm trên một dải đất hình yên ngựa, đầu mộ gối vào sông, một góc của chiếc tiểu bị lộ thiên!


Chúng tôi tin lời thầy, chọn ngày đi tìm mộ. Tôi ghé thăm nhà bác Tạo gái, vợ của bác Tạo, nguyên chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương. Tôi mời bác cùng đi, hy vọng có thể gợi nhớ ra điều gì. Nhưng bác Tạo gái cũng chỉ nhớ ang áng là trước đây mộ nằm ở chùa Mát, tỉnh Hải Dương.


Khi tìm ra mộ. tôi vẫn còn hoang mang, sợ nhận lầm mồ mả nên ghé vào vào nhà dân gần đấy hỏi thăm. Bà con cho biết ngôi mộ đó không biết của ai, không thấy có người nhận, nằm trong số những ngôi mộ được chuyển từ chùa Mát hồi những năm chống Pháp. Còn con mương thủy lợi thì được đào sau này. Chúng tôi tu sửa lại mộ, thắp hương hoa cúng bái, hỏi ý kiến thầy Khánh ngày quay lại xây mộ…


Tôi tranh thủ đến thăm giáo sư Cao Cự Bội, một người rất coi trọng tâm linh, để hỏi xem việc tìm ngôi mộ như thế có chính xác không. Sau một hồi suy ngẫm, tính toán, giáo sư Bội trả lời đó đúng là ngôi mộ cần tìm. Thế là tôi gọi điện cho vợ con xúc tiến việc xây mộ và tổ chức làm lễ cúng cụ tổ.


Sau đó, chúng tôi nhờ thầy Khánh tiếp tục tìm ngôi mộ của ông cụ thân sinh ra vợ tôi. Trước Cách mạng Tháng Tám, cụ là giáo viên tiểu học, sau làm thư ký cho hãng mộ phu Thế Giới. Sau Cách mạng Tháng Tám, cụ làm việc cho Ban Kinh tài của Tỉnh ủy Hải Kiến (Hải Phòng – Kiến An). Trong một lần cụ mang hàng vào Thanh Hóa, khi ngang qua vùng Bùi Chu, Phát Diệm, cụ bị bọn phản động phát hiện mang theo súng ngắn, nghi là người có vai trò quan trọng của Việt Minh nên bị chúng bắt giữ rồi chặt đầu chôn đâu không rõ. Vậy mà, bố vợ tôi lại bị nghi vấn là trốn vào Nam. Phải mất nhiều thời gian để xác minh, cuối cùng cụ cũng được Nhà nước công nhận là liệt sĩ. Thầy Khánh tìm ra mộ bố vợ tôi cũng làm sáng tỏ thêm các việc chưa có chứng cứ chính xác. Ngôi mộ này nằm trong khu vực nghĩa trang vô danh ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, ở hàng thứ tám từ trên xuống, vị trí thứ ba. Chúng tôi tổ chức tu sửa mộ và cúng bái cho cụ, sau đó tạo dựng hài cốt tượng trưng rồi đưa về lập mộ cùng các ngôi mộ họ nội ở khuôn viên chùa Vĩnh Phúc (Quán Chữ, Kiến An).


Tôi cất tiếng chào đời trên đồi Thiên văn Phủ Liễn, tỉnh Kiến An xưa. Quê mẹ tôi ở làng Văn Đầu, thuộc huyện An Lão. Sau này, khi tham gia cách mạng, thấy trong dòng họ tới sáu, bảy đời khai lý lịch quê quán làng Xuân Đào, xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên thì tôi ghi theo, chứ chưa hề biết đó là nơi nào. Đang mong có ngày được về thăm quê thì may mắn là năm 2001, em trai ruột tôi là Nguyễn Đức Châu cùng vợ từ nước ngoài về thăm. Châu đề nghị tôi cùng đi tìm về quê hương, thăm mồ mả dòng họ nội ngoại. Tôi đồng ý tổ chức chuyến đi ngay.


Nhà tôi chỉ có hai anh em trai. Tên tôi lúc còn nhỏ là Nguyễn Hữu Cung, em ruột tôi là Nguyễn Hữu Cảnh. Khi giặc Pháp đánh vào Hải Phòng, Kiến An, em tôi lúc đó khoảng 12 - 13 tuổi, tản cư về nhà cô ruột có chồng là chú Vũ Viết Thùy, khi đó là sinh viên Đại học Đông Dương, làm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến xã Tiên Tảo, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Năm 1947, Tây càn tới, bắt chú Thùy làm thông ngôn, nhưng do cãi cọ với Pháp, chú bị chúng bắn chết. Em Cảnh cũng bị bắt. Sau này, trôi nổi thế nào Cảnh lại xin được làm trên tàu viễn dương tận trong Sài Gòn, theo tàu sang châu Âu, cuối đời định cư tại Đức cùng các con cháu. Hỏi tại sao đổi tên thành Nguyễn Đức Châu, em tôi kể rằng khi từ Sài Gòn về Hải Phòng tìm gia đình, Cảnh gặp bà cô ruột, em kế bố tôi, được cô cho biết cả cha mẹ đã chết hết, còn anh Cung (tức là tôi) bị mất tích. Cô ấy có một người con trai đi lính cho Pháp, vào làng Tây (tức là nhập quốc tịch Pháp) rồi sang tận Algeria. Cô nhận em tôi làm con và đổi tên thành Nguyễn Đức Châu. Mặc dù chuyến hành hương tìm quê gốc được tổ chức khá chu đáo nhưng chẳng ai biết làng Xuân Đào ở đâu, cứ phải dò hỏi rất khó khăn. May mắn là mọi việc cũng hanh thông, dường như có một động lực vô hình nào đó dẫn lối. Sau chuyến thăm quê đó, em ruột tôi khi trở về Đức viết thành tập ký có nhan đề Một chuyến thăm quê hương lịch sử. Chuyến đi kéo dài ba tháng, từ ngày 1 tháng Hai đến 29 tháng Tư năm 2001.


Chúng tôi đã gặp một người tên là Nguyễn Hữu Tân, lúc ấy đã 60 tuổi, tự xác nhận là hàng em của chúng tôi. Anh Tân đưa ra những chứng cứ của các cụ tổ để lại, trong đó vẫn còn một ao nuôi cá mà khi họ hàng họp mặt thì bắt cá lên làm cơm, rồi am thờ thổ thần có từ 300 năm trước. Đặc biệt là bức hoành phi và đôi câu đối khảm xà cừ do cụ Nguyễn Hữu Phú, ông nội chúng tôi, đã đem về treo ở nhà thờ họ Nguyễn Hữu tại làng Xuân Đào.


Qua những lời kể của bà con họ hàng, chúng tôi được biết ngôi mộ họ Nguyễn Hữu ở Xuân Đào đã tồn tại khoảng 360 năm, rất linh thiêng nên mới còn đến ngày nay. Trên bia mộ có ghi:  Quận công Nguyễn Huy Công hy hữu mộ chí linh vị.


Mộ ngài quận công thuộc khu cánh đồng tam thiên mẫu (ba ngàn mẫu) mà ngày xưa, thời có cuộc khởi nghĩa của cụ Nguyễn Thiện Thuật, gọi là cánh đồng Lô Vang. Hiện hằng năm ở làng vẫn tổ chức kỷ niệm lễ tổ khu mộ này vào tháng Hai Âm lịch. Hôm sau, chúng tôi về Hải Dương thăm mộ cụ Cai Thóc và được biết thêm nhiều chuyện thú vị. Kế đó, chúng tôi về quê ngoại, làng Văn Đầu, thuộc quận Kiến An để thăm mộ ông bà ngoại.


Qua chuyến đi tìm quê hương, mồ mả gia tiên, chúng tôi cảm nhận được nhiều điều quý báu. Đó là tình cảm họ hàng, là sự tôn trọng bảo tồn những tập tục văn hóa truyền thống gia đình, tổ tiên, là sự chuyển mình của quê hương, là tấm lòng của những người dân quê chất phác và nồng hậu… Hằng năm, vào ngày 26 tháng Chạp Âm lịch là ngày giỗ tổ của dòng họ tôi:  Ngày cụ nội tôi qua đời. Do ông nội và bố tôi đều mất vào tháng Chạp nên ngày 26 được chọn là ngày giỗ lớn của dòng họ Nguyễn Hữu.


Từ đời cụ Cai Thóc đến chắt tôi hiện nay, dòng họ Nguyễn Hữu đã qua bảy đời, từ nông thôn ra thành thị. Điều tôi vẫn chưa giải đáp được tường tận là tại sao cụ Cai Thóc thuộc tầng lớp trung nông lớp trên lại bỏ quê ra Hải Dương, làm thương nhân buôn bè, cho con bỏ học chữ Nho sang học trường Tây, và sau này hầu hết con cháu đều làm viên chức tại Đài Thiên văn Đông Dương tại Phủ Liễn, tỉnh Kiến An.


Tôi sinh ra tại khu tập thể viên chức của Đài Thiên văn Đông Dương. Hơn một thế kỷ nay người Hải Phòng đã quen gọi ngọn núi ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng là núi Thiên Văn, bởi trên đó có Đài Thiên văn Phù Liễn.


Năm 1902, toàn quyền Đông Dương Paul Doumer[2] theo đề nghị của viên giám đốc nông nghiệp và thương mại M. Kapuyt đã quyết định xây dựng Sở Khí tượng và đài quan trắc trung tâm Đông Dương. Giám đốc đài thiên văn Zikawei (Thượng Hải) là P. Froseur được giao trách nhiệm và chọn địa điểm xây dựng đài trung tâm tại đỉnh núi Phù Liễn ở độ cao 116 mét so với mặt biển, ngay tại quận Kiến An, cách trung tâm Hải Phòng tám cây số về phía Tây Nam. Toàn bộ công trình là một quần thể kiến trúc hiện đại, được chia thành khu làm việc trung tâm và khu biệt thự cho sinh hoạt. Trên mặt bằng rộng hai hecta tại đỉnh núi, trung tâm đài gồm hai tòa nhà lớn. Tòa chính là một tòa nhà xây bằng đá xanh dày 60 phân, mặt tiền có ba tầng quay về hướng Đông với những khuôn cửa cong chạm khắc hoa văn trang nhã, trong nhà có trụ hình khối cân xứng, sàn rộng lát đá men màu hồng ngọc hình lục lăng. Phần giữa gồm hai tầng, cấu trúc thành một hội trường trang trọng thông với hai đường hành lang nối với các phòng đặt máy khí tượng. Phần hậu là một tháp cao sáu tầng có cầu thang xoáy. Trên đỉnh tháp đặt kính kinh vĩ dùng để hiệu chỉnh giờ cho địa phương. Tòa nhà nhỏ hơn ở phía Bắc gồm hai tầng, tám phòng để làm việc và nghiên cứu khoa học. Công trình nền móng cho cả khu đồng thời cũng là một hệ thống bể ngầm chứa nước đồ sộ chia thành nhiều ngăn sâu tới sáu hay tám mét, đủ trữ nước mưa phục vụ cho toàn đài trên đỉnh núi làm việc và sinh hoạt quanh năm. Vườn khí tượng đặt sau tháp sáu tầng, đất bằng phẳng rộng 20 mét, dài 30 mét trồng cỏ thấp, hai bên là lối đi lát bê tông. Xung quanh toàn khu vực trung tâm có tường hoa bao bọc. Bên cạnh các công trình kiến trúc đồ sộ trên đỉnh núi, hàng trăm cây lưu niên như phượng vĩ, đa, sấu, bàng, bồ hòn, vải… đã được ươm trồng tạo nên cảnh thiên nhiên hài hoà, bốn mùa xanh tốt. Tới nay, cây cối trở thành đại thụ và nơi đây cũng là cơ quan chuyên nghiên cứu khí hậu sinh học trong suốt gần một thế kỷ nay.


Ngoài kiến trúc Tây phương, đài thiên văn còn có công trình xây cất theo kiểu dáng phương Đông cổ kính. Đó là cổng Rồng (từ quận lỵ lên núi) và cổng Phượng để đi vào đài trung tâm với kiến trúc các tầng mái cong cách điệu, được trang trí hoa văn cổ và mặt nguyệt với đôi rồng hướng lên mặt trăng kiểu “lưỡng long chầu nguyệt”. Du khách qua đây có cảm giác được bước vào một cảnh sắc thiên nhiên thanh lịch, tách biệt với cát bụi trần gian...


Tới năm 1905, toàn bộ quần thể kiến trúc đồ sộ và tinh tế tại núi Phù Liễn đã hoàn thành, chứng minh tài năng lao động của bàn tay người thợ Kiến An - Hải Phòng trong những năm đầu của thế kỷ XX.


Ngay từ những ngày mới thành lập, Đài Phù Liễn hàng ngày đã tổ chức thu và phát tin bằng điện tín và vô tuyến điện tới các trạm khí tượng tại Việt Nam, Lào, Campuchia và các đài quốc tế trong vùng Đông Nam Á - Thái Bình Dương để lập bản đồ dự báo thời tiết, bão, gió mùa Đông Bắc phục vụ tàu thủy đi lại trên biển Đông, đồng thời tích luỹ số liệu nghiên cứu khí hậu nhằm góp phần mở mang đồn điền, trồng cây nhiệt đới.


Đài Phù Liễn thời đó được tự hào sánh ngang với đài khí tượng của Mỹ đặt tại Manila (Philippines), đài khí tượng của Anh tại Hồng Kông, đài Thượng Hải (Trung Quốc), đài Tokyo (Nhật Bản). Nhờ có các loại máy móc hiện đại nhất thời thập niên 1930, Đài Phù Liễn đã xây dựng được các ngành dự báo thời tiết, nghiên cứu khí hậu nông nghiệp, động đất, quản lý giờ. Các bản tin thời tiết phục vụ hàng hải hàng ngày được phát bằng vô tuyến điện, điện thoại, thông báo ở cảng, ở các phòng bưu điện ven biển và phát trên các cột tín hiệu biển. Khi có bão, các bản tin được phát liên tục nhiều lần trong ngày.


Từ sau ngày 13 tháng 5 năm 1955, Hải Phòng giải phóng, Nhà nước ta đã chú trọng khôi phục và phát triển hoạt động của Đài Phù Liễn, khôi phục và xây dựng lại một phần các công trình kiến trúc bị tiêu thổ trong chiến tranh, trang bị nhiều chủng loại máy móc mới.


Ngày 1 tháng 8 năm 1957, Đài chính thức mang tên Đài Vật lý địa cầu Phù Liễn. Từ năm 1963, Đài lập lại công tác dự báo thời tiết khu vực, rồi đến năm 1970 được lắp kính thiên văn quang học cỡ lớn và hiện đại nhất Đông Dương. Năm 1978, nhà vòm thiên văn được xây dựng, sau đó lập thêm chín trạm khí tượng, khí hậu trực thuộc, trong đó xa nhất là trạm Bạch Long Vĩ.


Tôi nhớ năm 1999, một nhóm cán bộ cách mạng lão thành của Liên tỉnh ủy Hải Kiến và Tỉnh ủy Kiến An do anh Lê Quốc Thân dẫn đầu đã về thăm lại Đài Phủ Liễn. Đến lúc thăm nơi trước đây có cột tháp cao, nay chỉ còn trơ nền móng, tôi nói với anh Thân rằng chính anh đã phê duyệt phá cái tháp đó. Anh Thân bảo:  “Lúc ấy mà có kiến thức như bây giờ thì dại gì phá, làm mất đi một phần di tích lịch sử của ngành khoa học khí tượng, thiên văn nước nhà”. Hiện nay, Đài Phủ Liễn vẫn là cơ sở quan trọng của ngành khí tượng Việt Nam, và là một trong những điểm đến sáng giá của du lịch Hải Phòng, thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế. Hy vọng trong tương lai nó còn tiếp tục được đầu tư quy mô hơn, đẹp hơn.


 


Ông nội tôi tên là Nguyễn Hữu Phú, từng là viên chức lâu năm của Đài Phủ Liễn, được nhận chức sắc Hàn lâm nên xưa kia gọi là cụ Hàn Phú. Lúc trẻ, cụ tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ, làm Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Kiến An. Cụ dạy bảo con cái kiến thức thiên văn, vì vậy sau này con cháu đều làm viên chức ở Đài Phù Liễn. Do bị công sứ Pháp và mật thám nghi ngờ, đe dọa khủng bố, cụ không công khai hoạt động Hội truyền bá quốc ngữ nữa. Ông Nguyễn Xiển (nguyên Tổng thư ký đảng Xã hội) làm việc tại Đài Thiên văn, thay cụ Hàn Phú làm Hội trưởng Kiến An từ 1941. Bà nội tôi tên là Lê Thị Căn, là người đảm đang, tài giỏi, đã cùng chồng xây dựng gia đình trở thành gia đình viên chức giàu có, có nhà, có hàng chục mẫu ruộng cho thuê. Năm 1944, bà nội tôi ốm và mất ở tuổi 55 khiến gia đình bị mất đi trụ cột. Sau đó, cả quê hương theo Việt Minh kháng Pháp, tiêu thổ kháng chiến, gia đình bị phá sản, mỗi người tản cư một ngả. Cha mẹ tôi ra vùng kháng chiến, sau này đều làm công nhân ở nhà máy thuốc lá và xưởng dệt, rồi qua đời đã lâu.


Ông bà nội của tôi có mười hai người con, ba trai chín gái (một con gái bị mất sớm). Bố tôi là con đầu, hồi nhỏ bị ngã, phải bó dấm thanh, nhưng không may thế nào đâm ra bị thọt chân. Nhà có cô út tên là Hậu cũng bị ốm rồi bị biến chứng thành thọt chân. Bà nội tôi có lần sinh ba, cả ba đều là gái nên phải mướn ba người nhũ mẫu. Nhũ mẫu ở làng Điền thì gọi tên là cô Điền, ở làng Khúc Trì gọi tên là cô Trì, ở làng Ang Sơn gọi là cô Sơn. Đến nay chỉ một trong ba người nhũ mẫu ấy còn sống là cô Trì, đã 96 tuổi. Năm 1940, hai vợ chồng bà Trì phụ trách Đài Thiên văn Vientiane (Lào), cũng trực thuộc Đài Thiên văn Phủ Liễn Đông Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp, vợ chồng bà Trì dạt sang Thái Lan, tham gia phong trào yêu nước ở đó. Đến năm 1956 -1957, ông Đỗ Dụ, chồng bà Trì bị ốm nên được đưa về Hải Phòng chữa bệnh, đi cùng ba người con, trong đó có con gái tên là Đỗ Thị Thái Lan (sinh ra ở Thái nên được đặt tên như vậy). Sau này ông qua đời, được con cháu lo toan chu đáo. Năm 2009, bà Trì được cô Lan sang tận Thái, đón về Hải Phòng.


Bố tôi sau khi bị thọt chân thì học nghề vẽ truyền thần, nhưng không giúp được bao nhiêu cho mẹ tôi cả. Bà tôi rất cưng bố tôi, không cho ai đụng vào bố tôi. Bà còn nói sẽ nuôi bố tôi trọn đời. Ngày còn nhỏ, tôi được gọi là Bê vì khi mẹ tôi sinh ra tôi cũng là lúc bà nội và bà cô tôi đều sinh con. Sữa mẹ tôi tốt nên mẹ tôi cho cả ba đứa trẻ cùng bú, mà tôi thường phải bú sau cùng. Có lần hết sữa nhưng tôi còn đói nên nhà sẵn có bò, mẹ tôi bế tôi đi vắt sữa bò để uống. Đói quá, thấy vú bò là tôi bú ngay. Cái tên Bê được đặt từ đó. Sau này lớn lên tôi mới có tên là Cung, còn em trai tôi là Cảnh. Đến khi đi hoạt động cách mạng, anh Lê Quốc Thân đặt cho tôi bí danh là Cẩn, rồi qua những trận chiến đấu gan dạ, anh em trong đơn vị gọi tôi là Hùng Cẩn. Bà nội tôi qua đời đột ngột ở tuổi 55, lúc cô Trì còn đang ở Lào. Sau đó, quân Nhật đổ bộ vào đò Khuể, sông Văn Úc, ta thực hiện tiêu thổ để kháng chiến trường kỳ. Trong nhà mất đi người cầm lái, lại không có ai nối tiếp nên bị phá sản từ đó, ruộng đất, nhà cửa bị mất mát hết… Lúc đó, gia đình tôi tán loạn, mỗi người một nơi. Bố mẹ tôi chạy theo hướng Thái Bình, sau đó vào làm công cho Xưởng Thuốc lá Lam Sơn. Mẹ tôi bế cháu nội Nguyễn Hữu Thắng, lúc đó mới một tuổi về Kiến An, còn đứa con thứ hai của tôi là Nguyễn Hữu Trường sinh ở giữa rừng, vợ tôi phải gửi một người dì nuôi hộ ở Quân y viện 108 trên Việt Bắc. Sau đó mẹ tôi mở một cửa hàng bán than củi. Hòa bình lập lại, bố mẹ tôi làm công nhân ở Hải Phòng… Tôi nói thêm với cô Trì rằng nhà ta đã bị phá sản từ những năm 1944 - 1945, còn ruộng đất đâu mà bảo bị Chính phủ  tịch thu. Cô cười:  “À ra thế! Cô có hay biết gì!”.


Tôi thầm nghĩ đời mình và đời con cháu mình trải qua bao nhiêu chông gai, vất vả mà hôm nay còn được như vậy là may mắn rồi. Qua hai cuộc kháng chiến, trong đại gia đình tôi có bảy người bị hy sinh. Riêng vợ tôi bị thương nặng năm 1951, là thương binh hạng ba. Thế hệ con cháu đã hơn ông cha, ai cũng được học hành, tốt nghiệp đại học. Chúng tôi đã có 22 cháu chắt nội ngoại và hy vọng rằng thế hệ cháu chắt sẽ giỏi hơn, đời sống chắc sẽ sung sướng hơn ông cha. Đó là phúc đức ông bà để lại. Đó cũng là nhờ công lao bảo vệ và xây dựng đất nước của nhiều thế hệ trên đất nước Việt Nam[3].


Nơi chôn nhau cắt rốn của tôi bên bờ Biển Đông. Lớn lên đi học, biết tìm hiểu người yêu, biết yêu, được yêu rồi cưới nhau cũng bên bờ Biển Đông. Vậy nên, thật dễ hiểu:  Từ lúc rời gia đình, quê hương đi theo Việt Minh làm cách mạng, cho đến nay, chín chục tuổi tròn, trong tim tôi, trong lòng tôi luôn luôn tha thiết với Biển Đông, sống trong hơi thở và tiếng sóng Biển Đông. Tôi già rồi! Vậy mà khi trò chuyện với mọi người, ai cũng cảm nhận, cũng nói: Lửa nhiệt tình với biển cả, với ngành thủy hải sản trong tôi lúc nào cũng cuồn cuộn như sóng Biển Đông! Ơn Trời - Nếu điều đó được lưu giữ mãi mãi cho đến khi tôi từ biệt cõi đời này!


(còn tiếp)


Nguồn: Viết trong tiếng sóng Biển Đông của Nguyễn Hồng Cẩn. Tác phẩm đã được gửi đến hai nhà xuất bản lớn, nhưng… chưa được cấp Giấy phép xuất bản! Tác giả tự in vài chục bản, như là tài liệu tham khảo để tặng những người thân yêu & bạn bè tri âm, tri kỷ.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


   


 








[1] Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tuyên bố này nhằm lợi dụng tất cả mọi cơ hội minh định trên diễn đàn quốc tế xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Spratlys và Paracels của nước Việt Nam, để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này. Tại hội nghị này, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và văn kiện của hội nghị ký ngày 8 tháng 9 năm 1951 chỉ ghi về hai quần đảo là "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo".


 




[2]  Paul Doumer (22-03-1857/ 07-05-1932). Năm 1897, chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam bước sang một bước ngoặt khi Paul Doumer (22 tháng 3 năm 1857 – 7 tháng 5 năm 1932) giữ chức Toàn quyền. Paul Doumer là một chính khách ngoại hạng, sau trở thành Tổng thống Pháp, nhưng là một nhà cai trị độc tài mang lại nhiều thay đổi sâu sắc từ lúc ông ta nhậm chức. Ông thiết lập bộ máy nhà nước bảo hộ và xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố tại Việt Nam. Dưới thời Doumer, hệ thống hạ tầng cơ sở tại Đông Dương được kiến thiết rất nhiều, nhưng người dân Việt phải chịu sưu thuế rất nặng để phục dịch và chu cấp cho việc này. Paul Doumer cho xây cây cầu có cùng tên với ông, một trong những cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ, hiện là cầu Long Biên.


Ông chủ trương biến chế độ bảo hộ thành chế độ thực trị, xóa bỏ chủ quyền và thống nhất của Việt Nam, mang đến phân hóa rõ rệt giữa ba miền. Ông tập trung quyền hành vào chức vụ Toàn quyền, ép triều đình nhà Nguyễn đóng cửa Nha Kinh lược sứ Bắc kỳ, giao chức Kinh lược sứ, một chức quan trong triều đình Huế, cho Thống sứ Bắc kỳ lúc bấy giờ là Augustin Fourès. Ông cũng tổ chức khai thác tài nguyên của các nước trong Liên hiệp Đông Pháp, biến Đông Dương thành một thị trường cho kỹ nghệ và thương mãi của Pháp, và cùng lúc thành lập nơi đây một tiền đồn kinh tế và quân sự vững chắc của thực dân Pháp tại toàn cõi Viễn Đông.


Sau khi trở về Pháp, ông tiếp tục tham gia chính trường Pháp, đắc cử Tổng thống Cộng hòa Pháp ngày 13 tháng 5 năm 1931. Ngày 6 tháng 5 năm 1932, ông bị bắn chết bởi một người Nga tị nạn chính trị tại Pháp tên là Paul Gorguloff. Tương truyền khi ông chết, người Pháp định mang thi hài ông táng trong điện Pantheon, nhưng vợ ông không đồng ý, nói rằng: "cả đời ông ấy đã hy sinh cho nước Pháp, còn bây giờ ông ấy là của tôi", rồi bà chôn ông trong khu vườn mộ gia đình, bên cạnh mộ của bốn người con trai, cả bốn đều hy sinh trong Thế chiến thứ nhất.


 




[3] Xem thêm trong tác phẩm Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 06-2010. 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »