Thập kỷ thứ nhất của thế kỷ 21, cắm mốc lớn là Nuôi trồng thủy sản, mũi nhọn vẫn phải là xuất khẩu thủy sản. Hai khâu tiếp tục giữ vai trò then chốt, quyết định đẩy Thủy sản lên đỉnh cao.
Dù không còn là một Bộ độc lập, chỉ là Tổng cục thuộc Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, nhưng Chiến lược phát triển thủy sản 2011-2020 đã được Chính phủ phê duyệt; đúng vào lúc Biển Đông dậy sóng, thu hút mối quan tâm của toàn thế giới. Đây chính là thời cơ để phát triển kinh tế xã hội biển đảo và ven biển. Thủy sản Việt Nam liệu có sẵn sàng tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để? Điều này đòi hỏi tầm lãnh đạo sáng suốt, tri thức cao, táo bạo, phải quy tụ được chất xám, tài năng trong ngành thủy sản nhất là hệ thống doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân, theo phương châm: Vì dân, vì nước, vì ngành, vì mình, triệt để đổi mới thỏa sức sáng tạo… Phải cùng nhau tìm ra cách đột phá để một hai thập niên tới đưa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản trở thành một ngành công nghiệp xanh, sạch, hiệu quả bền vững nhất.
I. Những nét nổi bật trong 66 năm xây dựng phát triển ngành kinh tế xã hội thủy hải sản.
1. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng, thống nhất nước nhà, nhờ đó thủy hải sản đã đột biến trở thành một ngành kinh tế xã hội thủy hải sản giàu có, có sức mạnh như phù đổng với những tài khoản biển cả hải đảo, đầm phá, eo vịnh, sông ngòi ao hồ, hàng trăm hàng nghìn ao hồ ruộng đồng suối cao hồ chứa trên mọi miền đất nước với môi trường sinh thái xanh sạch, với tài nguyên phong phú đa dạng nhân lực rồi dào thị trường hàng trăm triệu dân với vị trí giao lưu thuận lợi là một quốc gia hiếm có, đây là nền, vốn để xây dựng và phát triển công nghiệp hóa nước nhà nhưng tiếc rằng 36 năm qua thiếu một tư duy đầy đủ đó, thiếu sự đầu tư, gìn giữ bảo vệ đi đôi với khai thác tái tạo cho tới khi tranh chấp Biển Đông mới bộc lộ ra nhiều vấn đề đáng tiếc nhưng đây vẫn là một tài khoản cơ bản, là nền quyết định xây dựng đất nước chưa muộn cần có sự đầu tư và chính sách hiệu quả.
2. Sự nổi trội xã hội thủy sản đã nghe theo tiếng gọi của Việt Minh, của non sông đất nước đứng lên tham gia giành chính quyền đã tham gia đánh Pháp đuổi Mỹ suốt 30 năm trời vừa kháng chiến, vừa phát triển ngành kinh tế xã hội thủy hải sản vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho xã hội cho chăn nuôi vừa củng cố hậu phương vừa chi viện tiền tuyến giành độc lập thống nhất nước nhà, đó là một chặng đường lịch sử truyền thống anh hùng chống thiên tai địch họa vẻ vang nhất của ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam. Nhờ đó ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam đã tồn tại và phát triển như ngày nay từ đó đặt ra một vấn đề phải quan tâm xây dựng một ngành kinh tế xã hội biển đảo và ven biển thành một ngành kinh tế kỹ thuật xã hội mạnh.
3. Ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đã có công đầu đột phá mở đầu theo cơ chế tự cân đối tự trang trải với triết lý mở và hội tụ trên phạm vi toàn ngành từ năm 1980 lấy mũi xuất khẩu là cán cân tự cân đối trang trải toàn ngành và cân đối hài hòa lợi ích nhờ đó suốt 30 năm qua mới đạt những thành tựu lớn như ngày nay và mở ra một bước đi công nghiệp hóa hiện đại hóa, xanh sạch hóa toàn diện và bền vững hiệu quả theo hướng sau đây:
- Thực tế quá trình Quốc doanh hóa (Xã hội chủ nghĩa) hợp tác hóa (nửa xã hội chủ nghĩa) là không thành công! Thủy sản muốn phát triển phải dân doanh hóa, công nhân hóa ngư dân, lấy đa sở hữu cổ phần hóa, liên doanh hóa là chính, là chủ yếu, xây dựng những tập đoàn tư nhân là chủ lực thì mới phù hợp với tính đặc thù của nó. Cách tổ chức quản lý doanh nghiệp như Bộ NN&PTNT hiện nay là không phù hợp, làm suy yếu ngành thủy sản.
- Ngành kinh tế xã hội thủy sản rất nhạy cảm với cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là sức sống, linh hồn của ngành, nên phải trả nó về với cơ chế thị trường. Thị trường là hơi thở sự vận động của ngành thủy sản nên chính nó phải nắm được và điều chỉnh hơi thở đó thì nó mới tồn tại. Nhà nước phải tạo điều kiện có sự tác động để hơi thở đó được thông suốt trong lành.
- Sau những năm đổi mới ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đã phục hồi, tạo dựng lại sự liên hoàn từ khâu khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản chế biến, như là một quy trình công nghệ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ thủ công lên công nghiệp hóa ngành thủy sản. Nay, càng phải tôn trọng quy trình công nghệ này. Đây là tính khách quan, tính quy luật của nghề nghiệp và đặc điểm của sản phẩm. Nhà nước phải tôn trọng tính liên hoàn mới tạo được sức mạnh, tính bền vững, tạo được tính cạnh tranh, giảm được tính ích kỷ, lẻ loi riêng rẽ. Trước đây chúng ta đã phân đoạn ra để quản lý nó, việc làm này chỉ thích hợp khi quy mô nhỏ lẻ, nhưng sau khi hợp nhất vào Bộ NN&PTNT thì càng đòi hỏi tính quy trình này. Mọi vấn đề về tư duy, chiến lược, kế hoạch, chính sách, tổ chức quản lý, đào tạo con người đều phải dựa vào các đặc tính này để xây dựng và phát triển.
4. Nắm vững vận hội, khai thác thời cơ là bản lĩnh tài năng, thành công của ngành kinh tế xã hội thủy sản Việt Nam.
- Tâm lý xưa nay coi ngành kinh tế xã hội thủy sản là lĩnh vực chim trời cá nước, sống chung với bão tố lũ lụt, hạn hán, mua tranh bán cướp, thị trường bất ổn nên kinh doanh thủy sản là siêu lợi nhuận, đồng thời là siêu rủi ro, tính ích kỷ rất cao, khó có sự phối hợp… Thực tế không phải vậy. Ngành thủy sản trên toàn thế giới chưa bao giờ cung đáp ứng cầu, chất lượng lại càng không đủ. Sản xuất kinh doanh dịch vụ thủy hải sản thuận lợi hơn là rủi ro và thất bại trên mọi lĩnh vực.
- Thủy sản một khi đã trở thành một ngành sản xuất lớn đòi hỏi phải cập nhật thông tin, tổng kết kịp thời sâu sắc từng việc từng giai đoạn kể cả thành công và thất bại. Tổng kết là việc không thể thiếu của ngành kinh tế xã hội thủy sản. Lĩnh vực này làm chưa đạt yêu cầu nhiều khía cạnh đã bị bỏ qua nên đã không nắm vững vận hội thời cơ của mình kể cả tầm vĩ mô và vi mô kể cả vấn đề kỹ thuật và cụ thể.
- Phải có một sự điều hành liên hiệp toàn ngành để tháo gỡ, nắm vững vận mệnh: ngành thủy sản rất yếu về mặt này, đa phần đi sau thực tế… Phải có một bộ máy quản lý kinh tế, xã hội, chính trị của ngành kinh tế xã hội thủy sản, không thể duy trì bộ máy quản lý như hình thái nông nghiệp.
II. Những nguồn tư duy, những hoài nghi tích cực và phản biện còn khác nhau chưa tạo được sự đồng thuận.
1. Ngành kinh tế xã hội kỹ thuật thủy sản đã công nghiệp hóa đến đâu? HƯớng chiến lược 10 - 20 năm nữa phải đạt đến đâu?
- Chưa có câu trả lời! Vì trên thực tế chưa hề có tiêu chí cụ thể, mục tiêu cụ thể, mục tiêu công nghiệp hóa cho từng giai đoạn. Chiến lược đến 2020 cũng không có yêu cầu mục tiêu cụ thể. Cần định hướng để đầu tư và phấn đấu. Thực tế ở miền Bắc kết hoạch 1961 – 1965 và miền Nam từ 1960 ngành thủy sản đã được khởi động công nghiệp hóa. Khi thống nhất đất nước, kế hoạch 1976 – 1980 được coi là kế hoạch có đỉnh cao nhất nhưng không thành công và sau đó cũng không kết luận là công nghiệp hóa ở mức nào. Sau kế hoạch đó, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên về giá, lương, tiền, nhà nước cho ngành thủy sản tự lo tự làm. Cho đến nay cũng chưa có sự đánh giá tiến trình công nghiệp hóa ngành kinh tế thủy sản đạt đến đâu.
Lĩnh vực khai thác thủy sản biển. Tạm dựng các tiêu chí để đánh giá:
- Muốn phát triển, công nghiệp hóa được thì phải đánh giá tài nguyên và kiểm toán được tài sản tới 80 – 90% và quản lý được.
- Phải có một chiến lược đầu tư, gìn giữ đối với khai thác tái tạo, môi trường, các tài sản cụ thể.
- Phải có chiến lược khai thác, tái tạo từng tuyến như tuyến ven bờ, cận dương và viễn dương. Hiện đã có chiến lược khai thác gần bờ và xa bờ, nhưng trang thiết bị quá nhiều và quá nhỏ, đánh giá tăng trưởng bằng số lượng tàu thuyền và mã lực thì không hợp lý. 60% sản lượng khai thác là nhờ tuyền ven bờ, nhưng tuyến cận duyên và viễn dương thì không có. Xuất hiện doanh nghiệp nước ngoài thuê lao động và tàu thuyền Việt Nam ra viễn dương khai thác.
- Có luật khai thác biển riêng và cụ thể, nằm trong luật thủy sản như hiện nay là không đầy đủ.
- Có một hệ thống chuyên ngành và liên ngành về khai thác biển. Hiện nay về khai thác biển của ta là tự do, tự phát chưa có một chiến lược phát triển nghề cá nhân dân tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa bao gồm cả hệ thống phát triển xã hội thủy sản ven bờ và hệ thống tránh bão, tránh lụt lội. Có hệ thống chính quy đào tạo các thuyền trưởng, thuyền viên…
Lấy những tiêu chí trên đánh giá thì Việt Nam chỉ mới công nghiệp hóa khỏang 20-30% ngành khai thác biển.
Về nuôi trồng thủy sản
Nắm được tài nguyên tiềm năng nuôi trồng tổng thể ở mức 80%. Thứ nhất phải có một quy hoạch kế hoạch tổng thể không để có sự tự phát bao gồm cả nuôi và trồng nước ngọt, lợ, mặn. Muốn như vậy thì chúng ta phải có một chiến lược chặt chẽ. Dựa theo tiêu chí này chúng ta đạt được khoảng 60 – 70%. Thứ hai, chúng ta phải đưa được công nghệ sinh học, công nghệ hữu cơ vào các lĩnh vực của nuôi trồng, các mô hình nuôi sinh thái theo chiều hướng bền vững. Theo tiêu chí này chúng ta đạt được 40 – 50%. Thứ ba, cũng phải có luật, chính sách rõ ràng nghiêm chỉnh về nuôi trồng tạo ra tính bền vững. Thứ tư, về quản lý phải quản lý chuyên nghiệp, tiêu chuẩn hóa cán bộ công nhân nuôi trồng, về mặt này ước đạt 60 – 70%. Về nuôi trồng nói chung, ước tính chúng ta công nghiệp được khoảng 50-60%.
Về chế biến
Chế biến phải gắn kết với khai thác và nuôi trồng, gắn chặt với thị trường, nên cần có quy hoạch chặt chẽ và một tổ chức điều hành toàn bộ lĩnh vực này. Chế biến ở Việt Nam hiện gắn liền với tiêu thụ sản phẩm nên các nhà máy chế biến bắt kịp với thế giới và có khả năng nâng lên một trình độ cao hơn; nhưng cần quy hoạch quản lý về chế biến xuất khẩu. Đánh giá chung về chế biến có thể đạt trên 80% công nghiệp hóa. Về chế biến nội địa nhìn chung còn thủ công và chưa được quan tâm đúng mức, nguyên liệu cung cấp cho chế biến nội địa không cao. Ví dụ ngành nước mắm có thể công nghiệp hóa bằng năng lượng mặt trời và nhiều mặt khác chúng ta có thể nâng tầm lên, nhưng chưa làm được. Đánh giá chung về công nghiệp hóa chế biến nội địa ước đạt 20%.
Về công nghiệp, dịch vụ tổng hợp, công nghệ cao gồm: công nghệ thức ăn, kho tàng, vận chuyển, đào tạo, máy móc thiết bị, giống, sinh học, thương mại… Thói quen tư duy chỉ đạo vẫn liệt nó vào ngành hậu cần, thực ra nó là công nghiệp dịch vụ phức hợp công nghệ cao. Ở nhiều nước ngoài, người ta đầu tư rất lớn vào lĩnh vực này như công nghiệp thức ăn nước ngoài chiếm 80%.
2. Sau những năm đổi mới ngành kinh tế xã hội kỹ thuật thủy sản Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản nhưng chưa có sự khẳng định nên có sự cảm nhận khác nhau.
- Về vấn đề sở hữu: Theo truyền thống ban đầu ngành kinh tế thủy sản lấy quốc doanh (xã hội chủ nghĩa) và lấy hợp tác xã (nửa xã hội chủ nghĩa) làm nòng cốt. Đến những năm đổi mới, điều này không còn thích hợp, đã đổi sang đa sở hữu, đa thành phần, lấy dân doanh làm nền tảng, lấy các doanh nghiệp các trang trại, các tập đoàn là chủ lực xây dựng ngành thủy sản. Sở hữu nhà nước chỉ tồn tại khi cần thiết và có hiệu quả. Nên dứt khoát và triệt để đổi mới về vấn đề này.
- Vấn đề thị trường và vấn đề kế hoạch. Ngành kinh tế xã hội kỹ thuật thủy sản đã lấy cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển, cơ chế kế hoạch chỉ là cơ chế hướng dẫn, ở tầm vĩ mô chiến lược của nhà nước, tự ngành phải xây dựng kế hoạch để nhà nước phê duyệt.
- Ngành kinh tế xã hội kỹ thuật thủy sản đã hình thành 4 ngành cột trụ: 1. Khai thác biển, 2. nuôi trồng, 3. chế biến, 4. công nghiệp dịch vụ phúc hợp công nghệ cao. Bốn ngành này coi như cột trụ của mái nhà thủy sản và 4 cột trụ này không thể thiếu, không thể yếu. Phải có sự chỉ huy quản lý liên hoàn để xây dựng, phát triển, lấy hệ thống tổ chức doanh nghiệp tập đoàn làm chủ lực phát triển. Hiện nay đã có hàng nghìn cơ sở đang phát triển, đã đang hình thành các tập đoàn…
- Hệ thống tổ chức phi chính phủ, bán Chính phủ đã đang hình thành và phát triển cần tổng kết và hoàn chỉnh, có những nghị định phát triển có tính khu vực, toàn quốc và quốc tế. Hội nghề cá như hiện nay là phụ trách chung nghề cá hay chỉ là nghề cá nhân dân? Có ý kiến cho rằng nên tổ chức thành liên hiệp hội của ngành kinh tế xã hội thủy sản. Một số hiệp hội nên phát triển theo hướng phi chính phủ, bán chính phủ, nên phát triển thêm các trung tâm nghiệp vụ phi chính phủ, bán chính phủ.
- Cơ cấu mô hình hệ thống quản lý: Việc đầu tiên là cần phải xác định rõ thế nào là bộ quản lý đa ngành? Tôi nghĩ, mô hình tổ chức của ngành kinh tế xã hội kỹ thuật thủy sản nên như sau:
+ Từ Trung ương đến địa phương phải có một hệ thống hành chính rõ rệt.
+ Hệ thống quản lý doanh nghiệp, nghiệp vụ phải hình thành một hội đồng quản lý doanh nghiệp lấy một vụ của Tổng cục Thủy sản làm thường trực.
+ Các hệ thống phi chính phủ, bán Chính phủ phải có một tổ chức bên cạnh Tổng cục Thủy sản để điều hành.
+ Hệ thống liên ngành phối hợp tài chính, thống kê… để phối hợp thực hiện nhiệm vụ chung.
+ Hệ thống hợp tác liên minh với quốc tế tập trung một đầu mối bên cạnh Tổng cục Thủy sản.
Tổng cục Thủy sản phải có một hệ thống chỉ huy điện tử nhằm kịp thời chỉ đạo. Hệ thống Viện Trường phải đổi mới nghiên cứu thành lập học viện thủy sản, các Viện khu vực phải doanh nghiệp hóa, cần phát triển thêm các Viện tư nhân, lấy các tập đoàn làm nòng cốt cho từng khu vực.
III. Triết lý và chủ thuyết xây dựng, phát triển ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản Việt Nam.
- Từ ngàn năm qua, ngành thủy sản đã phát huy truyền thống yêu nước thương nòi... nhiễu điều phủ lấy giá gương... đoàn kết, chế ngự và chống thiên tai địch họa, đạt được rất nhiều kỳ tích lịch sử; thể hiện trong các truyện cổ tích, truyện dân gian, các truyền thuyết, lễ hội ngư ông, thần biển ở khắp miền xã hội biển đảo. Truyền thống đã hun đúc cho xã hội và con người những bản sắc văn hóa yêu nước, lòng nhân ái, tinh thần dũng cảm vừa giữ gìn biển đảo bờ cõi, vừa khai thác tái tạo môi trường biển đảo.
- Thế kỷ 20, ngành Thủy sản cùng toàn dân tộc, đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền, tiến hành 30 năm kháng chiến trường kỳ thắng Pháp đuổi Mỹ, chống thiên tai địch họa cho tới ngày chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30/4/1975 toàn thắng, thống nhất nước nhà.
- Từ năm 1981, chỉ có ngành thủy hải sản được Đảng, Nhà nước cho phép tự lo, tự làm rất sớm để tháo gỡ, vượt qua khủng hoảng, thoát khỏi sự bao vây kinh tế của Mỹ, đưa hàng thủy sản ra thế giới bên ngoài, lấy thủy sản làm cán cân cân đối lợi ích, hài hòa toàn ngành cho tới ngày nay. Đó là bước ngoặt lịch sử văn hóa đột phá đi đầu đổi mới của một ngành kinh tế xã hội quốc dân.
- Thủy sản là ngành có truyền thống xã hội lâu đời, cung cấp dinh dưỡng cho nhân dân, không ngành nào có thể thay thế được, tạo ra nhiều công ăn việc làm (chiếm khoảng 10% dân số) xóa đói giảm nghèo. Thủy sản mang lại một nguồn ngoại hối lớn, tái tạo, gìn giữ nguồn lợi, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân.
- Đặc điểm nghề nghiệp: Con người hành nghề cùng với biển cả sông nước, đối diện với bão lụt, mùa vụ, may rủi, sản phẩm tươi sống, sai một ly đi một dặm, mất cơ hội... đòi hỏi tính nhạy cảm, sáng tạo dũng cảm. xã hội nghề cá đã tạo nên dựng nên một ngũ công nhân, ngư dân, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp nhiệt huyết. Chúng ta cần không ngừng phát huy, nhân lên tính ưu việt của đội ngũ này!
Tôi rút ra triết lý xây dựng và phát triển ngành thủy sản:
Chiến lược, sách lược phát triển ngành phải xuất phát từ nghề cá nhân dân. Hướng vào dân doanh, đa sở hữu, đa thành phần. Tôn trọng quy luật tự nhiên, liên hoàn nghề nghiệp và tính xã hội, kinh tế rất đặc thù của Thủy sản. Công nghiệp hóa thủy sản phải tạo dựng đội ngũ doanh nghiệp, tập đoàn mạnh từ nghề cá nhân dân. Thủy sản đang đòi hỏi việc đào tạo đội ngũ cán bộ có tri thức, chuyên nghiệp, chuyên ngành, công nhân hóa ngư dân, tôn vinh những công nhân, doanh nhân tiêu biểu.
CÔNG NGHIỆP HÓA NGÀNH KINH TẾ KỸ THUẬT XÃ HỘI THỦY HẢI SẢN VIỆT NAM
Năm 2012, Hội đồng Tư vấn Hội Nghề Cá đã phác thảo hai đề tài:
Triết lý và chủ thuyết xây dựng phát triển ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam
Tư duy đột phá xây dựng phát triển ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã gửi Dự thảo nói trên cho một số lãnh đạo của Bộ tham khảo nghiên cứu. Hội Nghề Cá dự kiến mời Viện Kinh tế Qui hoạch của Tổng cục Thủy Sản, một số nhà doanh nghiệp, một số địa phương, một số nhà nghiên cứu khoa học cùng với Hiệp Hội Vasep trao đổi góp ý vào dịp kết thức kế hoạch năm 2012 và hai năm triển khai bản chiến lược thủy hải sản 2011-2020 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã được Chính phủ phê duyệt.
Trong dịp này Hội Nghề Cá và Hội đồng Tư vấn trình bày bản thảo “Vận dụng tư duy đột phá” phân tích tiến trình công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam, nhằm đóng góp báo cáo với Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn và Tổng Cục Thủy Sản, 8 năm còn lại của bản chiến lược phát triển (2013-2020).
Tôi quan sát, theo dõi thấy nước Nhật Bản vào thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước đã đột phá chương trình 3C và 3I để đuổi kịp phương Tây. 3C - 3I là lấy chữ đầu của tiếng Anh. 3C là sao chép – kiểm soát – rượt đuổi – sang thập kỷ 80 đột phá. 3I (là bản sắc – sáng tạo – cải tiến), nhờ thế, họ đã trở thành cường quốc thứ hai sau Mỹ.
Vào thập kỷ cuối của thế kỷ 20, tư duy đột phá ra đời; bước sang thế kỷ 21, học thuyết tư duy đột phá bùng nổ, được các nhà học giả, các doanh nhân trên thế giới vận dụng phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực kinh tế và công nghệ phức hợp, công nghệ cao và rất thành đạt, và cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ tư duy – tư duy đột phá.
Học thuyết tư duy đột phá rất tổng hợp, đa ngành, đa dạng, toàn diện, có tính bứt phá thành công. Tư duy đột phá là phần mềm dành cho trí não, dựng ra những nguyên tắc, những qui trình để hoạch định ra đường lối chiến lược, thiết kế, cấu trúc và tái cơ cấu cùng với hệ thống tổ chức và giải pháp với lộ trình liên hoàn xâu chuỗi chuyên ngành hay đa ngành, tạo sự đồng hợp (nghĩa đen là sự đan xen chồng chéo giao thoa) với cơ chế chính sách năng động thích ứng sáng tạo, tạo sức mạnh tinh thần hứng khởi, sức mạnh cạnh tranh nổi trội. Tư duy đột phá là mở rộng tầm nhìn vượt khó, bắt kịp thời đại, biết nhìn quá khứ tạo sức mạnh cho tương lai. Tư duy đột phá là tư duy thông minh, biết tiếp cận và biết khai thác “mỏ vàng sáng tạo” của con người, của nhân loại để dành được nhiều kết quả, đỡ tốn công sức, tốn của và thời gian (mà thời gian là vốn quí và quan trọng hàng đầu), bớt rủi ro, tránh được sai lầm thất bại, biết nắm và khai thác tạo dựng vận hội, cơ may, cơ động, được sự hứng khởi của mọi người với lòng tin vững chắc. Tư duy đột phá là dòng chảy xuyên suốt từ sự tiếp cận sơ thảo khởi động đến xây dựng qui trình và vận hành hết nhiệm kỳ này đến nhiệm kỳ chương trình tiếp theo, kết thúc đích từng chặng.
Tư duy đột phá khác hẳn với tư duy phân tích đã trải qua hàng mấy trăm năm, khác hẳn với tư duy sao chép bị động, càng kỵ với tư duy trì trệ, quan liêu, bàn giấy, bao cấp, vô chủ, xin cho, càng đối nghịch với tư duy gian dối, lừa gạt, vô cảm, vô đạo đức, đầy rẫy những tư duy cạm bẫy,... đi ngược chống lại đường lối “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
NQ4của Ban chấp hành Trung ương Đảng vừa qua là tư duy đột phá có tính tồn vong!
Dựa vào tinh thần của tư duy đột phá nêu trên, để nghiên cứu, phân tích tiến trình sự nghiệp công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam ra sao?
40 năm đã qua, kể từ sau ngày thống nhất Tổ quốc tới nay, ngành kinh tế thủy hải sản Việt Nam chưa có một cơ chế phân tích chiến lược của từng nhiệm kỳ, thường chỉ kết hợp với sự tổng kết hàng năm và nhiệm kỳ. Bản phân tích này không phải là bản phân tích chiến lược chung và ở nhiệm kỳ nào, đây chỉ là sự phân tích chiến lược vào tiến trình công nghiệp hóa của ngành kinh tế xã hội thủy hải sản để góp phần bổ cứu tiến trình công nghiệp hóa của ngành kinh tế xã hội thủy hải sản.
Đây là sự mạnh dạn tham gia có tính khởi động của Hội Nghề cá. Sự phân tích này không tránh khỏi sai sót và hạn chế, hy vọng có sự đóng góp của mọi người, mọi phía.
Để có cơ sở phân tích tiến trình công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam, xin khái quát 67 năm xây dựng phát triển ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam 1945-2012:
Sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, ngành thủy hải sản cùng toàn dân bước vào 9 năm kháng chiến trường kỳ, chủ động lo liệu, vừa kháng chiến vừa cung cấp chất đạm cho xã hội. Chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, mới khởi động xây dựng ngành thủy hải sản. Năm 1960, khởi đầu đột phá xây dựng khu liên hợp công nghiệp thủy sản Hạ Long Hải Phòng, gồm những đội tàu 300 – 400 – 600 – 800 và 1000 CV do Liên Xô – Trung Quốc sản xuất, có hệ thống cầu cảng, nhà máy cá hộp và chế biến, có các xí nghiệp đóng sửa tàu thuyền. Đã có năm khai thác trên 10. 000 tấn hải sản; có trường đại học, trung học và đào tạo công nhân... Cùng với phát triển hệ thống quốc doanh khai thác cá biển, hệ thống dịch vụ chế biến và tiêu thụ, được gọi là Tổng Công ty và các Công ty cấp 1, 2, 3 ở các tỉnh, huyện hình thành. Nghề cá nhân dân toàn miền Bắc được cải tạo xây dựng và được từng bước cơ giới hóa, thay dần thuyền bè thủ công. Công cuộc xây dựng công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản miền Bắc thành công bước đầu, đã đang phát huy tác dụng.
Đến ngày 05-08-1964, cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không lực Hoa Kỳ ập tới. Ngành thủy hải sản là một trong những mục tiêu hủy diệt: Các phương tiện tài thuyền, bến bãi bị diệt trước tiên, nhằm ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam. Suốt 10 năm 1965-1975, ngành thủy sản lâm vào tình thế sa sút rồi khủng hoảng; nhưng vẫn bảo tồn được lực lượng, vẫn sản xuất cung cấp (dù rất ít) chất đạm cho dân và chi viện tiền tuyến.
Một ngẫu nhiên của thực tế: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ở miền Nam, phong trào Ngư phủ được cơ giới hóa phương tiện khai thác, các khu công nghiệp dịch vụ thủy hải sản Sài Gòn – Vũng Tàu – Kiên Giang hình thành, phát triển nhanh, phục vụ nghề cá nhân dân; đã xuất khẩu được 21 triệu USD, và tiếp tục phát triển cho đến ngày thống nhất đất nước. Thủy hải sản Việt Nam cả hai miền Bắc Nam đã khởi động xây dựng công nghiệp hóa từ những năm 1960 của thế kỷ 20. Tới ngày thống nhất đất nước, ngành thủy hải sản Việt Nam xây dựng chiến lược phục hồi và phát triển, với kế hoạch 1976-1980 đầy tham vọng: Mục tiêu xây dựng 5 trung tâm công nghiệp thủy hải sản là:Hạ Long Hải Phòng – Đà Nẵng – TP HCM – Vũng Tàu – Kiên Giang. Mỗi Trung tâm có một đội tàu khai thác đạt từ 50. 000 tấn đến 100. 000 tấn hải sản; hệ thống đông lạnh và công nghiệp dịch vụ khác. Ngành thủy hải sản ở các tỉnh thành được phát triển mạnh với nguồn vốn huy động tương đương 500 triệu USD nhằm đạt 1 triệu tấn hải sản (700. 000 tấn hải sản – 350. 000 tấn nước ngọt) và 40 triệu USD vào năm 1980. Ngành thủy hải sản trở thành một ngành kinh tế mạnh của kinh tế quốc dân. Xí nghiệp quốc doanh đánh cá Côn Đảo Vũng Tàu có lúc đã khai thác trên 20. 000 tấn hải sản/ năm.
Đầu voi, đuôi chuột! Kế hoạch vẽ ra quá lớn, đầu tư mạnh tay, nhưng, kết thúc kế hoạch 1976-1980, thủy hải sản Việt Nam đã thất bại, lâm vào tình thế phá sản, bế tắc tan rã. Nguyên nhân có nhiều, bề nổi ai cũng nói đến là do cuộc khủng hoảng giá – lương – tiền, do sự bao vây kinh tế của Mỹ… Nguyên nhân cốt lõi, ít người dám nói - lúc đó- là do những sai lầm về đường lối, chính sách: cải tại ồ ạt các doanh nghiệp tư nhân làm nghề thủy sản, quốc hữu hóa bất cần hiệu quả, xa rời dân, cản trở nghề cá nhân dân. Nhà văn Triệu Xuân viết cuốn tiểu thuyết Trả giá, lấy bối cảnh ngành thủy sản, in ngay trang đầu lời đề từ: Mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc phải trả giá rất đắt cho những sai lầm của mình… Sai lầm của phương pháp tư tưởng duy ý chí: cải tạo hàng loạt những nhà tư sản dân tộc, thâu tóm tất cả cho Nhà nước quản lý, quốc doanh ồ ạt cho có bảng hiệu nhưng không xăng dầu, không nguyên liệu hoạt động… kéo theo những thiệt hại vô cùng to lớn mà hệ quả tất yếu là kinh tế, xã hội khủng hoảng, niềm tin suy giảm, nền tảng đạo lý tan rã! Nhà nước làm sao có thể cáng đáng bao cấp mãi được! Ví dụ, kế hoạch hàng năm cấp cho ngành thủy hải sản 100. 000 tấn dầu, nay chỉ còn 10. 000 tấn để đổi lấy cá cung cấp cho Bộ đội, cán bộ và công nhân. Mọi thứ vật tư khác không còn nữa! Nhà nước phải chấp nhận và công bố cho phép ngành thủy hải sản tự lo tự liệu để tồn tại. Đây là lúc cơ chế tự cân đối, tự trang trải, với triết lý mở và hội tụ ra đời, bắt đầu từ Seaprodex. Cơ chế này đột phá vào việc tuân theo quy luật thị trường, nhất là thị trường xuất nhập khẩu, hướng vào các nước khối Tư bản. Nhờ vận hành quy trình sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, Seaprodex thổi vào ngành thủ sản luồng sinh khí đầy hấp dẫn, là đòn bẩy kích hoạt các khâu đánh bắt, chế biến, nuôi trồng… tạo ra công ăn việc làm, thúc đẩy nuôi trồng và chế biến xuất, Luồng sinh khí mà cơ chế tự cân đối, tự trang trải, với triết lý mở và hội tụ đưa tới, tạo sự hứng khởi và đạt kết quả hết bất ngờ này sang bất ngờ khác, tháo gỡ sự kìm kẹp của cơ chế bao cấp, chọc thủng phòng tuyến bao vây kinh tế của Mỹ, đưa hàng xuất khẩu thủy hải sản vào thị trường II, bao gồm cả thị trường Mỹ. Ngành thủy sản đã tự cân đối với khả năng, không xin gì của Nhà Nước như thời kỳ kế hoạch 1976-1980. Nhà nước thì vẫn kiểm soát quản lý được nguồn vốn tự có, không có ăn chia vào vốn. Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đã thành công trong việc xé rào, tự vượt thoát khủng hoảng trong toàn ngành, mở ra một kỷ nguyên phát triển, đổi mới, thiết lập đà tiến triển tiếp theo ở thập kỷ 90 là công nghiệp hóa trên cơ sở tự chủ tự trang trải, với triết lý mở và hội tụ.
Củng cố phát triển vốn tự có, ngành đã từng bước cổ phần hóa, hướng tới đạt xuất khẩu hơn 1 tỉ USD vào năm 2000. Nhưng… Oái oăm thay, chính Bộ Thủy sản đã sai lầm khi hãm lại cỗ xe phát triển đang có đà ngày càng nhanh, mạnh. Bộ đã nhân danh một lý thuyết viển vông mà lùi bước, xóa bỏ cơ chế tự chủ tự trang trải, xóa bỏ vốn tự có, trở lại thế luẩn quẩ cố hữu của... nền kinh tế quốc doanh, trở lại cơ chế Nhà nước: lớn Nhà nước quản lý, nhỏ Nhà nước chịu trách nhiệm...
Tiến trình công nghiệp hóa không tích cực. Các cơ sở quốc doanh đi vào thế bế tắc cho tới hiện nay. Các cơ sở dân doanh, may mắn Nhà nước không với tới, vẫn được khuyến khích nên nhờ đó ngành thủy hải sản vẫn tăng tiến. Nhưng thập kỷ 90, độ tăng trưởng của xuất khẩu thủy hải sản chậm lại. Bộ Thủy sản, quyết định thành lập Hiệp Hội Vasep và đẩy mạnh nuôi trồng thủy hải sản. Kết thúc năm 2000, nổi trội nhất là nuôi trồng và xuất khẩu thủy hải sản... Bước sang thập kỷ đầu của thế kỷ 21, Bộ Thủy sản ban hành xây dựng qui hoạch và chiến lược thủy hải sản hướng vào 3 mục tiêu chương trình: đánh bắt xa bờ, nuôi trồng, chế biến xuất khẩu thủy sản. Lần đầu tiên Bộ xây dựng bản qui hoạch và chiến lược thủy hải sản 2001 – 2010, nhưng tiêu chí hóa và mục tiêu công nghiệp hóa vẫn không được tổng kết, phân tích kịp thời. Nhiệm kỳ 2001-2010 là nhiệm kỳ ngành nuôi trồng và chế biến xuất khẩu tiếp tục đạt thành tựu cao. Đến năm 2007, Bộ Thủy sản sáp nhập vào Bộ NN&PTNT: 7 bộ sáp nhập thành một Bộ đa ngành nhằm tạo thành sức mạnh để góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa đất nước và công nghiệp hóa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy hải sản, và thủy lợi nông thôn. Đó là sự khác biệt đặc thù của nước ta.
(còn tiếp)
Nguồn: Viết trong tiếng sóng Biển Đông. Bút ký của Nguyễn Hồng Cẩn. Tác phẩm đã được gửi đến hai nhà xuất bản lớn, nhưng… chưa được cấp Giấy phép xuất bản! Tác giả tự in vài chục bản, như là tài liệu tham khảo để tặng những người thân yêu & bạn bè tri âm, tri kỷ.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|