tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
05.04.2019
Vũ Ngọc Tiến
Kẻ sỹ thời loạn


Tháng ba năm Đinh Mùi (1787), đội quân Cần Vương hơn hai vạn người bí mật bất ngờ nổi dậy bao vây thành Nghệ An. Trước lúc công thành, Hữu Chỉnh tự tay soạn thảo bài hịch Cần Vương hạch tội Trịnh Bồng, kêu gọi binh sĩ trong thành quy phục triều đình nên trong thành càng trở nên hỗn loạn. Tướng trấn thủ Nghệ An là Bùi Thế Toại, con trai của Đoan quận công Bùi Thế Đạt thời chúa Trịnh Sâm vô cùng hoảng sợ, bỏ thành chạy trốn về Thăng Long phao tin lực lượng của Hữu Chỉnh rất hùng mạnh, chỉ nay mai tràn về kinh đô. Trịnh Bồng vội cử hai vạn quân do tướng tâm phúc Lê Trung Nghĩa và Phan Huy Ích chỉ huy vào xứ Thanh giàn binh bày trận pháp chống cự. Hữu Chỉnh vốn đã hạ quyết tâm đánh phủ đầu quân Trịnh một trận kinh hoàng để phô trương thanh thế nên chia hai gọng kìm tiến binh: đường thủy do Hoàng Viết Tuyển chỉ huy, Hữu Du đốc chiến, đường bộ do Nguyễn Danh Thái làm tiên phong, Hữu Chỉnh dẫn các tướng lĩnh mang đại binh đi sau chia làm bốn đạo làm thế ỷ dốc. Đôi bên gặp nhau hỗn chiến ở phủ Hà Trung, chỉ trong vài canh giờ quân Trịnh đại bại, Lê Trung Nghĩa chết tại trận dưới đao của Hoàng Viết Tuyển, còn Phan Huy Ích bị Tuyển bắt sống. Nguyễn Hữu Chỉnh chưa vội chỉnh đốn binh mã, ông soạn ngay tờ biểu lời lẽ khiêm nhường trấn an vua Lê Chiêu Thống rồi giao cho Nguyễn Khuê đi gấp về Thăng Long đọc to trước sân rồng ở điện Kính Thiên. Ông đỡ bạn ngồi lên yên ngựa, nắm tay dặn dò kỹ lưỡng:


- Túc hạ lần này về kinh đô gắng giúp ta ba việc: một là trấn an vua, ra uy với các quan trong triều; hai là dò xét động tĩnh của ba đạo quân Hoàng Phùng Cơ, Đinh Tích Nhưỡng, Dương Trọng Tế; ba là nếu Trịnh Bồng bỏ chạy thì phủ chúa thành vô chủ, cần sai người canh giữ và ngăn chặn Chiêu Thống có thể mù quáng nghe lời  xàm tấu phá hủy nó sẽ rất phí phạm.


- Huynh yên tâm, đệ sẽ hoàn thành cả ba việc được giao.


Nguyễn Khuê từ biệt Hữu Chỉnh, hăm hở nhằm hướng kinh thành vung roi thúc ngựa lao nhanh trên đường thiên lý, không may giữa đường bị ngã ngựa, phải nghỉ lại Tam Điệp một ngày cho thày thuốc nắn chân, chữa trị các vết thương ở mặt. Trận thua kinh hoàng của quân Trịnh ở phủ Hà Trung đã làm rung chuyển kinh thành Thăng Long, vợ con các tướng sĩ chết trận kéo đến cổng phủ chúa kêu khóc như ri. Bọn Dương Trọng Tế, Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ không ai bảo ai đều lặng lẽ rút quân, bỏ rơi Yến đô vương Trịnh Bồng hòa lẫn vào dòng người chạy loạn cùng dân thường mai danh ẩn tích ở đâu không rõ. Chiêu Thống nghe tin cả mừng, sai quân ngự lâm trong hoàng cung sang phủ chúa mở kho lấy hết những thùng dầu lạc tẩm ướt vào từng bó rơm hay cỏ khô nuôi ngựa phóng hỏa đốt thiêu phủ chúa. Ngọn lửa bùng lan sang cả nhà dân khiến nửa kinh thành bùng cháy như biển lửa khổng lồ kéo dài âm ỉ suốt mấy ngày chưa tắt. Khi Nguyễn Khuê về tới nơi thì sự đã rồi, vua bảo ông rằng cho đốt phủ chúa để họ Trịnh hết đường quay lại, không còn ai nhớ về chúng nữa...


Hữu Chỉnh vào Thăng Long được vua và triều thần long trọng mở tiệc hậu đãi. Vua phong ông làm Bình chương quân quốc trọng sự, Đại tư đồ, Bằng trung công lại còn chắp tay vái ba vái, tôn ông làm thày dạy chữ thánh hiền. Vinh hiển là thế sao Hữu Chỉnh thấy lòng buồn rượi, lặng thinh lừ mắt nhìn vua khinh bỉ. Ông đi guốc trong bụng Chiêu Thống, sau cái vẻ hèn hạ tâng bốc là những mưu kế của vua và triều thần nhằm vào Hữu Chỉnh ta đây chứ có tử tế gì. Việc đốt phủ chúa không phải vua thù ghét Trịnh Bồng mà chính là để ngăn cản ta và thuộc hạ thân tín vào đó ở. Vua đã nghi ngờ, sợ ta theo gót họ Trịnh tất có lúc tìm cách trừ khử ta để nắm trọn quyền lực… Ông cay đắng nghĩ vậy và cáo từ Chiêu Thống trở về quân doanh lo việc điều binh khiển tướng bảo vệ kinh thành. Vừa xuống ngựa, ông đã thấy Hữu Du và các tướng thân cận bắc thang trèo lên cao nhìn về phía phủ chúa thành đống tro than vẫn còn âm ỉ cháy, khói bốc lên nghi ngút. Lẽ ra nơi đó sẽ là chỗ để ông đón vợ con họ mạc về an hưởng phú quý sau bao năm bôn ba vất vả, hiểm nguy rình rập. Các tướng chắc cũng chung một nỗi buồn và thất vọng như ông bởi họ hy vọng chủ tướng sẽ ưu ái phân cho mỗi người một cung điện bõ những ngày cùng ông xông pha trận mạc. Tận thẳm sâu ông nhủ với lòng mình: Không! Ta thà làm tớ cho Quận Việp, Quân Huy như hồi trẻ còn hơn làm thày một đứa vô lại đang ngồi chễm chệ trên ngai vàng ở điện Kính Thiên nơi hoàng cung lạnh lẽo điêu tàn. Nếu trời cho ta hoàn thành đại nghiệp, ta sẽ cho rời ngai vàng về phủ chúa. Trên đống tro tàn ở đó ta sẽ xây hoàng cung mới, và kinh thành sẽ nới rộng về phía Đông, phía Nam cho thỏa chí chim bằng… Trong ánh mắt sâu thẳm của ông lóe lên những tia lửa. Sau khi ban lệnh giới nghiêm, phân việc cho các tướng xong xuôi, ông lưu Hữu Du ở lại cùng ngủ trong doanh trại của mình.


Đêm ấy, hai cha con Hữu Chỉnh nằm đắp chung tấm chăn mỏng rì rầm tâm sự đến sáng. Hữu Du nằm cạnh cha nhỏ nhẹ thăm dò:


- Thưa cha! Từ lúc ở hoàng cung về con thấy người không vui, có phải vì thất vọng với Chiêu Thống không ạ?


- Đúng… Cha buồn vì tận mắt chứng kiến một lũ vua lú quan hèn, làm sao có thể giúp cha dẹp loạn, chấn hưng đất nước!...


- Theo nhận xét của cha, Chiêu Thống là người thế nào?


- Nó là con trai cả của Thái tử Lê Duy Vĩ. Năm Tân Mão (1771) Trịnh Sâm lên nối ngôi Trịnh Doanh đã được 4 năm, quyền uy đã đủ lơn, vì có hiềm khích với Thái tử Duy Vĩ nên tìm cách hãm hại, khép ông ta vào tội chết, còn Duy Khiêm mới 6 tuổi đã bị giam trong đại lao cùng với hai đứa em nữa. Tháng 10 năm Nhâm Dần (1782) Trịnh Sâm ăn chơi vô độ lâm bênh mà chết, đám kiêu binh ở phủ chúa nổi loạn phế truất Trịnh Cán, lập Trịnh Khải lên ngôi chúa. Lúc đó, Duy Khiêm được tha tù đã 17 tuổi. 11 năm sống trong tù từ lúc mới 6 tuổi nên Khiêm không được học hành, giáo dục đến nơi đến chốn, lại nhiễm thói lưu manh của bọn du thủ du thực trong đó nên nhân cách thấp hèn, cử chỉ và lời nói thô tục, nhưng mẹo vặt thì nhiều. Nó vừa ra tù đã tìm cách dùng tiền và gái đẹp mua chuộc các quan vu oan cho chú ruột là Lê Duy Cận để ông này bị truất ngôi Thái tử và vua Hiển Tông đã phong cho thằng cháu nội lưu manh làm Hoàng thái tôn.


- Người như thế sao bà Ngọc Hân lại xin Nguyễn Huệ lập làm vua, thưa cha?


- Lúc đầu bà ấy chọn Lê Duy Cận, nhưng Duy Khiêm lại dùng chiêu trò cũ, đút lót hoàng tộc và các quan để được lên ngôi báu. Cha còn nghe đồn, cả hai lần đút lót Khiêm đều vay tiền của bọn lão bản người Tàu ở phường Hòe Nhai, phường Bích Câu chứ nó mới ra tù lấy đâu tiền vàng làm chuyện đó.


- Thế thì nguy hiểm quá, mất nước như chơi, cha ơi!...


- Đúng thế. Nhà Lê từ ngày Thái tổ mở nghiệp lên ngôi Hoàng đế đến nay đã gần tròn sáu hoa giáp, nhưng trong suốt thời gian ấy kinh thành Thăng Long không lúc nào vắng bóng gian tế nhà Minh, nhà Thanh đâu. Hoàng đế chúng nó luôn nhăm nhăm chờ thời cơ cướp nước ta một lần nữa, biến Đại Việt thành châu quận của chúng.


- Vậy cha dự liệu thế nào?


- Trên đường từ hoàng cung về cha đã suy nghĩ kỹ rồi. Dân gian có câu: “Làm tớ thằng khôn hơn làm thày thằng dại”. Vận số nhà Lê đã hết nên đã đẩy đất nước vào cảnh loạn ly, dân tình khốn khổ. Song Bắc Hà chưa bình định xong, vẫn còn ba thế lực của Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế, còn phía Nam mới thực đáng sợ vì Nguyễn Huệ ở Phú Xuân là bậc anh hùng muốn bá chủ thiên hạ, nhưng chưa nỡ cướp cơ nghiệp của Nguyễn Nhạc tất phải bành trướng quyền lực ra Bắc Hà. Vì vậy cha con ta vẫn phải tạm thời nép mình làm bày tôi nhà Lê một thời gian, nhưng phải phòng ngừa gian kế của Chiêu Thống và phải dạy cho lũ vua tôi nhà Lê biết khiếp sợ Nguyễn Hữu Chỉnh. Thời thế này buộc cha không làm chúa mà phải làm vua để dẫn dắt Đại Việt hùng mạnh trở lại như thời Lê Thánh Tông khi xưa. Do đó cha muốn xây lại vương phủ của chúa Trịnh để tự do hành sự theo ý mình. Việc này cha chỉ có thể giao cho con đảm nhiệm.


- Thưa cha, việc này e quá sức con… Hơn nữa phủ chúa Trịnh to lớn nhường ấy làm sao có thể xây lại một sớm một chiều?...


- Trước mắt ta chỉ cần xây lại tường bao và các cổng ra vào. Bên trong ta cho sang sửa lại các hoa viên, hồ nước và chỉ dựng lại hai cung điện chính, một để cha điều hành công việc và một để đón mẹ con cùng gia quyến, thân tộc trong quê ra ở và dì Lệ Thủy bên Kinh Bắc về.


- Con thấy khó và lâu nhất là hai cung điện như cha vừa nói. Vậy cha có diệu kế nào không?


- Đúng thế, nhưng cha đã có cách. Trong hậu cung của hoàng thành có nhiều cung điện lớn nhỏ. Cha sẽ ép Chiêu Thống sửa sai tội đốt phủ chúa bằng việc cho tháo dỡ toàn bộ hai cung điện to và đẹp nhất hậu cung để mang sang phủ chúa dựng lại nên sẽ rất nhanh thôi. Toàn bộ công việc như cha vừa nói phải hoàn thành trong vòng ba tháng. Cha sẽ nhờ Nguyễn Khuê dẫn vài người trẻ, giỏi giang hoạt bát ở Bộ Công sang giúp con tìm thợ khéo tay bên Kinh Bắc về đây khẩn trương xây cất, còn con chỉ cần giám sát, hối thúc họ cho đúng tiến độ.


- Vâng thưa cha, con sẽ toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc cha giao.


- Chính vì có công việc hệ trọng này nên cha mới giữ con ở lại doanh trại ngủ cùng cha đêm nay. Cha muốn con ý thức được công việc trị quốc an dân của bậc đế vương, hiểu hết giá trị và vẻ đẹp kiến trúc của một hoàng thành và một vương phủ ra sao. Vì thế, đêm nay cha sẽ thuật lại cho con nghe toàn bộ lịch sử mấy trăm năm của hoàng thành Thăng Long và vương phủ chúa Trịnh. Kể từ lúc này con phải tỉnh táo nghe, ghi nhớ từng lời kể và những kiến giải của cha vào trong gan ruột, con có hiểu không?...


Đêm đầu tiên của hai cha con ở kinh thành thẫm đẫm tình yêu thương, chứa chan hoài bão về một nước Đại Việt hùng mạnh, yên bình không còn cảnh loạn ly, muôn dân bách tính hân hoan đổi đời trong công cuộc chấn hưng đất nước. Ngoài trời lấp lánh các vì sao. Gió từ sông Cái ùa về thổi bùng các đống lửa của lính canh đốt lên ở từng doanh trại. Ông dặn dò con trai Hữu Du tỉ mỉ từng việc lớn nhỏ và ông say sưa kể chuyện. Giọng ông trầm ấm, kiến giải khúc triết tường minh về những thay đổi trong lịch sử của hoàng thành hay phủ chúa qua mỗi lần biến động…


 Sử cũ chép rằng vào mùa xuân năm Canh Tuất (1010), ở kinh đô Hoa Lư, sau cái chết của vua Lê Long Đĩnh, triều thần nhất loạt suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, mở ra một vương triều mới hiển hách trong lịch sử nước Việt. Vua Lý Thái Tổ ban chiếu dời đô về thành Đại La, chiếu có đoạn viết: “… Thành Đại La, đô cũ của Cao Biền ở giữa khu vực trời đất giao hòa, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam - Bắc – Tây - Đông, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư đông đúc, muôn vật hết sức tươi tốt, phồn thịnh. Xem khắp đất Việt ta, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ bốn phương…” Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long tuân theo phương cách “Tam trùng thành quách” gồm: vòng ngoài là kinh thành có dân cư ngụ theo các phố phường như ô bàn cờ, vòng thứ hai là hoàng thành nơi vua cùng triều thần làm việc, vòng trong cùng là tử cấm thành, nơi ở của vua và các phi tần, hoàng tử, công chúa. Lý Công Uẩn đã cho khởi công xây dựng hoàng thành và hàng loạt cung điện ở trong đó. Hoàng thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở bốn cửa: Tường Phù ở phía Đông, Quảng Phúc ở phía Tây, Đại Hưng ở phía Nam, Diệu Đức ở phía Bắc. Những cung điện chính gồm có: điện Càn Nguyên là nơi thiết triều đặt trên núi Nùng tức núi Long Đỗ, hai bên tả hữu là điện Tập Hiền và điện Giảng Vũ. Bên trái hậu cung mở cửa Phi Long thông với cung Nghinh Xuân, bên phải mở cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn, chính Bắc dựng điện Cao Minh. Thềm các quan chầu vua gọi là Long Trì có hành lang chạy xung quanh. Đằng sau điện Càn Nguyên là điện Long An và điện Long Thụy làm nơi nhà vua nghỉ ngơi. Bên trái xây điện Nhật Quang, bên phải xây điện Nguyệt Minh, đằng sau là cung Thúy Hoa là nơi ở của các phi tần. Các đời vua triều Lý về sau có xây cất thêm vài đợt nữa, chủ yếu là các vườn ngự uyển, hồ nước và các cung điện bên trong tử cấm thành, nhưng về căn bản đều tuân theo phương cách ban đầu của vua Lý Thái Tổ. Sang đến đời các vua triều Trần cũng có xây thêm một số nữa nhưng cũng không khác mấy so với hoàng thành Thăng Long thời nhà Lý.


Sau khi đánh thắng giặc Minh, Lê Lợi vẫn đóng đô ở Thăng Long nhưng đổi tên là Đông Đô rồi Đông Kinh. Về cơ bản Đông Đô thời Lê không khác nhiều Thăng Long đời Lý - Trần, chỉ có điều cung điện đền đài đã bị phá phách hết cả, nhà Lê mới dần dần sửa chữa xây dựng thêm, đáng kể nhất là điện Kính Thiên làm nơi vua Lê thiết triều. Trong thời gian này, tường hoàng thành cũng như kinh thành luôn được xây đắp mở rộng thêm ra. Năm Canh Tuất (1490), để đề phòng những nạn gian thần hay loạn đảng trong cung, Lê Thánh Tông đã cho xây lại hoàng thành, mở rộng thêm 8 dặm nữa. Công việc xây dựng trong tám tháng mới xong. Trong hoàng thành, Lê Thánh Tông cũng cho xây thêm cung điện và lập vườn Thượng lâm để nuôi bách thú. Năm Nhâm Thân (1512), Lê Tương Dực giao Vũ Như Tô đứng ra trông nom việc dựng hơn 100 nóc cung điện nguy nga, lại khởi công làm Cửu trùng đài mà như sử cũ miêu tả là tuy chưa hoàn thành mà bóng rợp nửa hồ Tây. Năm Giáp Tuất (1514), Lê Tương Dực mở rộng Hoàng Thành thêm mấy nghìn trượng bao bọc cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ và chùa Kim Cổ Thiên Hoa.


Từ năm Đinh Hợi (1527) là năm nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, kinh thành Thăng Long chìm trong loạn lạc. Hầu hết các cung điện kho tàng đền chùa cũng như phường phố bị thiêu đốt, tàn phá nhiều lần. Nhìn chung, trong cuộc nội chiến tương tàn giữa hai họ Lê, họ Mạc diễn ra ác liệt với ưu thế ngày càng thuộc về phe họ Lê có họ Trịnh phù tá và nắm hết quyền bính. Họ Trịnh lần lượt chiếm được nhiều tỉnh phía Bắc như Trường Yên, Sơn Nam, Kinh Bắc... và đánh đến tận Thăng Long. Nhà Mạc phải rời bỏ kinh thành chạy lánh nạn nơi này nơi khác. Thăng Long ngày một điêu tàn. Đến năm Ất Mùi (1585), không chịu nổi kiếp sống lưu vong trường kỳ như vậy, Mạc Mậu Hợp quyết định trở lại Thăng Long. Một đợt xây dựng đại quy mô được khởi động. Từ đó về sau cũng không có lần nào Hoàng Thành được xây dựng quy mô như thế nữa. Năm Nhâm Thìn (1592) Trịnh Tùng đuổi được nhà Mạc lên Cao Bằng tiến về chiếm lại Thăng Long. Hoàng thành của Chiêu Thống bây giờ chỉ là những gì còn lại của nhà Mạc, được tu sửa trong một tháng để đón vua Lê từ xứ Thanh ra. Kể từ năm ấy trở đi, những cung điện mới xây ở kinh đô đều nằm trong phủ chúa, hoàng thành cứ tàn tạ dần theo thời gian!…


Nghe đến đây, Hữu Du lòng đầy phấn chấn, thích thú reo lên:


- Tuyệt quá, thưa cha! Chỉ trong hơn một canh giờ cha đã cho con biết bao nhiêu kiến thức về xây cất hoàng thành, giúp con hiểu sâu sắc về lịch sử của nó qua những biến động thời cuộc và sự hưng phế của các triều vua.


- Con sinh ra vào thời loạn, lại phải vất vả theo cha long đong bôn tẩu khắp nơi nên ít được học hành. Giờ về Thăng Long cha muốn con phải siêng năng đọc sách để hiểu biết lẽ đời, hành xử đúng đắn trong mọi cảnh huống. Cha là người không ưa lối học khoa cử, nhưng cha tự học rất nhiều nên mới đủ kiến thức để hành tẩu trong giang hồ cũng như ứng xử giữa chốn quan trường.


- Vâng, con xin ghi nhớ lời cha dạy đêm nay. Giờ xin cha kể tiếp về lịch sử vương phủ của chúa Trịnh…


Hữu Chỉnh nhìn con trìu mến, tự hào. Nó đã trưởng thành hơn ta nghĩ, sớm có tư chất của người thủ lĩnh để kế thừa đại nghiệp của cha. Ông bảo con trai pha một bình trà để hai cha con uống cho tỉnh táo. Hồi lâu ông kể tiếp.


 Phủ chúa Trịnh thực chất là một tòa thành đồ sộ xây bằng gạch nung, bao bọc nhiều cung điện, vườn ngự uyển và các hồ nước đáng làm mẫu mực trong phương cách xây cất theo luật phong thủy. Ngoài ra, các chúa còn xây thêm nhiều cung điện ở ngoài tường bao của phủ để vui chơi, nghỉ dưỡng trong các phường ở kinh đô tấp nập các tụ điểm ăn chơi. Năm Nhâm Thìn (1592), Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, đón vua Lê Thế Tông từ trấn Thanh Hoa về kinh đô, tự lập làm Đô nguyên soái, Tổng quốc chính, Thượng phụ, Bình An vương. Vua ngự trong hoàng thành, còn Trịnh Tùng bắt đầu sai người chọn thợ giỏi xây cất dinh thự, từ đó dân quen gọi là vương phủ hay phủ chúa Trịnh. Việc xây cất này thường xuyên được bổ sung qua các đời chúa kéo dài suốt từ năm Nhâm Thìn (1592) thời Trịnh Tùng đến năm Kỷ Tỵ (1749) thời Trịnh Doanh nên nó vô cùng hoành tráng, xa hoa, lộng lẫy, tương phản với hoàng thành ngày một hư nát. Nó nằm ở phía Đông Nam kinh thành, trên khuôn đất rộng hơn mười dặm vuông, trải dài từ cửa Nam hoàng thành ra gần một hồ nước lớn phía Nam. Quanh phủ có tường gạch nung xây cao bao bọc, cách nửa dặm lại có một chòi canh xây cao hơn mép tường. Về mặt phong thủy, các đời chúa Trịnh rất coi trọng lập các vườn ngự uyển và đào hồ nước, phân bổ hài hòa trong khuôn đất của vương phủ, cùng hệ thống các cửa ra vào.


Trước hết nói về hệ thống cửa: Chính Môn hay cửa Chính Nam quan trọng nhất, có bãi cỏ rộng đằng trước và ba lối đi lát đá xanh dẫn vào ba cánh cửa ra vào, trong đó cửa giữa cao và to, voi ngựa có thể đi được dễ dàng, nhìn về phía xa xa có đầm Mực của tổng Thanh Trì; cửa Diệu Đức nhìn chếch về hướng Tây, nằm ở làng Phụ Khánh, tổng Tiền Nghiêm khá gần với cửa Nam hoàng thành. Không phải ngẫu nhiên Trịnh Tùng đặt tên cho cửa Tây của vương phủ trùng tên Diệu Đức với cửa Bắc của hoàng thành. Con nên nhớ cửa này rất hệ trọng, dùng giao lưu giữa vương phủ với cung vua qua cửa Nam hoàng thành. Ông ấy muốn khẳng định các đời chúa Trịnh sẽ không chấp nhận sự can thiệp của phương Bắc. Mọi quyết sách phải được ban ra từ vương phủ qua cửa phía Tây vào cửa phía Nam của hoàng cung. Mặt khác, vương phủ chỉ xây có 3 cửa, bỏ hẳn cửa phía Bắc và như thế mới hóa giải sự trấn yểm của Cao Biền. Về điểm này lát nữa cha sẽ nói kỹ hơn cho con hiểu. Lại nói tiếp về cửa Tuyên Vũ nhìn chếch về hướng Đông nằm ở khoảng giữa hai hồ Tả Vọng và Hữu Vọng, gần với lầu Ngũ Long là nơi chúa hay ra đó ngắm cảnh bình minh lên rọi sáng khắp kinh thành hoa lệ. Thực ra Chính Môn có hai lần cửa. Qua cửa Chính Môn còn có cửa thứ hai gọi là Cáp Môn. Ở đây có xá nhân canh giữ, giống như lính ngự lâm ở hoàng thành vậy. Tiếp đến là phủ Tiết Chế, khu quân lính coi giữ vương phủ. Từ Cáp Môn có quan Tiền mã quân túc trực, xét hỏi người ra vào. Sân điện rộng lớn nằm ở chính giữa, giống như sân chầu ở điện Kính Thiên trong hoàng thành, nhưng lát đá xanh to bản sáng bóng nom uy nghi lộng lẫy hơn nhiều. Thềm gác hai tầng bày nghi trượng, vũ khí, chiêng, trống… Phía sau thềm gác ấy mới là các tòa lầu bằng gỗ: Trung Đường, Nghị Sự Đường, Hậu Đường, Tĩnh Đường, thảy đều nguy nga, oai vệ. Nội cung của vương phủ chia ra Đông cung và Tây cung: Đông cung có Bội lan thất, cung Thập Tự, lầu Ngũ Phượng, Quyển Bồng điếm, Tiêu Bút điếm, Tam Nhân đường, Trạch Các lầu v.v… Tây cung có Lộc Phong điếm, Tây hậu đường, Kính Thiên lầu có nghĩa là lầu xem sao tế trời. Trước khi vào các cung có Thị Kỵ điếm là nơi dừng nghỉ chân, đợi lệnh để được đưa qua cửa Cấm, nơi có vệ sĩ canh giữ, ai vào phải có thẻ bài, mật hiệu để kiểm soát. Các cung điện dành cho phi tần và người nhà của chúa ở hậu cung đều bằng gỗ, có hai tầng lầu chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng. Đường nối các cung điện là hành lang rộng khung gỗ sơn son, lp ngói hoàng lưu ly, bao lơn lượn vòng kiểu cách tuyệt mỹ, hai bên là vườn hoa, ao cá. Sau nội cung có nhà Thái Miếu thờ các tiên liệt dòng họ Trịnh. Vườn ngự uyển lớn nhất trong vương phủ nằm ở sau cùng theo trục Nam - Bắc tính từ cửa Chính Nam có rất nhiều loài hoa và chim quý cùng những cây cổ thụ tỏa rợp bóng mát…


Kể đến đây, Hữu Chỉnh liếc qua Hữu Du thấy con trai vẫn tỉnh táo háo hức nằm nghe như uống từng lời. Ông khẽ mỉm cười thích thú, ngầm khen đứa con đã giỏi võ lại ham hiểu biết. Hữu Du thấy cha ngừng kể liền ngập ngừng nói nhỏ:


- Thưa cha, con sẽ gắng sức cùng cha bình định xong Bắc Hà. Lúc đó chỉ cần vài năm đất nước yên bình, con sẽ giúp cha xây cất xong dinh thự Đại tư đồ Nguyễn Hữu Chỉnh không thua kém gì vương phủ họ Trịnh thời hoàng kim nhất của chúa Trịnh Tùng khi xưa.


- Được lắm! Con biết vì sao năm Nhâm Thìn (1592), chúa Trịnh Tùng không phế bỏ vua Lê và xây vương phủ như cha vừa kể không?


- Dạ thưa, có lẽ vì ông ấy không muốn nhà Minh kiếm cớ sang gây sự.


- Đó chỉ là một lý do. Còn một nguyên cớ khác khá huyền bí con à...


- Vậy xin cha nói tiếp đi, con đang háo hức chờ nghe.


- Vừa rồi, khi nói về cửa Diệu Đức ở phía Tây vương phủ, cha đã nói qua, giờ lý giải sâu hơn cho con hiểu. Trịnh Tùng là một vị tướng soái tài kiêm văn võ, tinh thông cả dịch lý và am hiểu thuật phong thủy. Ông muốn tản quyền ra khỏi hoàng thành và khi xây vương phủ theo lẽ thường tình phải có bốn cửa Nam - Bắc - Đông - Tây, nhưng ông chỉ xây ba cửa, bỏ hẳn cửa Bắc. Hơn thế nữa, ông ấy còn đặt tên cho cửa Tây của vương phủ cũng có tên là Diệu Đức như cửa phía Bắc hoàng thành để nhằm ngăn chặn âm binh âm tướng của Cao Biền năm xưa đã dùng ma thuật trấn yểm khúc sông Tô Lịch áp sát cửa Bắc thành Đại La. Hắn không muốn sau này nước Đại Việt ta có những vương triều hùng mạnh kéo dài qua nhiều đời vua. Vua Lý Công Uẩn khi chọn đất xây thành Thăng Long vô tình nằm gọn trong khuôn đất của thành Đại La cũ nên bị bùa phép của Cao Biền kìm hãm bằng con số tám. Cha đã kiểm chứng thấy nhà Lý chỉ có tám đời vua thì mất về tay nhà Trần. Đến lượt nhà Trần tồn tại tới đời vua thứ tám là thằng con nuôi Cung túc vương Trần Dục tên Dương Nhật Lễ nhập nhằng soán vị nối ngôi Trần Dụ Tông được vẻn vẹn hơn một năm, nhưng kể từ đó vương triều suy yếu dần và mất về tay Hồ Quý Ly. Nhà Hồ đoản mệnh không tính, nhưng đến nhà Lê tính từ đời vua Lê Thái Tổ đến vua Lê Uy Mục cũng là tám đời thì suy vi, các vua sau chỉ là lũ trẻ con trị vì ngắn ngủi cuối cùng mất về tay nhà Mạc. Thời nhà Mạc ở Thăng Long nước ta còn có vua Lê ở xứ Thanh nên nội chiến kéo dài cũng không tính. Hồi trẻ, khi cha lên kinh thành giao du với kẻ sĩ trong thiên hạ đã từng tranh luận điều này với nhiều sĩ phu trong hàng khoa bảng, nhưng ai cũng bảo cha điên khùng, quyết không chịu nghe. Có lẽ chỉ có người như Trịnh Tùng mới hiểu điều cha vừa nói nên ông đã xây vương phủ để tản quyền và quyết định không mở cửa Bắc cho vương phủ. Hiểu được thâm ý của Trịnh Tùng, các đời chúa Trịnh về sau, khi vương triều còn hưng thịnh đều vừa mềm mỏng vừa rất kiên cường tự chủ trong bang giao với phương Bắc. Nhờ thế, đời chúa Trịnh Cương bằng đường thương nghị đã đòi được mỏ đồng Tụ Long thuộc lãnh thổ nước nhà bị họ chiếm đóng. Cha con ta trước xây dinh thự cho mình trên khuôn đất của phủ chúa Trịnh. Nếu trời cho đại nghiệp của cha thành công, khi đó cha sẽ di dời hoàng thành sang nền đất ấy để thoát khỏi bùa chú trấn yểm của Cao Biền. Kinh thành Thăng Long cũng sẽ nới rộng về hướng Đông và hướng Nam...”


                                                                 *** 


Duy Thiện đọc xong chương đầu cuốn sách về cụ tổ họ Nguyễn Hữu Chỉnh, ngước nhìn bác sĩ Hạnh nhoẻn cười. Nụ cười dẫu có chút ngây ngô của người mang bệnh tâm thần, nhưng nó vẫn làm khuôn mặt ông sáng bừng, rạng rỡ. Trong mắt ông dường như có lửa. Ông đi đứng lanh lẹn, nói năng hoạt bát hẳn lên. Hoàng Lan bàng hoàng sung sướng tin rằng bệnh ông sẽ qua khỏi nhờ phương pháp điều trị của Hạnh. Bà đón bác sĩ Hạnh ngoài cầu thang, ôm chầm lấy chị nghẹn ngào không nói nên lời. Hạnh trao cho bà chiếc máy ghi âm, ân cần động viên, cảm thông chia sẻ. Ngoài trời mưa đã tạnh. Gió bấc đầu mùa thổi lộng trên các bãi dâu ngoài bờ sông quanh bến làng Cù...


(còn tiếp)


Nguồn: Kẻ sỹ thời loạn. Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Ngọc Tiến. NXB Phụ nữ, 2019.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »