Bước sang thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 (2011-2020), Bộ NN&PTNT xây dựng bản chiến lược ngành kinh tế xã hội thủy hải sản, đã được Chính phủ phê duyệt. Đây là lần đầu tiên, Chính phủ phê duyệt bản chiến lược thập kỷ này, và đã triển khai hai năm 2011-2012. Ý đồ bành trướng của Trung Quốc lộ rõ; cuộc tranh chấp Biển Đông hiện rõ. Ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đang lúng túng, bị động và đang được Nhà Nước chỉ đạo bổ sung nhiều điều mà bản chiến lược chưa tính đến. Vậy 8 năm còn lại của bản chiến lược cần bổ sung điều chỉnh điều gì? Và tiến trình công nghiệp hóa ngành khai thác hải sản với tiêu chí và mục tiêu cần làm rõ. Bản chiến lược có sự đóng góp của cấp dưới nhưng căn bản vẫn chỉ là của trên dội xuống, chưa có sự xây dựng và tập hợp ý kiến của các chuyên gia từ dưới lên.
Bản phân tích chiến lược kinh tế thủy hải sản do Đan Mạch tài trợ và phối hợp với Viện Kinh tế Trung ương của Bộ Kế hoạch Đầu tư, được đánh giá là công phu và toàn diện, giúp ích cho nghiên cứu và phân tích chiến lược tiến trình công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản.
Thứ nhất là phân tích tiến trình công nghiệp hóa ngành khai thác hải sản
Ngành thủy sản, chỉ sau một đêm 30-4-1975, nhờ đất nước hòa bình, thống nhất, đột biến, trở thành một ngành kinh tế xã hội thủy hải sản có trình độ công nghiệp trung bình của thế giới, biển đảo gấp 3 lần lục địa, sông ngòi ruộng đồng có vùng suối cao hồ chứa xanh sạch, tiềm năng tài sản đầy ắp. Bộ Chính trị cử Ủy viên Bộ Chính trị Võ Chí Công sang làm Bộ trưởng đầu tiên của ngành kinh tế xã hội thủy hải sản.
Năm ấy, Tổng Bí thư Lê Duẩn sang dự tổng kết ngành thủy hải sản có phát biểu:
“Ngành thủy sản là ngành mũi nhọn rất quan trọng góp phần tăng nhanh xuất khẩu, một biện pháp có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả nền kinh tế, một công tác có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”.
Nhiều nhà nghiên cứu, nhà bình luận cho rằng: Lãnh vực nông nghiệp nếu tuân theo tinh thần chỉ thị này và thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về kinh tế biển, tương lai nền kinh tế biển, tỉ trọng GDP chiếm 60% trở lên thì tình thế nền kinh tế quốc dân của ta không đến nỗi như ngày nay.
Nhiệm kỳ kế hoạch 1976-1980, tiến trình công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đã được tập trung đầu tư, đầy tham vọng nhưng đã thất bại phá sản và chấm dứt lối tư duy duy ý chí và qui trình công nghiệp hóa theo kiểu cũ (1960-1965/1976-1980)
Bước sang thập niên 1981-1990, tiến trình công nghiệp hóa theo cơ chế tự chủ tự trang trải, vận hành theo quy luật kinh tế thị trường, bám sát cần và tạo cần, để tồn tại và phát triển. Cần nuôi trồng – Cần xuất khẩu – Cần chế biến – Cần có công ăn việc làm, bắt nhịp với thị trường thế giới, du nhập nuôi tôm công nghiệp và kỹ thuật đông lạnh chế biến.
Thập kỷ 80, ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đã đi đầu tháo gỡ, xóa bỏ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp, thoát khỏi khủng hoảng. Thủy sản không chỉ trụ vững và phát triển mà còn hỗ trợ cho ngành kinh tế quốc doanh như chỉ thị của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Vận hội và cơ hội ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đầy đủ đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa theo hướng tự chủ tự trang trải và bằng vốn tự có và cổ phần của trong và ngoài nước. Thế mà, ngành thủy hải sản đã bỏ mất cơ hội ngàn năm. Do Bộ Thủy sản xóa bỏ cơ chế tự chủ tự trang trải, cơ chế vốn tự có; quay lại dáng dấp của bao cấp Nhà nước lo, Nhà nước quản, Nhà nước chịu trách nhiệm.
Bước sang thập kỷ đầu của thế kỷ 21 (2001-2010) và bước sang thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21, ngành kinh tế xã hội thủy hải sản đang triển khai bản chiến lược 2011-2020. Nhưng cả 02 bản chiến lược thập kỷ 1 và 2 cùng không có tiêu chí hóa và mục tiêu của tiến trình công nghiệp hóa của khai thác biển. Sự tranh chấp biển Đông, ngành thủy hải sản Việt Nam đang bị yếu, khập khiểng, bị động.
Trong bản phân tích chiến lược kinh tế thủy hải sản do Đan Mạch tài trợ và hợp tác với Viện Kinh Tế Trung ương của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (từ đây xin viết tắt là CLKTTS) phân tích:
Khả năng và tốc độ dành mục tiêu khai thác biển cũng trong nghề cá tư nhân có khả năng đạt mục tiêu sản lượng đề ra, nhưng biển của ta là biển tự do không quản, không kiểm soát được. Lấy mã lực phương tiện tàu thuyền là đánh giá sự tăng trưởng khiến đầu tư tàu thuyền và mã lực tăng gấp 7 lần, sản lượng tăng 3, tổng số tàu thuyền đã là tới mức 60% sản lượng được khai thác ở vùng bờ. Lạm phát vượt quá hệ số cho phép - mới nắm khai thác tới hàng triệu tấn cá nhỏ, dịch vụ kém chỉ xuất khẩu và ăn được 20-30%, còn quá xấu được gọi là cá tạp (không có danh bạ cá tạp), chạy theo số lượng và doanh số, nên chất lượng các loại cá tốt chỉ đạt 40-60%.
Theo tiến trình công nghiệp hóa thủy hải sản chỉ trong 15-20 năm là có thể hoàn tất công nghiệp hóa ngành khai thác biển với tiêu chí hóa rõ ràng. Nhưng sau 37 năm (1975-2012), vẫn ở tình thế chờ mục tiêu công nghiệp hóa ngành khai thác biển.
Có sự bổ sung cụ thể từ dưới lên cho CLKTTS 8 năm còn lại (2013-2020), với một qui trình chặt chẽ và hệ thống.
Tiến trình công nghiệp hóa khai thác biển đi đôi với tái tạo nguồn lợi và môi trường sinh thái; cần thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước, đặc biệt xây dựng các trung tâm công nghiệp hải đảo và dịch vụ trên biển; cần liên doanh hợp tác với Nga, Nhật, Mỹ, thu hút vốn đầu tư của họ, mới có sức cạnh tranh và chỉ có như vậy mới sẵn sàng trụ vững khi biển Đông bị tranh chấp...
Thứ hai: Phân tích tiến trình công nghiệp hóa ngành nuôi trồng thủy hải sản
Nuôi trồng thủy hải sản là một lợi thế của Việt Nam, nhưng chưa có sự đầu tư đúng tầm.
Bản CLKTTS đánh giá nuôi trồng thủy hải sản của Việt Nam là giỏi và ngoại lệ với cái bẫy giá rẻ. Ngành nuôi trồng cho cá tra là đặc sắc, tốc độ tăng trưởng cao, sản lượng cao, và thời gian và thu ngoại hối khá nhanh, xóa đói giảm nghèo tạo ra nhiều công ăn việc làm, trình độ ngang bằng thế giới.
5 sản phẩm xuất khẩu hấp dẫn thị trường thế giới, sản lượng cao, được ưa chuộng nhất là: Cá hồi Đại Tây dương, Cá rô phi, Tôm sú, Tôm thẻ chân trắng, và Cá tra.
Cá tra là độc đáo, tập trung tuyệt đối ở đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm năng cao. Cá tra có đầy đủ khả năng đạt giỏi nhất trong các tổ chức nuôi trồng thủy hải sản thế giới; nhưng xuất nhập khẩu chưa tạo dựng được ấn tượng trên thị trường, còn phải qua nhiều trung gian,...
Nếu đánh giá tiến trình công nghiệp hóa về nuôi trồng, Việt Nam có một sự khác biệt và độc đáo là:
Đã du nhập được nhiều công nghệ, nuôi bán hữu cơ, nuôi sinh thái, nuôi sinh học khép kín. Vận dụng đưa công nghệ và qui trình nuôi vào các mô hình nuôi rộng rãi do tính tự động tự phát của dân, đi trước cơ quan khoa học và quản lý. Có thành đạt đồng thời cũng có thất bại rất lớn; nhưng quản lý thiếu sự tổng kết kinh nghiệm, do tổ chức và trách nhiệm chưa thật rõ ràng, kết luận và sử lý rất chậm.
Cho tới nay, chưa đánh giá được thống nhất ngành nuôi trồng thủy hải sản Việt Nam đã ở trình độ công nghiệp nào? 10 năm nữa đạt trình độ hiện đại nào? Chưa xây dựng được nguyên tắc và qui trình để hoạch định chiến lược qui hoạch cho từng vùng.
8 năm còn lại của chiến lược thủy hải sản 2013-2020, cần có dự án nuôi trồng bổ sung hoàn chỉnh.
Ngành nuôi trồng hoàn toàn có khả năng vận dụng nuôi hiện đại, đạt mức công nghiệp nuôi trồng thủy hải sản trong đội ngũ hàng đầu thế giới.
Cần đầu tư phát triển ngành công nghiệp dịch vụ phức hợp, công nghệ cao.
Cần đầu tư mô hình trí tuệ trong nuôi trồng, có tư duy đột phá để đạt mục đích 8 năm còn lại của CLKTTS.
Thứ ba: Phân tích tiến trình chiến lược công nghiệp hóa ngành chế biến xuất khẩu và nội địa
Ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản của Việt Nam ở nhiệm kỳ chiến lược 2011-2012 có khả năng hiện đại hóa, công nghiệp hóa trong top hàng đầu thế giới. Nhưng chúng ta chưa có một qui trình phân bố đầu tư, phát triển trên toàn ngành. Chưa tổ chức quản lý điều hành thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ, tạo thành sức mạnh nổi trội cạnh tranh, CLKTTS giai đoạn 2011-2020 cũng chưa thể hiện. Ngành chế biến tiêu thụ nội địa càng chưa rõ tiến trình công nghiệp hóa ra sao, vẫn ở tình trạng tự lo tự phát. 8 năm còn lại của CLKTTS 2013-2020 cần tổng kết và có kế hoạch bổ sung tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành này.
Thứ tư: Phân tích tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành công nghiệp dịch vụ tổng hợp, phức hợp và công nghệ cao:
Từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, Thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế xã hội, ngành công nghiệp dịch vụ phát triển rất đa dạng ngày càng được hiện đại. Những ngành dịch vụ then chốt như kho tàng bảo quản chế biến, tiêu thụ, vận tải, thức ăn, giống, thuốc chế phẩm sinh học, phụ tùng thiết bị, nghiên cứu và quản lý… đã có nhiều doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư 100% vốn, một số doanh nghiệp dân doanh cũng đã hình thành có hiệu quả.
Nhưng trong các bản qui hoạch và chiến lược của ngành thủy hải sản vẫn chưa đề cập đầu tư vào ngành này, vẫn coi là ngành hậu cần, thậm chí dịch vụ biển, vẫn đưa vào nậu vựa 1 - nậu vựa 2 và Công ty công ích yếu ớt. Điều này khiến cho ngành khai thác hải sản kém phát triển và thiếu sự hấp dẫn đầu tư của trong nước và ngoài nước. 8 năm còn lại, cần có sự tổng kết và bổ sung gấp với một tư duy đột phá.
Thứ năm: Phân tích chiến lược phát triển doanh nghiệp ngành nghề và Hiệp hội ngành nghề thủy hải sản
Sau 37 năm đất nước thống nhất, các dạng hình, mô hình cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của ngành kinh tế xã hội thủy hải sản Việt Nam được phát triển rất đa dạng, phong phú, ngành khai thác biển, các nghiệp đoàn, các đội tàu, các Công ty gia đình và trách nhiệm hữu hạn. Mô hình hợp tác xã đang có sự đổi mới,... Ngành nuôi trồng, chế biến xuất khẩu và nội địa và ngành công nghiệp dịch vụ càng phát triển. Dịch vụ biển vẫn phải dựa vào nậu vựa 1-2 và Công ty công ích yếu ớt đang có xu hướng công nghiệp hóa. Công nhân hóa, dân doanh hóa, tư hữu hóa. Các nhà đầu tư trong ngoài nước đang chờ những tiến trình qui hoạch công nghiệp hóa và sản xuất kinh doanh dịch vụ, nhất là lãnh vực biển. Sự hợp tác với Nga - Nhật- Mỹ khai thác biển là tất yếu, có khả năng phát triển. Sự hình thành các hội, hiệp hội song song với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ là tất yếu. Các tổ chức này không thể thiếu. Đó là dạng hình tổ chức phi chính phủ, bán chính phủ, các hệ thống ngành kinh tế xã hội thủy hải sản. Cần có sự tổng kết sớm bổ sung vào CLKTTS 8 năm còn lại, không thể chậm trễ.
Thứ sáu: Tiến trình chiến lược công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản phải có tư duy đồng hợp: chồng chéo đầu tư giao thoa với tiến trình công nghiệp hóa nền nông nghiệp. Biển có mạnh thì hồ mới vững chắc, mới hùng cường. Bờ hùng cường, biển càng hùng mạnh.
Do điều kiện lịch sử, sau 67 năm (1945-2012), nền nông nghiệp của Việt Nam đã từ một Tổng Cục trở thành Bộ NN&PTNT. Đó là bước đi tất yếu của sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Bộ Thủy sản dù hợp nhất vào Bộ NN&PTNT đã 5 năm qua, nhưng tiến trình công nghiệp hóa nền nông nghiệp chưa có sự nghiên cứu và trao đổi. Mỗi ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy hải sản – thủy lợi – nông thôn là những ngành kỹ thuật kinh tế xã hội đã và đang cơ cấu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa khác biệt, có đặc điểm riêng. Ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản đã có 47 năm xây dựng phát triển và từng bước công nghiệp hóa. Khi hợp nhất vào Bộ NN&PTNT cần có sự phân tích tiến trình công nghiệp hóa tới đâu; sau khi hợp nhất tiêu chí và mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đai hóa tới đâu; tận dụng lợi thế tư duy đồng hợp để phát huy sự khác biệt của nền nông nghiệp nước ta. Tám năm còn lại trong CLKTTS, cần có sự điều chỉnh bổ sung, nhằm 10-15 năm nữa, ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản đứng vào top hàng đầu thế giới về hiện đại hóa, công nghiệp hóa.
Bản CLKTTS đã triển khai hai năm. Hai năm qua đã diễn ra nhiều sự bất ngờ của tình thế và thực tế như sự tranh chấp ở Biển Đông, sự khủng hoảng suy thoái của nền tài chính thế giới,... Cần có sự điều chỉnh bổ sung. Tôi đề nghị:
1. Sơ kết hai năm triển khai của Bản CLKTTS 2011-2012, kết hợp với sự phân tích tiến trình chiến lược công nghiệp hóa ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản.
2. Cần xây dựng đầu tư mô hình trí tuệ và tư duy đột phá 8 năm còn lại của bản chiến lược.
3. Đánh giá kết cấu và phát triển của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ theo hướng nào hiệu quả nhanh.
4. Chiến lược xây dựng đầu tư cho ngành công nghiệp dịch vụ càng đủ sức mạnh đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản.
5. Cấu trúc lại hệ thống tổ chức quản lý điều hành ngành kinh tế kỹ thuật xã hội thủy hải sản cho thích nghi, thích hợp, hiệu quả.
6. Cần có một tổ chức hợp lý giúp Bộ, giúp Tổng Cục Thủy Sản triển khai vấn đề này, Viện Kinh tế Qui hoạch của Tổng Cục Thủy Sản là nòng cốt thường trực.
MÔ HÌNH TỰ CÂN ĐỐI TỰ TRANG TRẢI
TRIẾT LÝ MỞ VÀ HỘI TỤ
Mô hình Seaprodex tự cân đối tự trang trải với triết lý mở và hội tụ được tạo dựng từ đâu? Đại diện cho ai? Nội dung cốt lõi của mô hình này là gì?
Vào năm 1978, Hội Đồng Bộ Trưởng ra quyết định thành lập hai công ty: Công ty xuất khẩu thủy sản Việt Nam, Công ty Thủy sản nội địa Việt Nam, trên cơ sở Công ty xuất khẩu thủy sản của Bộ Ngoại Thương và 3 Tổng Công ty thủy sản cấp 1 (trung ương), nhằm cứu vãn kế hoạch 76-80 của ngành thủy hải sản đang có nguy cơ phá sản. Chẳng những không cứu vãn nổi mà càng tụt dài, tụt chiều thẳng đứng tới đáy. Lúc đó, đất nước đang lâm vào tình thế đại khủng hoảng giá-lương-tiền và sự bao vây kinh tế của Mỹ làm trầm trọng khủng hoảng lên gấp bội.
Bầu sữa bao cấp của nền kinh tế quốc dân đã cạn kiệt, buộc phải công bố cho ngành kinh tế xã hội thủy hải sản phải tự lo tự liệu để tồn tại. Ngành kinh tế xã hội thủy hải sản lúc đó còn gì?Muốn tự lo liệu được chỉ còn một khe kẽ ánh sáng: phải len lách làm chui tháo gỡ phá rào, thoát khỏi sự kềm kẹp của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, và chọc thủng phòng tuyến bao vây kinh tế của Mỹ, đưa tôm xuất khẩu vào thị trường 2 (tư bản) để lấy đô la, nhập vật tư, hàng hóa để tái sản xuất giản đơn; từng bước tái sản xuất mở rộng. Một qui trình từ làm chui được làm thử, tiến lên làm thật là một quá trình, gian khổ hơn thời kháng chiến, nhưng khi đã được phép làm càng khó hơn nhiều.
Nhiều địa phương phải kêu lên: Tôi chẳng biết quota, cô em là gì cả, tôi đã có hàng, tôi đã tìm được nơi mua, nhưng kiếm được đô la thì Nhà nước nắm hết! Chúng tôi chấp nhận quyền sử dụng đô la: Nhà nước lấy 30% sử dụng, kể cả không có tỉ giá và tỉ giá hối đoái chỉ bằng ⅓ giá thị trường, cũng chấp nhận; nhưng chẳng ai thi hành cả là thế nào?!
Trong thập kỷ 80, có tới 30 cuộc thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, của Bộ, của Đảng, do có đơn tố cáo ngành thủy sản móc ngoặc với tư bản nước ngoài và đang chạy theo chủ nghĩa tư bản, đến mức tập thể Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức hai lần kiểm tra, làm việc trực tiếp với Ban Cán sự Bộ Thủy sản tại Văn phòng Trung ương. Cuộc họp lần thứ hai, Ủy viên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Thanh Bình tuyên bố: “Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, tiến hành cuộc kiểm tra này hai lần, Tổng Bí thư không dự được hôm nay, tập thể Ban Bí thư kết luận ủng hộ và cho phép ngành thủy sản tiếp tục cơ chế tự cân đối tự trang trải”.
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã triệu tập Bộ Thủy sản lên Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng nghe báo cáo và kiểm điểm về sự tố cáo ngành thủy sản đầu tư chui ra nước ngoài, tiền ở đâu và hiệu quả ra sao.
Một sự may mắn và bất ngờ là cả Ban Bí thư và Hội đồng Bộ trưởng đều nhất trí ủng hộ và bổ sung hoàn chỉnh cơ chế, tiếp tục đổi mới cơ chế xây dựng phát triển ngành thủy sản. Các cuộc thanh tra, kiểm tra không phát hiện ra tham nhũng, sai lầm gì, nên cấp trên ủng hộ đề nghị tiếp tục cơ chế đổi mới. Nhờ đó, suốt thập kỷ 80, ngành thủy sản là ngành duy nhất tự lo tự liệu trên phạm vi toàn ngành, các nguồn vốn huy động được không kém kế hoạch 76-80 của nền kinh tế quốc dân bao cấp. Đã từ 11. 2 triệu USD xuất khẩu năm 1990, lên trên 100 triệu USD, và hé mở sẽ đạt 1 tỉ USD vào năm 2000. Toàn ngành thủy hải sản đã được phục hồi, phát triển công nghiệp hóa theo cơ chế tự cân đối, tự trang trải với triết lý mở và hội tụ. Thực chất là chúng tôi đột phá theo cơ chế thị trường và đã công nghiệp hóa ngành kinh tế xã hội thủy hải sản theo mô thức mới. Kết thúc thập kỷ 80, chúng tôi khẳng định và trình phương án với Nhà Nước, với Bộ Thủy sản như sau:
1. Đề nghị tiếp tục nâng cao hoàn chỉnh mô thức cơ chế tự cân đối tự trang trải trong toàn ngành, lấy mũi nhọn là xuất khẩu thủy hải sản và nâng hiệu quả sức tiêu thụ nội địa làm cán cân thanh toán và hài hòa lợi ích; tạo tiền đề để công nghiệp hóa thủy sản ở thập kỷ 90.
2. Tiếp tục phát huy sức mạnh và duy trì cơ chế vốn tự có, không ăn chia, hệ thống Seaprodex sẽ tiến hành cổ phần hóa: cổ phần của Nhà nước, của Công ty và của cán bộ công nhân; tổng số vốn chia làm ba và mở rộng thêm cổ tức, trở thành tiền Tập đoàn cổ phần hóa đa sở hữu.
3. Phát triển mở rộng họ hàng nhà Seaprodex cổ phần trong nước và ngoài nước, lúc đó họ hàng tập đoàn nhà Sea đã có tới 30 đơn vị thành viên trong nước và 6-7 thành viên Sea nước ngoài là cổ phần liên doanh, nhất là ở vùng Viễn Đông Liên Xô. Phê duyệt, thông qua phương án Liên doanh Khu Liên Hiệp thủy sản Nga – Việt – Pháp tại vùng Sakhalin, Liên Xô; Liên doanh nước khoáng Lavie Việt - Pháp tại Việt Nam; đầu tư xây dựng nhà 2-4-6 Đồng Khởi, TP HCM lên 20 tầng.
4. Hợp tác với Công ty bảo hiểm Việt Nam để hợp tác với Pháp làm Công ty Bảo hiểm Thủy sản Việt Nam.
Bộ Trưởng Bộ Thủy sản vui vẻ hoan nghênh và tiếp nhận phương án này. Nhưng, thực chất lúc đó Bộ trưởng chỉ tập trung lo việc sắp xếp lại Công ty Seaprodex. Sau khi Tổng Giám đốc Seaprodex nghỉ hưu, các việc khác, Bộ trưởng đều bỏ qua! Trước sự thể như vậy, tôi đành phải bàn giao dự án và ủng hộ tỉnh Long An đã phấn chấn tiếp nhận Liên doanh Nước khoáng Lavie với Pháp, vì mọi việc đã ký kết xong. Nếu bỏ, họ có thể bị bồi hoàn rắc rối. Liên Doanh Lavie đã hoạt động trên 10 năm nay rất thành công. Còn các phương án khác, tôi đành phải xin lỗi, hủy bỏ.
Công ty Seaprodex được thành lập năm 1978.
Từ 1978 cho tới kết thúc kế hoạch 1976-1980, Seaprodex cũng lao đao bế tắc. Chỉ sau khi Seaprodex là thành viên tiên phong cùng một số đồng nghiệp khác sáng lập mô hình tự cân đối tự trang trải, được nhóm sáng lập suy tôn là ngọn cờ hội tụ vận động phát triển mô hình tự cân đối tự trang trải, thì chúng tôi mới tạo được đột biến. Có ý kiến hiểu sai là mô hình tự cân đối tự trang trải là của Seaprodex và của Bộ Thủy sản là không đúng. Thật khách quan và công bằng, nhưng người đột phá tạo dựng cơ chế tự cân đối tự trang trải, gồm các thành viên đầu tiên, ở các địa phương như Ba Hùng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Minh Hải - Chín Hùng, Giám đốc Công ty Thủy sản Cấp 2 thuộc Minh Hải - Tám Tổng; Giám đốc Sở Thủy sản Sóc Trăng - Hai Thành Hưng; Giám đốc Công ty Thủy sản Cấp 2 thuộc Sóc Trăng - Hai Lá; Giám đốc Sở Thủy sản Cửu Long - Sáu Triệu; Giám đốc Sở Thủy sản Cửu Long - Tám Thư; Giám đốc Sở Thủy sản Bến Tre - Tám Lai; Giám đốc Sở Thủy sản TP Hồ Chí Minh - Ba Thuận; Giám đốc Sở Thủy sản tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, cùng với ngọn cờ Seaprodex và nhiều nhân vật ở các tỉnh phía Nam, rồi đến miền Trung, miền Bắc, và nhiều nhân vật khác ngoài ngành, khoa học như Cao Cự Bội, Bùi Thế Vĩnh, Trần Trọng, Đào Xuân Lãn, Triệu Xuân, Lê Tiến... đã tạo dựng mô hình tự cân đối tự trang trải, khởi đầu từ đầu năm 1981, được Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng cho làm thử, tiến tới làm thật và ổn định. Kết thúc thập kỷ 80, chúng tôi đã có đề nghị với Bộ Thủy Sản, với Seaprodex hàng năm có gặp mặt động viên và trao đổi với các nhân vật này, nhưng cũng chẳng thấy làm như đã hứa! Tiếp theo có hàng trăm, hàng nghìn ngọn cờ có công đổi mới này, bao gồm cả những người ủng hộ, phê duyệt. Lịch sử Thủy sản Việt Nam chắc chắn không bao giờ quên sự đóng góp quý báu này.
Câu hỏi “Mô hình này nảy sinh từ đâu và ai là những thành viên sáng lập” đã có lời giải. Câu hỏi tiếp:“Mô hình này đã diễn biến thăng trầm ra sao?”
Mô hình tự cân đối tự trang trải được khởi đầu từ năm 1981, suốt thập kỷ 80 đã thành công, đòi hỏi phải nâng cao, đổi mới tiếp; nhưng Bộ Thủy Sản vô tình hay hữu ý đã lặng lẽ xóa bỏ từng bước.
Vì vậy, Seaprodex đã tự bỏ ngọn cờ được suy tôn người lập mô hình tự cân đối tự trang trải. Bước sang thập kỷ 90, Seaprodex đã chuyển hướng chiến lược sang mục đích riêng của mình. Tình hình xuất khẩu bị chững lại. Năm 1997, Bộ Thủy Sản thành lập Ban Trù bị thành lập Hiệp Hội xuất khẩu thủy sản. Năm 1998, Vasep đã ra đời, lãnh trách nhiệm mũi xuất khẩu thủy hải sản cho tới tận nay.
Điều chỉnh 1: Seaprodex đã từng bước điều chỉnh, bắt theo xu hướng chỉ đạo của Bộ, hợp nhất các cơ sở dịch vụ như kho vận và dịch vụ khác thành lập Sea Sài Gòn, biến Seaprodex thành một Tổng Công ty trung gian. Seaprodex tồn tại và phát triển được là nhờ ngành thủy sản, nhờ thủy sản địa phương, nhờ liên hoàn xâu chuỗi toàn ngành. Nay, bỏ địa phương, bỏ ngành, bỏ trực tiếp sản xuất kinh doanh, thành trung gian cấp trên và quản lý theo mô thức tập quyền, tập trung tuyệt đối nên các thành viên mất năng động, mất sức sáng tạo và xa dần. Nhiều thành viên họ hàng nhà Sea trong nước và ngoài nước bị thu hẹp và hủy bỏ. Đó là điều không tưởng tượng nổi! Sức mạnh, sức sống của Seaprodex bị làm cho tê liệt!
Đáng tiếc nhất là hệ Sea nước ngoài như Seasafico liên doanh với ngư trang Xô Viết ở Sakhalin, Seaprimfico và nhiều Sea bị hủy bỏ do thiếu tư duy tôn trọng và cam kết.
Điều chỉnh 2: Bộ Thủy Sản thành lập 3 Tổng Công ty. Tổng Công ty Hạ Long Hải Phòng và Tổng Công ty Biển Đông phải hướng ra biển để khai thác cá biển và dịch vụ, về nghề cá biển nhân dân. Tổng Công ty Seaprodex dịch vụ xuất khẩu và nuôi trồng xuất khẩu thủy sản. Cả 3 Tổng Công ty triển khai đợt cổ phần hóa bước đầu. Hai Tổng Công ty Hạ Long và Biển Đông tiếp tục được đầu tư, Tổng Công ty Seaprodex sở hữu vốn tự có trở lại cơ chế vốn của Nhà Nước 100%. Nhưng liên Tổng Công ty Hạ Long và Biển Đông loay hoay không tiến ra biển được ; và nhiệm vụ dịch vụ nghề cá nhân dân không tiến triển, không bằng nậu vựa. Tổng Công ty Seaprodex càng trở thành Tổng Công ty trung gian mẹ bỏ con, con bỏ mẹ và tan rã. Cả 3 Tổng Công ty triển khai không hào hứng, chỉ tập trung dọn dẹp tiêu cực để bước vào cổ phần hóa cho xong chuyện, đã làm suy yếu 3 Tổng Công ty.
Điều chỉnh 3: Sau tháng 07/2007, Bộ Thủy Sản hợp nhất vào Bộ NN PTNT, thành lập Bộ đa ngành đã hình thành từ 7 bộ và Tổng Công ty Thủy Sản (Seaprodex), và thi hành chủ trương cổ phần hóa của Nhà Nước. Thực tế đang lặp lại : đang dọn dẹp bán hộ một số Công ty con để sạch sẽ tiến vào cổ phần hóa ; lại diễn ra nhiều sự không hay trong việc thanh lý bán tài sản.
Điều chỉnh 4: Do có sự thanh lý, (bán) tài sản để hợp lý, lỗ lãi không được minh bạch. Theo chỉ đạo của Phó Thủ Tướng Võ Văn Ninh, Tổng Công ty Thủy Sản Việt Nam dừng thoái vốn, bán cổ phần Nhà Nước, và khẩn trương nhanh chóng kiểm kê quyết toán bàn giao cho Tổng Công ty SCIC của Bộ Tài Chính quản lý. Có nguồn tin Tổng Công ty Thủy Sản Việt Nam (Seaprodex) có thể lên sàn chứng khoán…
Vậy số phận ngôi nhà 2-4-6 Đồng Khởi Quận I TP HCM gắn liền với số phận Tổng Công ty Thủy Sản VN (Seaprodex) đã và đang chờ Chính phủ quyết định.
Câu chuyện khởi đầu từ Thứ trưởng Hồng, Bộ Thủy Sản kiêm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Tổng Công ty Seaprodex, cùng với Tổng Giám Đốc Hòa chắp nối mua bán ngôi nhà đã trên 10 năm sắp kết thúc.
Nhân dịp có tin bán Tổng Công ty Thủy Sản Việt Nam Seaprodex, một số tư nhân đã tốn công sức tiền bạc văn kiện nhằm mua bán ngôi nhà 2-4-6 Đồng Khởi Quận I TP HCM. Nếu mua được Tổng Công ty Thủy Sản Seaprodex tức là đã có trọn vẹn cả ngôi nhà họ đang mong ước và theo đuổi trên 10 năm qua.
Nếu câu chuyện này là sự thực, làm tan vỡ hệ thống doanh nghiệp dịch vụ của ngành thủy sản đã xây dựng 60 năm qua. Đó là một sự thành công quá lớn của nhóm tiền quyền kiên trì gần 20 năm. Ngành kinh tế thủy hải sản vẫn là một ngành kinh tế xã hội dân gian nhiều tiềm năng. Nếu mất cơ sở này lại phải xây dựng mới thay thế. Nhưng tôi không tin Chính phủ và Bộ NNPTNT có chủ trương ấy. Tôi cũng hy vọng và mong muốn Chính phủ và Bộ NNPTNT tiếp tục cổ phần hóa Tổng Công ty này, trả về cho ngành thủy sản quản lý xây dựng. Nếu có chủ trương bán thì ưu tiên bán cho các đối tác quyết tâm xây dựng đóng góp phát triển ngành thủy sản đầy tiềm năng là hợp lý và sáng suốt nhất.
(còn tiếp)
Nguồn: Viết trong tiếng sóng Biển Đông. Bút ký của Nguyễn Hồng Cẩn. Tác phẩm đã được gửi đến hai nhà xuất bản lớn, nhưng… chưa được cấp Giấy phép xuất bản! Tác giả tự in vài chục bản, như là tài liệu tham khảo để tặng những người thân yêu & bạn bè tri âm, tri kỷ.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|