tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
20.11.2015
Nguyễn Hồng Cẩn
Bút ký: Viết trong tiếng sóng Biển Đông

BIỂN ĐÔNG DẬY SÓNG!


BIỂN ĐÔNG, MẶT TIỀN TỔ QUỐC CÒN BỊ BỎ TRỐNG”!


Chưa bao giờ Biển Đông nóng bỏng, trở thành tâm điểm của thế giới như hiện nay!


Từ trước công nguyên tới nay, các Hoàng đế Trung Hoa luôn luôn nhất quán ở chỗ tự coi mình là Thiên tử, đất nước Trung Hoa là Trung tâm nhân loại, tất cả các nước còn lại trên địa cầu đều bị Trung Hoa coi là man di , phải về chầu Thiên triều! Từ thời Mao Trạch Đông tới nay là Tập Cận Bình, dù hie2nh thức biểu hiện có khác nhau, nhưng người lãnh đạo cao nhất ở Trung Nam Hải đề kế tục truyền thống của các Hoàng đế Trung Hoa. Họ đã và đang khôi phục con đường tơ lụa trên bộ có từ trước công nguyên, đồng thời, xây dựng mới con đường tơ luạ trên biển, xuyên qua Biển Đông đi ra toàn thế giới. Chính phủ Trung Quốc thành lập Quỹ hợp tác hàng hải Trung Quốc - ASEAN để chiêu dụ các nước đang phát triển bập vào, trước sau gì cũng bị họ thao túng, chi phối, trở thành chư hầu của họ. Giấc mộng Trung Hoa, chủ nghĩa Đại Hán chưa bao giờ bộc phát mãnh liệt như hiện nay. Trong chuyến thăm, thuyết khách tại Đông Nam Á cuối năm 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề xuất tái lập con đường tơ lụa trên biển từ nhiều thế kỷ trước, nối eo Biển Malacca với Biển Đông, thành con đường tơ lụa mới trên biển thế kỷ 21. Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, năm 2014, kim ngạch thương mại song phương đạt hơn 400 tỷ USD; đầu tư hai chiều hơn 100 tỷ USD. Tập Cận Bình cho rằng con đường tơ lụa trên biển có thể đưa kim ngạch thương mại hai bên lên khoảng 1 nghìn tỷ USD trong năm 2020! Tập cận Bình nói rõ nguồn vốn thực thi con đường tơ lụa mới trên biển thế kỷ 21: Chính phủ Trung Quốc đã sẵn sàng tài trợ cho các dự án hàng hải liên quan đến ASEAN thông qua cánh tay đầu tư nhà nước của mình là Quỹ Hợp tác Hàng hải Trung Quốc – ASEAN!


Quỹ hợp tác hàng hải Trung Quốc - ASEAN được thiết lập vào giai đoạn đỉnh điểm của các căng thẳng ở Biển Đông hồi cuối năm 2011 - chính là một phần trong sáng kiến con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21.


Để bạn đọc tường tận vấn đề Biên giới mềm, Giấc mộng Trung Hoa, chủ nghĩa Đại Hán, tôi xin trích ra đây một đoạn quan trọng trong bài của Tiến sỹ Trịnh Văn Định, Giảng viên Đại học Khoa học & Nhân Văn Quốc gia, nhan đề: “Con đường tơ lụa, con đường thế giới về chầu Thiên Triều”[1]. Tiến sỹ Trịnh Văn Định đã tham khảo, phân tích nhiều nguồn dữ liệu trên thế giới để vạch rõ dã tâm, tham vọng bành trướng, bá quyền thế giới của Trung Quốc thông qua “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa trên bộ và con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI”:


“…Tên chính thức con đường tơ lụa xuất hiện năm 1877, do nhà địa chất học người Đức F. Richeho fen (1833 – 1905) viết trong cuốn sách Trung Quốc. Từ đó, cái tên đầy “quyến rũ” này được toàn thế giới biết đến. Sở dĩ nhà địa chất học này đặt tên cho con đường là con đường tơ lụa bởi một lý do giản dị: tuyến đường xuyên châu Á này chủ yếu dùng để vận chuyển tơ lụa từ Trung Quốc ra bên ngoài. Tuyến đường xuyên hai lục đia Á Âu, đông từ Tây An, Trung Quốc, tây đến bờ Địa Trung Hải. Việc buôn bán tơ lụa giữa Trung Quốc và Hy Lạp và La Mã có từ sớm nhưng tuyến đường này chính thức được khai thông sau hai lần Trương Khiên đi sứ vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất TCN và cho đến thế kỷ 15 thì đình chỉ (khoảng giữa đời Minh), tồn tại trên dưới 1.700 năm. Từ sau thời Đường, trọng tâm kinh tế dịch chuyển xuống phía Nam nên mặc dù giao thông đường bộ Trung Tây vẫn duy trì nhưng không phát triển bằng đường biển nữa. Do vậy, con đường tơ lụa phồn thịnh nhất giai đoạn Hán Đường.


Hệ thống Đại Vận Hà


Nếu như hệ thống con đường tơ lụa cổ xưa là tiền thân trực tiếp của vành đai Kinh tế con đường tơ lụa trên bộ, thì hệ thống Đại vận hà và chuyến hải trình của Trịnh Hòa  là tiền thân trực tiếp của con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI và sự tiếp mạch của quy luật vận động và lan tỏa của lãnh thổ Trung Hoa dịch chuyển theo hai trục từ Tây sang Đông và từ sông ra biển.


Hệ thống Đại vận hà nhìn từ góc độ địa chính trị là sự đấu nối với hệ thống con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI. Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI là sự tiếp tục của một diễn trình từ Ngô Vương Phù Sai cho đến cha con Tùy Văn Đế Dương Kiên và Tùy Dạng Đế Dương Quảng, trải qua nhiều hoàng đế khác và đến Tổng Bí thư, Chủ tịnh Trung Quốc Tập Cận Bình ngày nay, tuy nhiên, ở quy mô và tham vọng lớn nhất từ trước tới nay.


Ngày nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình làm mới, mở rộng hệ thống đường tơ lụa trên bộ và mở đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI.


Sáng kiến về Vành đai kinh tế con đường tơ lụa trên bộ và Con đường tơ lụa trên biển trong thế kỷ XXI gắn liền với nhân vật số 1 và số 2 của Trung Quốc hiện nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường. Trong văn kiện Tầm nhìn và hành động thúc đẩy cùng xây dựng vành đai kinh tế con đường tơ lụa và con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI (sau đây viết tắt là Tầm nhìn và hành động) viết: Trong tháng 9 và tháng 10 năm 2013, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm các nước Trung Á và Đông Nam Á đã có đề xuất quan trọng về xây dựng một “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa trên bộ” và “Con đường tơ lụa trên biển trong thế kỷ XXI”, đây là sáng kiến lớn thu hút được sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường khi tham dự triển lãm Trung Quốc – ASEAN Expo 2013 cũng đã nhấn mạnh tới việc thúc đẩy con đường tơ lụa trên biển tại khu vực Đông Nam Á với mong muốn tạo một điểm tựa chiến lược thúc đẩy sự phát triển của các vùng nội địa.


Con đường tơ lụa mới có mối liên hệ chặt chẽ với con đường tơ lụa cổ xưa: Để thúc đẩy thực hiện đề xuất có ý nghĩa quan trọng này, hãy để con đường tơ lụa cổ xưa mang một sức sống mới.


Các quốc gia tham gia con đường tơ lụa này không chỉ dừng lại ở các quốc gia mà con đường tơ lụa cổ đi qua: Việc xác định quốc gia nào thuộc phạm vi “một vành đai một con đường” dựa trên nhưng không giới hạn bởi phạm vi của con đường tơ lụa thời cổ đại, các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực đều có thể tham gia, để khu vực rộng lớn hơn được hưởng lợi ích từ việc xây dựng “một vành đai một con đường”.


Cấu trúc khung của hệ thống đường tơ lụa mới gồm trục tương tác chính Á – Âu với: “một vành đai một con đường” trải dài khắp châu Á, châu Âu và châu Phi, một đầu của nó là vòng tròn kinh tế Đông Á đầy năng động, đầu kia là vòng trong kinh tế châu Âu phát triển, ở giữa hai đầu ấy là các nước giàu tiềm năng kinh tế. Trọng điểm của vành đai kinh tế con đường tơ lụa [gồm 3 nhánh] là [khai thông lộ trình] Trung Quốc qua Trung Á và Nga tới Châu Âu (vùng Baltic); từ Trung Quốc qua Trung Á, Tây Á đến Vịnh Ba Tư, Địa Trung Hải; Từ Trung Quốc đến Đông Nam Á, Nam Á và Ấn Độ Dương. Trong điểm của con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI đi từ các cảng ven biển Trung Quốc qua Biển Đông đến các cảng ven biển Ấn Độ Dương, mở rộng sang châu Âu; một nhánh khác là từ các cảng ven biển của Trung Quốc đi qua Biển Đông tới Nam Thái Bình Dương.


Trên cơ sở cấu trúc khung này sẽ hình thành các hành lang kinh tế: “căn cứ theo đường hướng của một vành đai một con đường”, [các bên sẽ] cùng nhau hình thành nên các hành lang hợp tác kinh tế quốc tế như “cầu nối Á – Âu”, [hành lang kinh tế] Trung Quốc – Nga – Mông Cổ, [hành lang kinh tế] Trung Quốc – Trung Á – Tây Á [hành lang kinh tế] Trung Quốc – bán đảo Nam Á, v.v… các hành lang kinh tế dựa vào các tuyến đường quốc tế lớn, với điểm tựa là các thành phố trung tâm nằm dọc tuyến đường, với nội dung hợp tác là cụm liên kết ngành và kinh tế thương mại trọng điểm. Đối với con đường tơ lụa trên biển lấy các cảng biển quan trọng làm tiếp điểm, cùng xây dựng mạng lưới giao thông vận tải đường biển thông suốt, an toàn và hiệu quả cao. Việc xây dựng hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan, và Bangladesh – Trung Quốc - Ấn Độ - Myanma có quan hệ mật thiết với việc hình thành “một vành đai một con đường, cần tiếp tục thúc đẩy hợp tác hơn nữa trong việc xây dựng hai hành lang kinh tế này, để đạt được nhiều tiến triển hơn nữa.


Một, với tư cách là một trung tâm văn minh lớn của thế giới, văn minh Trung Hoa tồn tại liên tục, không đứt đoạn. Tức là diện mạo và quyết sách ngày nay của Trung Hoa và lãnh đạo của họ có mối liên hệ sâu sắc, chịu sự chi phối của truyền thống. Ở đây cần dẫn một luận điểm then chốt về sự chi phối của quá khứ đối với hiện đại trong truyền thống Trung Hoa: nước Trung Hoa luôn luôn được cai quản và bây giờ vẫn được cai quản bởi ý chí tưởng tượng của các đế vương đã qua đời – điều này tuyệt đối không thể hồ nghi… Hay nói như hai nhà báo Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo: Không có gì thay đổi trong đất nước của những thay đổi chóng mặt. Luận điểm này là cơ sở để chúng ta có thể xác lập mối liên hệ, sự chi phối của quá khứ đối với lãnh đạo tối cao Trung Hoa ngày nay.


Trung Quốc là một thế giới, hơn nữa lại là một thế giới Trung Tâm, tinh hoa. Tâm thức này hình thành từ sớm ở Trung Hoa và chi phối cho đến tận ngày nay. Đường tơ lụa cổ xưa và đường tơ lụa hiện đại được cấu trúc với trung tâm là Bắc Kinh và tỏa ra toàn thế giới.


Gần đây, lãnh đạo tối cao Trung Quốc không ngừng nói về “Trung Quốc mộng” và “sự phục hưng sự vĩ đại của Trung Hoa”. Tinh thần chung của nó có thể được tóm gọn như sau: sự phục hưng Trung Hoa là khôi phục sự vĩ đại của Trung Hoa từ trong quá khứ xa xưa, tức từ trước thế kỷ 18, thời kỳ trong khoảng 2.000 năm liên tục Trung Quốc luôn tự hào là Trung tâm văn minh, phát triển phồn thịnh bậc nhất của thế giới, nói như người Trung Hoa là cả thế giới về chầu chung quanh chân Thiên Triều. Đó chính là giấc mộng Trung Hoa. Tại sao lại phải phục hưng, vì trong lúc Trung Hoa đang tột đỉnh huy hoàng lại bị phương Tây vào hạ nhục. Người Trung Hoa luôn đau đáu nỗi nhục Quốc sỉ này. Để luận giải nguyên nhân thất bại và con đường để trở thành cường quốc, Trung Quốc đã tiến hành phản tư ở tầm quốc gia và diện học hỏi thật ở quy mô toàn cầu. Mục đích là để trả lời cho câu hỏi, vì sao các quốc gia có diện tích khiêm tốn như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan và các quốc gia khác như Anh, Đức, Nhật, Nga, Mỹ… lại có thể trở thành những cường quốc, lại có thể hạ nhục Trung Hoa huy hoàng mấy ngàn năm. Trung Quốc đã làm một bộ phim, phỏng vấn hàng loạt sử gia, chính khách, chiến lược gia trên thế giới, rằng tại sao các quốc gia phương Tây, Nhật, Nga… lại có thể lớn mạnh như vậy. Trung Quốc đã có câu trả lời: tất cả những quốc gia trở thành cường quốc đều là những quốc gia sớm khống chế những tuyến đường biển chiến lược: Năm 2006, Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc đã cho chiếu một loạt phim lịch sử có tựa đề “Sự vươn lên của các cường quốc” (Đại quốc Sử kí), rất thành công. Phim thực hiện những cuộc phỏng vấn các sử gia, các nhà lãnh đạo thế giới, đã được đánh giá là khá chính xác. Kênh lịch sử của Mĩ đã mua lại bản quyền và đem chiếu ở Hoa Kì. Cuốn phim dài 1.250 phút cắt nghĩa nguyên nhân các đế quốc đã vươn lên, phát triển và lụi tàn. Đó là các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Mĩ. Người đứng sau tư tưởng này, giáo sư Tiễn Thừa Đán, Đại học Bắc Kinh đã hiểu được ý nghĩa lời kêu gọi trong phim: chỉ vì Trung Quốc, người dân Trung Quốc, chủng tộc Trung Quốc đã được sống dậy và tham gia thêm một lần nữa vào sân khấu thế giới.


Đó là lý do giải thích tại sao để phục hưng Trung Hoa vĩ đại, phải mở ra con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI. Về bản chất nó là sự nhận thức muộn màng của đế chế Trung Hoa đại lục về vai trò của biển và do tâm thức Trung Hoa là trung tâm chi phối. Như vậy, không chỉ biển là thành tố trẻ mà con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI cũng là một thành tố trẻ trong cấu trúc địa chính trị Trung Hoa.


Căn cứ vào văn kiện Tầm nhìn và hành động, con đường tơ lụa trên bộ, hệ thống Đại Vận Hà và con đường tơ lụa trên biển thế kỷ XXI có mối liên hệ nền tảng với nhau. Trước hết, như văn kiện khẳng định, cần tạo ra sức sống mới cho con đường tơ lụa cũ, bằng việc làm mới, mở rộng, bổ sung và xây dựng thêm những con đường mới.


Con đường tơ lụa của Trung Quốc ngày nay thực chất là sự mê hoặc thế giới về sức quyến rũ của con đường, mục đích quảng bá và thúc đẩy hình ảnh của một Trung Quốc quyến rũ ra toàn thế giới, từ đó đánh lừa thế giới hướng theo hình ảnh tốt đẹp, sự quyến rũ của con đường, mà quên đi khía cạnh quan trọng nhất và là mục tiêu tối hậu của hệ thống con đường tơ lụa ngày nay là chính trị hóa con đường. Mặt khác, đây là khát vọng của Trung Hoa về một ký ức huy hoàng - một Trung Tâm thế giới thời đại Hán – Đường, thời kỳ mà đế chế hùng mạnh và thế giới về chầu Thiên Triều, uy thế hoàng đế vang vọng và bao phủ khắp gầm trời.


Câu nói: Không có gì thay đổi trong đất nước của sự thay đổi chóng mặt, hay: Đất nước này đã biến đổi không còn nhận ra mặc dù các yếu tố cấu trúc cơ bản của nó vẫn giữ nguyên của hai nhà báo Tây Ban Nha trong sách Đạo quân Trung Quốc thầm lặng, cực kỳ chính xác với quy luật vận động chính trị của Trung Quốc từ cổ đại cho đến ngày nay. Cái không đổi của Trung Quốc chính là cuồng vọng mà tất cả hoàng đế và lãnh tụ Trung Hoa luôn luôn bị ám ảnh: biến thế giới về chầu quanh chân Thiên Triều. Tâm thức này, một lần nữa lại được nhà lãnh đạo lừng danh Lý Quang Diệu, người gốc Tàu nhắc lại cảnh báo thế giới: Cái lõi suy nghĩ của họ chính là cái thế giới trước giai đoạn thuộc địa đi kèm với tình trạng bóc lột và nỗi ô nhục mà họ phải chịu. Trong tiếng Trung, Trung Quốc có nghĩa là vương quốc Trung tâm – gợi nhớ về một thế giới trong đó họ giữ vai trò thống trị trong khu vực, các quốc gia khác có liên hệ với họ như là những chư hầu đối với một thiên triều và những chư hầu này đến Bắc Kinh mang theo cống phẩm: chẳng hạn, quốc vương Brunei mang theo lụa làm lễ vật, nhưng rồi mất tại đó từ bốn thế kỷ trước và hiện vẫn còn miếu thờ tại Bắc Kinh. Cái thay đổi là những sự phát triển chóng mặt của cơ sở vật chất, đường giao thông, sân vận động, nhà cửa… Nhưng trong Trung Nam Hải vẫn là một hoàng đế trị vị. Hoàng đế này là hiện thân cho ý tưởng của tất cả những vị Hoàng đế đã chết.


Điểm giống nhau là: ông Tập Cận Bình tiếp tục sự nghiệp của tiền nhân. Ông đang tự biến mình trở thành Hoàng đế Thiên Triều. Trên truyền hình Trung Quốc phát động phong trào học tập tấm gương: Tập đại đại, Bành mẫu mẫu. Chính ông đã nói cần thực hiện giấc mộng Trung Hoa và phục hưng Trung Hoa. Việc tái sinh từ tơ lụa rõ ràng là ông muốn tiếp tục khát vọng khôi phục sự huy hoàng của tiền nhân qua con đường tơ lụa. Mặt khác, ông tiếp tục sự nghiệp của tiền nhân, biến Trung Hoa trở thành trung tâm, chinh phục thế giời về chầu Thiên Triều.


Điểm khác là, về tư duy, Tập Cận Bình vượt qua tất cả các hoàng đế trước ông, kiến tạo hệ thống tơ lụa toàn cầu mà Trung Quốc là trung tâm. Rõ ràng, tư tưởng của ông là sự tiếp tục và kế thừa từ Hán Vũ Đế, từ Ngô Vương Phù Sai, Tùy Dạng Đế. Ông làm mới và mở rộng, kết nạp thêm thành viên trên cơ sở con đường tơ lụa cũ. Ông tiếp tục cảm hứng từ Hán Vũ Đế. Trong văn kiện và trong các bài phát biểu của ông không đề cập đến Đại Vận Hà, rõ ràng, hệ thống Đại Vận Hà đã cơ bản hoàn thiện thời nhà Thanh. Vì vậy, xây dựng con đường tơ lụa trên biển, với các thành phố trung tâm ven biển như Phúc Kiến, Quảng Châu, tận dụng lợi thế của Hồng Kông, Ma Cao là sự tiếp tục, đấu nối và mở rộng của hệ thống Đại Vận Hà.


Sự khác biệt nữa là, nếu như tiền nhân, kể cả đến hoàng đế đời nhà Thanh, đều coi Trung Hoa là Trung tâm của trung tâm, giàu có và văn minh, phát triển nhất thế giới thì ông có khác. Vẫn chia sẻ với tiền nhân, vẫn cho rằng Trung Hoa sẽ trở thành trung tâm của thế giới, biến Trung Hoa thành trung tâm nhưng khác với tiền nhân, ông không ảo tưởng xem Trung Hoa hiện nay là trung tâm của tiến bộ, khoa học và công nghệ thế giới nữa. Để biến Trung Hoa thành trung tâm khiến cho cả thế giới về chầu, ông đã học tập thế giới và thâu tóm tài nguyên thiên nhiên quý giá của thế giới mang về Thiên Triều. Từ đó, xa hơn, dùng chính tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất hiếm, khống chế ngược trở lại thế giới. Đây là sự khác biệt căn bản giữa đế chế Trung Hoa truyền thống và Chủ tịch Tập của Trung Quốc ngày nay.


Đến đây, người viết tự nhiên nhớ tới một phát biểu của Đặng Tiểu Bình về Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc, năm 1974: Trung Quốc không phải là một siêu cường, cũng không bao giờ tìm cách trở thành siêu cường. Nếu ngày nào đó Trung Quốc đổi màu và trở thành một siêu cường, cũng đóng vai trò bạo chúa trên thế giới, và buộc thế giới cần điểm mặt chủ nghĩa đế quốc – xã hội của nó, vạch trần nó, chống lại nó và hợp tác với nhân dân Trung Quốc lật đổ nó”.


Phải chăng, một Trung Quốc đổi màu mà Đặng Tiểu Bỉnh nói chính là Trung Quốc tại thời điểm này hay một ngày không xa trong tương lai!


(Hết trích)


Chính vì Giấc mộng Trung Hoa là Thiên Triều mà Trung Quốc đang hung hăng biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình.


Liệu Trung quốc có thành công trong việc thực hiện mưu đồ “con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”? Tôi đồng cảm với tác giả Hoàng Ngọc Giao trong bài: “Con đường tơ lụa trên biển, “củ cà rốt”, để tìm kiếm sự chính danh”. Ông Hoàng Ngọc Giao viết: “Điều này phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh chính trị, ý thức coi trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia của giới lãnh đạo ở mỗi quốc gia ven Biển Đông, cũng như trên toàn tuyến gọi là “con đường tơ lụa biển” mà Trung quốc đang gạ gẫm. Tơ lụa là của cải vật chất, nhưng tơ lụa cũng có thể được sử dụng như giải thòng lọng xiết cổ đối với những quốc gia tự mình nạp mạng!”[2]. Trong một ghi chú trong bài này, ông Hoàng Ngọc Giao còn trích dẫn một bài báo của Nhật Bản, sau chuyến đi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc. Đoạn trích này khiến tôi vô cùng lo lắng: “…bài của Tetsuya Abe và Atsushi Tomiyama trên trang Nikkei Asian Review hôm 8/04/2015 cho rằng hai lãnh đạo Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng “đồng ý hợp tác về sáng kiến Con đường Tơ lụa, một nỗ lực của Trung Quốc thu hút Việt Nam và để tăng cường ảnh hưởng kinh tế trong vùng”. Theo báo Nhật Bản, hai ông Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng đã “đồng ý lập các nhóm công tác về hạ tầng cơ sở và hợp tác tài chính” cho dự án Con đường Tơ lụa. Hai bên có ý định “xây cơ sở cảng, đường cao tốc và các dịch vụ hạ tầng khác” với sự trợ giúp của Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng châu Á (AIIB). Ông Tập “hoan nghênh sự tham gia của Việt Nam vào sáng kiến Con đường Tơ lụa trên biển”, theo Nikkei Asian Review.


Nghe tin này, tôi thật sự ngỡ ngàng! Nhưng, rồi tôi nghĩ rằng, không lý gì Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam lại cả tin đến vậy. Chắc chỉ là một động thái ngoại giao hoặc chủ trương “mượn gió bẻ măng”, vừa nhằm thu hút đầu tư vừa muốn Biển Đông sóng yên biển lặng mà thôi. Người Việt Nam, ai còn lạ gì những chiêu trò hiểm độc của Trung Quốc!


Tiếp theo việc chiếm đóng trái phép một nửa quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1956, chiếm trọn Hoàng sa năm 1974, chiếm nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam năm 1988, Trung Quốc gấp rút tôn tạo bãi đá ngầm thành đảo, rồi gấp rút xây dựng sân bay bến cảng hòng thôn tính trọn Biển Đông…


Hung hăng hơn nữa, Trung Quốc đưa giàn khoan dầu trái phép neo hạ trên Biển Việt nam. Ngày 02/05/2014, Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trí cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía đông. Đây là vị trí nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển.


Đây là giàn khoan biển sâu di động cỡ lớn đầu tiên do Trung Quốc sản xuất, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) sở hữu. Hải Dương 981 dài 114 m, rộng 90 m, cao 137,8 m và nặng 31. 000 tấn; diện tích boong của giàn khoan có kích thước bằng một sân bóng đá chuẩn. Giàn khoan này có khả năng khoan sâu tối đa 12. 000 m.


Trung Quốc đã đầu tư 6 tỉ nhân dân tệ (952 triệu USD) để chế tạo Hải Dương 981 trong suốt 3 năm. Mỗi ngày hoạt động trên biển, chỉ riêng giàn khoan này đã ngốn hết hơn 300. 000 USD chi phí, đó là chưa kể chi phí hoạt động của đội tàu hộ tống.


Vùng biển nơi Trung Quốc đặt giàn khoan sâu khoảng 1. 100 m; họ phải dùng giàn khoan dạng nửa chìm nửa nổi. Giàn này có hai cách định vị, dùng neo xuống đáy biển hoặc các chân vịt để tự cố định.


Để bảo vệ giàn khoan tỉ đô này, Trung Quốc huy động tới 80 tàu thuyền các loại, trong đó có 7 tàu quân sự như tàu hộ vệ tên lửa 534, tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh 753, 33 tàu hải cảnh, cùng nhiều tàu vận tải, tàu cá. Ngoài ra, hàng ngày còn có hàng chục tốp máy bay hoạt động trên khu vực. Có những thời điểm, số lượng tàu hộ tống của Trung Quốc lên tới hơn 100 chiếc, trong đó các tàu chiến thường xuyên lởn vởn xung quanh giàn khoan.


 


VIỆT NAM VÀ TOÀN THẾ GIỚI LÊN ÁN HÀNH ĐỘNG PHI PHÁP CỦA TRUNG QUỐC


Cần phải thẳng thắn công nhận rằng Việt nam đã bị động, bất ngờ trước sự kiện này!


Tuy nhiên, tình trạng bị động, bất ngờ được nhanh chóng khắc phục!


Để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình trong vùng đặc quyền kinh tế theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, Việt Nam đã cử 29 tàu tới các khu vực gần giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc, khi nhận thấy giàn khoan này định "thiết lập vị trí cố định". Lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam tích cực tuyên truyền, kêu gọi Trung Quốc chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật quốc tế, rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam.


Ngày 04/05/2014, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã có thư gửi Chủ tịch và Tổng giám đốc của Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc cực lực phản đối hành động của phía Trung Quốc và kiên quyết yêu cầu Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc dừng ngay lập tức các hoạt động bất hợp pháp và rút giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam.


Ngày 5/5, Việt Nam tổ chức họp báo, trong đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khi chưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị.


Đáp lại, tàu Trung Quốc liên tục có những hành vi gây hấn, khiêu khích như mở bạt che pháo để uy hiếp, sử dụng vòi rồng tấn công tàu của Việt Nam, sẵn sàng đâm húc gây hư hỏng cho tàu Việt Nam và làm bị thương một số kiểm ngư viên.


 


Ngày 11/05/2014, tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên công khai tố cáo Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương 981 cùng hơn 80 tàu đi vào vùng biển Việt Nam.


Ngày 15/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố Việt Nam đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên Hiệp Quốc. Ngày 20/5, phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Quốc tại Genève đã gửi thông cáo đến Văn phòng Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác cũng như các cơ quan báo chí có trụ sở tại Genève, về sự kiện "Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông".


Ngày 26/5, tàu Trung Quốc đã bao vây và đâm chìm một tàu cá của ngư dân Đà Nẵng ở khu vực Nam Tây Nam cách giàn khoan 17 hải lý, là ngư trường truyền thống, thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.


Việt Nam đã tích cực tuyên truyền, giải thích rõ lập trường của mình cũng như cập nhật tình hình trên biển cho bạn bè quốc tế, để dư luận các nước hiểu rõ sự hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.


 


Cộng đồng quốc tế đã có những phản ứng quyết liệt trước cách hành xử hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông. Một loạt các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Ấn Độ đã lên án các hành động bất chấp luật pháp quốc tế, gây mất ổn định và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực của Bắc Kinh.


Gần đây, Mỹ đã có những động thái ngày càng quyết liệt thể hiện rõ sự phản đối đối với hành động ngông cuồng của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời tăng cường hợp tác với các quốc gia trong khu vực để đối phó với mối đe dọa đến từ Trung Quốc.


Tại Đối thoại Shangri-La diễn ra tháng 06-2014 ở Singapore, nguyên thủ và lãnh đạo các nước như Nhật Bản và Mỹ đã kịch liệt lên án các hành vi ngang ngược của Trung Quốc, khiến đoàn đại biểu Trung Quốc phải dùng đến “lý sự cùn” để lớn tiếng đe dọa các nước khác.


Trước đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cũng khẳng định Việt Nam sẽ nghiên cứu mọi phương án để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình, kể cả phương án pháp lý, đó là kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế.


 


Ở trong nước, dư luận Trung Quốc cũng xuất hiện ngày càng nhiều tiếng nói phản đối hành vi ngang ngược của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng. Nhiều học giả Trung Quốc cho rằng việc Chính phủ  của họ “gây chuyện” với các nước láng giềng sẽ không đem đến một kết cục có lợi, đồng thời phản bác những lập luận mà nhà cầm quyền đưa ra về tuyên bố chủ quyền phi lý bên trong “đường lưỡi bò”.


 


Trước những sức ép ngày càng lớn đến từ dư luận trong nước và quốc tế, Trung Quốc không còn con đường nào khác ngoài việc rút giàn khoan phi pháp ra khỏi vùng biển Việt Nam. Ngày 16/07/2014, Trung Quốc buộc phải rút Hải Dương 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam sớm hơn một tháng so với kế hoạch, được che đậy bằng lý do “đã hoàn thành nhiệm vụ”[3].


Tuy nhiên, tham vọng bá chủ thế giới của Trung Nam Hải, giấc mộng Trung Hoa của tập đoàn lãnh đạo Trung Nam Hải không hề suy xuyển!


Trung Quốc khẩn trương tôn tạo những bãi đá ngầm như Xubi, Chữ thập, vành Khăn thành đảo nổi nhằm xây dựng căn cứ quân sự, trước hết là sân bay với những đường hạ cất cánh dài tới 3000 mét và nhiều bến cảng, kho tàng, sẵn sàng phục vụ mục đích quân sự để tràn ngập hoàn toàn Biển Đông.


Đầu tháng 9-2015, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) vừa lên tiếng cảnh báo Trung Quốc đang xây đường băng quân sự thứ ba nhằm hiện thực hóa chiến lược nuốt trọn vùng biển Đông Nam Á. CSIS cho biết các bức ảnh chụp từ vệ tinh ngày 8-9-2015 vừa qua cho thấy Trung Quốc đang tiếp tục xây dựng trái phép trên đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chuyên gia Greg Polling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) của CSIS, nói: giống như công trình Trung Quốc xây trái phép trên đá Xu Bi và đá Chữ Thập, tại Vành Khăn, Trung Quốc đang xây đường băng dài 3.000m, cùng các cảng để tiếp nhận tàu. Những đường băng dài 3.000m xây dựng trái phép trên Biển Đông sẽ đủ sức tiếp nhận mọi máy bay quân sự, giúp Bắc Kinh kiểm soát vùng biển trung tâm Đông Nam Á. Việc này xuất hiện ở thời điểm chỉ vài ngày nữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm chính thức Mỹ. An ninh Biển Đông sẽ là vấn đề nóng nhất trong cuộc đối thoại giữa ông Tập và Tổng thống Mỹ Barack Obama.


Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Mỹ Bill Urban nhắc lại lời kêu gọi của Washington là Bắc Kinh phải ngừng bồi lấn, xây đảo nhân tạo trái phép và quân sự hóa Biển Đông nhằm giảm căng thẳng và tạo cơ hội cho các biện pháp ngoại giao.


VIỆT NAM QUYẾT GIỮ MẶT TIỀN BIỂN ĐÔNG!


Vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm) sinh ngày 07/12/1258, nhằm ngày 11tháng 11, Mậu Ngọ. Ông là con trưởng của vua Trần Thánh Tông. 21 tuổi, lên ngôi Hoàng đế, vị Hoàng đế thứ ba của nhà Trần. Ông ở ngôi 15 năm rồi làm Thái thượng hoàng, truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông. Năm 1299, ngài xuất giá tu hành, đến Yên Tử (Quảng Ninh) lập thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đạo hiệu là Điếu Ngư Giác Hoàng. Trần Nhân Tông qua đời ngày 16/12/1308. Ông để lại Di chúc, có đoạn nói rõ về bản chất của Trung Quốc và căn dặn con cháu phải giữ vẹn toàn lãnh thổ:


“…Không thôn tính được ta, thì (Trung Quốc) gặm nhấm ta.


Họ gặm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ tổ đại bàng thành cái tổ chim chích


Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:


Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác.


Ta cũng để lại lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu”.


Từ bao đời nay, dân Việt Nam chúng ta sống sát bên nước láng giềng Trung Quốc khổng lồ đầy tham vọng bắt chúng ta làm nô lệ, nhưng chúng ta không chịu quỳ gối, không chịu bị đồng hóa. Nam quốc sơn hà Nam đế cư! Ngày nay, giang sơn gấm vóc của chúng ta như thế, lẽ nào chúng ta chịu để cho Giấc mộng bá quyền của Trung Nam Hải biến ta thành chư hầu, nô lệ!


 


Trung Quốc đã và đang giăng bẫy hòng mong Việt Nam sập bẫy để lấy cớ tràn vào Biển Đông. Cju1ng ta phải hết sức cảnh giác, hết sức chủ động trong mọi tình huống!


Nhưng, muốn chủ động phòng vệ Tổ quốc, giữ vững Biển Đông, không sa vào bẫy của Trung Quốc, thì chúng ta phải làm gì?


Biển Đông đã nhiều năm bị bỏ trống! Đó thật sự là yếu kém, mất cảnh giác!


Đó thật sự là nguy cơ lớn nhất!


Sự hiện diện của lực lượng hải quân Việt Nam trên biển Đông, sự hiện diện của ngư dân Việt khai thác thủy sản trên biển Đông là bằng chứng hiển nhiên chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc Việt Nam. Thế nhưng, cả hai mặt trận: Quốc phòng và kinh tế, không phải lúc nào cũng toàn bích. Trên thực tế, Biển Đông có lúc, có nơi còn bị bỏ trống!


Cần nhấn mạnh rằng lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng biển Đông và hải đảo. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến thăm đảo Cát Bà, một đảo lớn, có tiềm năng kinh tế biển và du lịch lớn thuộc Hải Phòng. Nói chuyện với ngư dân trên đảo Cát Bà, Bác Hồ căn dặn: “Biển của ta, do nhân dân ta làm chủ”. Đó là câu nói giàu ý nghĩa, đến nay vẫn mang tính thời sự: Hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với ý đồ, hành động xâm lấn hải đảo của Trung Quốc!


Tôi nhớ năm 1972, tôi được dẫn Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, Cố Thủ tướng Phạm văn Đồng và cố Phó Thủ tướng thường trực Tố Hữu đến đảo Cát Bà, bằng tàu hải quân. Đoàn đi thăm và tìm hiểu rất kỹ đời sống, sản xuất của ngư dân trên đảo. Trên tàu về đất liền, Cố Tổng Bí thư hỏi và nhắc nhở lãnh đạo Thành ủy Thành phố Hải Phòng: “Tại sao trong nhà các ngư phủ thuộc Hợp tác xã nghề cá, người dân tộc Hoa, lại chỉ treo ảnh Mao Trạch Đông? Đây là biển, đảo của nước Việt Nam kia mà, phải treo ảnh Hồ Chủ tịch chứ”!


Sau này, tôi hiểu rằng, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn là người rất cảnh giác với các động thái của người láng giềng không lồ Trung Quốc. Ông luôn luôn tỏ thái độ sòng phẳng, bình đẳng trước các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung quốc. Hơn ai hết, ông hiểu rõ bản chất của tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh và dã tâm thôn tính Việt Nam. Tôi rất trọng ông ở tinh thần độc lập, ý chí tự cường, không chịu để cho nước lớn thao túng, không chịu phụ thuộc.


Tôi dẫn một đoạn trích sau đây để bạn đọc thấy rõ ý chí Độc lập Tự cường, cảnh giác cao độ với âm mưu bành trướng của Trung Nam Hải của cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn (lúc ấy chức danh của ông là Bí thư thứ nhất Đảng ta), khi đối thoại với Mao Trạch Đông. Đoạn này tôi trích từ bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn năm 1979: “Về bọn bành trướng Bắc Kinh”. Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội.Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP. Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center tên sách là “Đằng sau tấm màn tre – Trung Quốc, Việt Nam và Thế giới ngoài châu Á” (Behind the Bamboo Curtain – China, Vietnam, and the World beyond Asia), do Priscilla Roberts biên tập, Trung tâm Woodrow Wilson và Đại học Stanford xuất bản, 2006. Đoạn đối thoại giữa TBT Lê Duẩn và Mao Trạch Đông in ở Phần III chương 14 của cuốn sách, với tiêu đề “Lê Duẩn và sự đoạn tuyệt với Trung Quốc”.


“Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến ​​của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí”


Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á”. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”.


Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch”.  Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!


Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng quân sự của việc này. Mao hỏi tôi:


- Lào có bao nhiêu cây số vuông?


Tôi trả lời:


- Khoảng 200 nghìn cây số vuông.


- Dân số của họ là bao nhiêu? [Mao hỏi]


- Tôi đáp: Gần ba triệu.


- Mao nói: Thế thì cũng không nhiều lắm! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy!


- Mao hỏi: Thái Lan thì có bao nhiêu cây số vuông?


- Tôi trả lời: Khoảng 500 nghìn ki lô mét vuông.


- Và có bao nhiêu người? [Mao hỏi]


- Gần 40 triệu! [Tôi đáp]


- Trời ơi! [Mao nói], tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500 nghìn cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống Thái Lan nữa!


Đối với Việt Nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, Mao nói với tôi: “Các đồng chí, có thật người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không?”. Tôi nói: “Đúng”. “Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không?”. Tôi đáp: “Đúng”. Ông ta lại hỏi: “Và cả quân Minh nữa, đúng không?”. Tôi trả lời:


-          Đúng! Và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông. Ông có biết thế không?


 Tôi đã nói với Mao như vậy đó. Ông ấy nói: “Đúng! Đúng!”. Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái Lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp”[4].


Từ năm 1956 đến tháng 3-1988, 32 năm trời, do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Việt Nam đã để mất nhiều hải đảo và bãi đá ngầm thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Đảo Ba Bình, hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa bị Đài Loan chiếm đóng từ thời ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Tại đây, Đài Loan đã xây dựng sân bay dùng cho máy bay quân sự hạng nặng. Khi cần, máy bay của họ bay vèo một cái là tới Sài Gòn! Phần lớn Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng năm 1974, thời Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sau chiến tranh xâm lược biên giới phía bắc Việt Nam, tháng ba năm 1988, Trong Quốc đưa quân cưỡng chiếm bãi đá Gạc Ma và 6 bãi đá khác của quần đảo Trường Sa thuộc Việt Nam. Trung Quốc với yêu sách phi lý về đường lưỡi bò, đã và đang tăng cường việc tôn tạo các bãi đá ngầm thành căn cứ quân sự hiện đại hòng khống chế toàn bộ biển Đông, tiếp tục thôn tính toàn bộ quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Biển Đông đang trở thành điểm nóng, có nguy cơ mất an toàn cho đường hàng hải quốc tế, khiến toàn thế giới phải chú ý. Hoa Kỳ, Nhật bản cùng nhiều nước khác đã, đang lên tiếng và có hành động cụ thể để ngăn ngừa sự lộng hành của Trung Quốc, không để Trung Quốc lộng hành làm ảnh hưởng đến an toàn và tự do hàng hải trên biển Đông.


Trước 30-04-1975, Việt Nam chưa có đủ điều kiện để tự mình bảo vệ lãnh hải và thềm lục địa của mình! Điều này thật dễ hiểu. Từ 1975 đến năm 1988, khi Trung Quốc cưỡng chiếm Gạc Ma, hải quân của Việt Nam cũng chưa đủ hiện đại để ngăn chặn Trung Quốc cưỡng chiếm. “Có thực mới vực được đạo”! Sự thật này cần được thẳng thắn nhìn nhận, phân tích, để minh bạch trước toàn thể nhân dân Việt Nam. Thực tế đó không chứng tỏ chúng ta chấp nhận giặc ngoại xâm xâm phạm chủ quyền!


(còn tiếp)


Nguồn: Viết trong tiếng sóng Biển Đông. Bút ký của Nguyễn Hồng Cẩn. Tác phẩm đã được gửi đến hai nhà xuất bản lớn, nhưng… chưa được cấp Giấy phép xuất bản! Tác giả tự in vài chục bản, như là tài liệu tham khảo để tặng những người thân yêu & bạn bè tri âm, tri kỷ.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


   


 









[2] Nguồn: http://www.vanhoanghean.com.vn




[3] Trích từ www. khampha. vn




[4] Nguồn: http://www.trieuxuan.info/?pg=tpdetail&id=11898&catid=11



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »