tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
05.04.2019
Vũ Ngọc Tiến
Kẻ sỹ thời loạn


11.


Lệ máu                                         


Giáo sư Huy Toàn và phó chủ tịch tỉnh H Nguyễn Thành Trung hẹn nhau cùng đến thuyết phục Hoàng Lan đồng ý cho Thiện trực tiếp làm việc với người của đoàn Thanh tra liên ngành. Ông đã mấy lần đặt vấn đề này với Hoàng Lan, nhưng bà lấy cớ Thiện còn trong giai đoạn chữa trị và tĩnh dưỡng, chưa được khỏe hẳn nên kiên quyết từ chối. Cực chẳng đã, Trung đành nhờ Toàn giúp đỡ. Hai người được Hoàng Lan và Duy Thiện thân mật tiếp chuyện ở gian khách của tầng 2 ngôi nhà thuê trong phố cổ. Hoàng Lan gọi điện xuống tầng 1 cho Hạnh thông báo với mọi người trong văn phòng không muốn ai làm phiền trong buổi sáng nay. Bốn người nói chuyện dông dài khá lâu, Trung mới tế nhị lái vào việc chính:


- Anh Thiện đã khỏe hẳn chưa, ăn ngủ có tốt?


- Cũng ổn rồi chú Trung à…


- Trí nhớ và tư duy tổng hợp của anh Thiện phục hồi quá tốt! Em nghe Hạnh kể, anh đang viết sách về cụ tổ họ nhà mình, bao nhiêu sự kiện rối rắm của lịch sử thời Lê mạt được anh bóc gỡ trình bày mạch lạc đâu ra đấy từng sự kiện một. Khi nào xong anh cho em đọc nhé!...


- Ok… Người viết chỉ mong có người đọc thôi mà.


- Tài liệu điều tra của anh bắn lên mạng lưu trữ 8 năm trước vừa tải về gửi cho em rất chi tiết, sắp xếp khoa học nên đã giúp được đoàn Thanh tra liên ngành rất nhiều. Cái phương pháp lưu trữ trên mạng của anh cũng thật tuyệt. Em đã học anh để lưu trữ hồ sơ về tập đoàn tham nhũng họ Trịnh tỉnh H ở cả 3 dạng: văn bản trên giấy có dấu giáp lai từng trang và chữ ký, bút tích của nhân chứng; văn bản số hóa lưu giữ trong ổ cứng kèm thêm vài cái USB do em và thư ký Quốc Trọng cất giấu ở những nơi bí mật phòng khi máy bị “hách” hoặc vì lý do nào đó; văn bản gửi lên mạng theo địa chỉ Email bí mật của em. Công anh với tỉnh H thật lớn…


Hoàng Lan nhìn Trung cười, ý nhị ngắt lời:


- Thôi mà chú Trung ơi!... Chú tha cho anh Thiện nhà chị đi!... Chị biết chú sắp nói gì rồi. Những gì có thể nói, tài liệu đã nói thay hết cả. Dính vào mấy ông thanh tra chị sợ việc này cuốn theo việc kia bao giờ mới dứt. Anh Thiện vừa mới thoát ra khỏi mớ bòng bong của cuộc đấu đá nội bộ tỉnh H, giờ chú lại lôi anh ấy vào thì tổn thọ mất thôi. Hãy thương lấy hoàn cảnh của anh chị lúc này, đau lắm chú Trung ơi!...


Hoàng Lan bỗng nhiên bật khóc. Tiếng khóc nghẹn tức của bà khiến Toàn và Trung lúng túng nhìn nhau ngơ ngác, se thắt lòng. Trung hiểu những băn khoăn lo lắng của Hoàng Lan, nhưng Thiện là nhân chứng quan trọng, lời nhận xét của ông về một sự kiện hay số liệu nào đó trong tài liệu rất có giá trị. Hơn nữa, có khả năng cần đến những cuộc đối chất giữa đối tượng điều tra với nhân chứng Duy Thiện mà điều này không thể thiếu sự đồng ý của Hoàng Lan. Trên phương diện pháp luật, bà là người giám hộ của bệnh nhân Duy Thiện, lại mang hai quốc tịch Việt - Mỹ. Ở vị thế này, bà có hẳn một văn phòng luật sư riêng, khi cần sẽ sẵn sàng can thiệp nên mấy ông thanh tra cũng ngán, không dám tùy tiện gửi “trát” mời như vẫn thường đối xử với người dân thường trong nước. Thiện nắm tay Hoàng Lan vuốt nhẹ như an ủi, vỗ về… Đợi cho tiếng khóc của Hoàng Lan nguôi vợi, Trung chân tình cầm tay bà xúc động nói:


- Chị ơi! Em rất hiểu tấm lòng của chị và hoàn cảnh hai người sau bao năm ly biệt. Ở đâu không biết chứ ở tỉnh H hiện nay, cuộc đấu tranh chống tập đoàn họ Trịnh do ông Hưng cầm đầu thì em có thể thề với chị không phải là cuộc đấu đá nội bộ. Đây là cuộc đấu tranh quyết liệt một mất một còn, tất cả vì hàng triệu người dân trong tỉnh, vì sự phát triển bền vững của tỉnh H.


- Thì sao nào?! Chú và các cộng sự cứ việc tiến hành, đừng lôi anh Thiện của chị vào nữa. Anh ấy đã quá khổ rồi. - Hoàng Lan ngắt lời Trung.


- Vâng em hiểu, chỉ dám xin chị mở lòng cho phép chúng em được làm việc duy nhất một lần với anh Thiện trong khoảng 1 giờ ngay tại đây. Em xin đảm bảo sẽ không có lần thứ hai.


- Chú làm sao quyết định được điều đó?


- Nếu chị muốn, em sẽ đề nghị ông Trưởng đoàn Thanh tra liên ngành cam đoan bằng văn bản đàng hoàng, chị nhé!


Huy Toàn thấy bạn mình dường như đã có chút xiêu lòng liền xen vào nói đỡ:


- Lan thông cảm cho hoàn cảnh và công việc của chú Trung. Nó phức tạp lắm! Cái cơ chế tập thể lãnh đạo trong nước mình hiện nay có nhiều oái oăm, lởm khởm, có thể em ở nước ngoài mới về chưa hiểu hết được đâu. Nó có lúc vô tình trói tay trói chân chú ấy nên rất cần những người dân lương thiện và dũng cảm như Thiện làm hậu thuẫn. Cuộc đấu tranh chống tập đoàn tham nhũng họ Trịnh ở tỉnh H đã làm Thiện phải trả giá quá đắt. Trung cũng như Thiện thôi, bất chấp khó khăn nguy hiểm làm việc này vì hàng triệu con người trong tỉnh. Người tốt như Trung, có máu kẻ sĩ trong người làm quan bây giờ hiếm lắm. Chúng mình vẫn thường nói vậy, bảo nhau coi chú Trung như ruột thịt trong nhà. Giờ chú ấy có điều kiện để tiếp nối và mở rộng công việc của Thiện, ta nên ủng hộ Lan à…


Hoàng Lan ngước nhìn sang Thiện, thấy ông im lặng thở dài. Bà hiểu ông vẫn muốn dấn thân làm tiếp công việc mà 8 năm trước còn bỏ dở, nhưng ông tôn trọng và nhường quyền quyết định cho mình nên càng cảm thấy khó xử. Tận đáy lòng, bà chỉ muốn Thiện quên đi tất cả, nghỉ ngơi tĩnh dưỡng cho khỏe rồi cùng bà đi ngao du khắp thế giới, tới những nơi bà đang làm việc từ thiện cứu giúp dân nghèo ở châu Phi, châu Mỹ la tinh… cho khuây khỏa một thời gian. Trở về nước, nếu còn sức khỏe, Thiện sẽ tham gia nghiên cứu quá trình biến đổi gen trong các bệnh nhân tâm thần bị phơi nhiễm chất độc da cam thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Đó là việc nhân đức hợp với sở trường một phó tiến sĩ Di truyền học tốt nghiệp ở Nga. Về lâu dài, ông sẽ giúp bà triển khai các dự án tài trợ nhân đạo ở Tây Nguyên hay các tỉnh miền núi phía Bắc cho đồng bào các dân tộc đang còn nghèo và lạc hậu. Ngoài ra, viết sách cũng là sở trường của ông, đều là cách giúp đời, độ dân cứu khổ. Cái gọi là cơ chế hay quy trình trong nước vẫn thường nói đến bà thấy mờ mịt, chẳng hiểu nó thế nào, nhưng thông tin trên báo và mạng bà đã đọc nhiều rồi. Có những cuộc thanh tra lúc đầu rùm beng để trấn yên dư luận, sự việc rõ như ban ngày mà họ dây dưa kéo dài, cuối cùng kết luận nửa vời hoặc cứ khất lần việc công khai kết quả thì vài lời nói của người “điên” như Thiện nào có ý nghĩa gì? Nhưng thôi, bà cũng chiều ý Trung cho Toàn và Thiện đẹp lòng. Hoàng Lan nắm chặt tay Trung nói:


- Chú Trung và anh Toàn đã nói vậy, chị cũng đành chiều ý chú một lần này thôi nhé! Mong chú giữ lời hứa không có lần thứ hai và cuộc làm việc sẽ diễn ra ngay tại đây, có mặt chị với tư cách người giám hộ cho bệnh nhân Duy Thiện. Chú nói chỉ cần 1 tiếng, nhưng chị ước đoán phải 2 tiếng trở lên mới xong đấy. Thế được chưa chú Trung?


Tiễn Toàn và Trung ra về, Thiện lên phòng trầm ngâm suy nghĩ. Ông cảm động trước tấm lòng của Hoàng Lan luôn lo cho sức khỏe và sự an nguy của mình những ngày qua. Xem ra Trung cũng giống ông, đã làm việc gì là làm tới cùng, vô tư vì nghĩa cả. Ông hồi tưởng lại những gương mặt khổ đau, thiểu não của những người nông dân mình đã gặp 8 năm về trước. Họ nhìn ông như vị cứu tinh dù biết ông cũng chỉ là một con người bình thường như bao người lương thiện khác. Họ mang tâm trạng của người có bệnh thì vái tứ phương để gửi gắm chút hy vọng mong manh. Giờ ông đã có điểm tựa quyền lực là Trung, tất phải dấn thân vào cuộc đấu tranh đến cùng, trả nghĩa những người nông dân khốn khổ ấy. Một lần làm việc với đoàn Thanh tra không xong thì thêm vài lần khác nữa có sao đâu. Chợt ông nhớ đến cuốn sách đang viết chỉ còn một chương ngắn cuối cùng kết thúc một cuộc đời sóng gió, nhiều ẩn ức trong lịch sử. Ông phải viết nhanh cho hết chương sách ấy trong cả ngày và đêm nay, sau đó dồn toàn tâm lực cho cuộc đấu tranh của Trung ở tỉnh H. Duy Thiện đến bên bàn, ngồi trầm tư trước laptop hồi lâu. Lòng ông sôi lên bầu máu nóng, miệt mài lướt những ngón tay gõ bàn phím…


                                                    *** 


“Tháng 7 năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Nhạc từ Quy Nhơn ra Thăng Long ép buộc em trai mình quay về Quy Nhơn, dự định sẽ tước bớt binh quyền của Huệ, nhưng khi hai anh em về tới Phú Xuân ông mới vỡ lẽ mình đã mắc mưu Nguyễn Huệ tạo nên sự việc đã rồi. Nguyễn Huệ chẳng những cùng nhiều tướng thân cận gan lỳ ở lại Phú Xuân mà còn chiếm luôn đất Quảng Nam, phong Trần Quang Diệu là tướng trấn thủ ở đó. Hai anh em tranh cãi kịch liệt, nhưng Nguyễn Huệ nhất quyết không chịu đổi ý, buộc lòng Nguyễn Nhạc đành hậm hực một mình trở lại Quy Nhơn. Ông sai người mang thư ra thành Tân Bình dặn con rể Vũ Văn Nhậm trấn giữ nghiêm ngặt vùng Động Hải, canh chừng Nguyễn Huệ ở mặt Bắc. Nhậm ở Động Hải chơ vơ, quân lính thiếu lương ăn nên phải nhờ cậy nguồn tiếp tế từ Phú Xuân, đành tạm ra mặt thần phục Nguyễn Huệ. Đó cũng là kế do Nguyễn Huệ vạch sẵn cho Ngô Văn Sở trước khi cùng đại quân Tây Sơn rời Thăng Long. Sau khi ổn định tình hình hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam, Nguyễn Huệ cho gọi tướng Phan Văn Lân tới dặn dò mưu kế rồi cử ra thành Tân Bình, bề ngoài là giúp Vũ Văn Nhậm trấn giữ cương thổ phía Bắc của xứ Đàng Trong từ sông Linh Giang trở vào, song bên trong phối hợp với Ngô Văn Sở kiềm chế Nhậm. Hai người theo kế của chủ soái luôn tỏ ra cho Nhậm thấy sự bất bình với Nguyễn Huệ dám tự mình cát cứ một phương, không nghe lệnh của vua Thái Đức. Vũ Văn Nhậm ngờ nghệch tin là thật, mở lòng với hai người ý định tiến quân ra Bắc làm chủ một phương để ba người chia nhau chung hưởng phú quý, chống lại Nguyễn Huệ. Nhậm thường khoe với hai người: “Có phụ hoàng ta làm hậu thuẫn kiềm chế ở phía sau lưng Nguyễn Huệ, hắn dẫu tài năng kiệt xuất cũng không làm gì nổi, chỉ có thể giương mắt đứng nhìn ta và hai ông làm mưa làm gió ở Bắc Hà”. Nhân lúc Hữu Chỉnh bận việc bình định Bắc Hà, không đủ quân phòng bị mặt Nam, Ngô Văn Sở lại theo kế của chủ soái dùng lời lẽ khôn khéo kích động Vũ Văn Nhậm:


- Thành Tân Bình nhỏ bé, vùng Động Hải lại quá nghèo, không đủ tiềm lực cho ta thực hiện ý đồ Bắc tiến. Nay Hữu Chỉnh còn đương loay hoay đánh dẹp bọn Dương Trọng Tế, Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, chắc không phòng bị ở mặt Nam cho ra hồn đâu. Phò mã muốn mưu việc lớn phải nhìn xa, chi bằng nhân dịp này ta đánh ra Nghệ An là vùng đất đông dân giàu có để vơ vét tiền bạc, vũ khí và thóc gạo rồi chờ thời cơ Bắc Hà có biến sẽ đánh ra Thăng Long mới là thượng sách.


- Lời ông Sở nói rất hợp ý ta, chỉ e Hữu Chỉnh lắm mưu kế, nhiều tướng tài giúp sức sẽ khó thắng hắn, hơn nữa nếu ra mặt vượt quyền Nguyễn Huệ lúc này cũng chưa phải lúc. - Vũ Văn Nhậm đáp.


- Phò mã đừng lo, ngày hai vua hội kiến ở Thăng Long, Chiêu Thống ngỏ ý muốn cắt đất Nghệ An cho Tây Sơn, nhưng vua Thái Đức từ chối, khiến Nguyễn Huệ nhăn nhó, hậm hực mãi, chứng tỏ ông ta cũng nhòm ngó Nghệ An từ lâu. Phan Văn Lân lâu nay rất được Nguyễn Huệ tin dùng. Tôi sẽ bàn với Lân để ông ấy vào Phú Xuân bẩm trước với Huệ, tất việc ta làm danh chính ngôn thuận.


- Hay lắm! Vậy ta sẽ cùng Nguyễn Văn Duệ, Phan Văn Lân đánh ra Nghệ An, còn ông ở lại giữ thành Tân Bình, khi cần thì mang quân tiếp ứng.


Vũ Văn Nhậm mang quân ra Nghệ An quả nhiên thắng trận giòn giã, cướp được rất nhiều ngân lượng, vũ khí và lương thực. Hữu Chỉnh ở Thăng Long nghe tin vội tự mình cầm quân dẫn các tướng vào phản kích, ngay trận đầu đã bắt sống được Nguyễn Văn Duệ, nhưng ông không giết mà thả Duệ về thành nhằm khoa trương thanh thế. Vũ Văn Nhậm đâu phải là đối thủ cân tài cân sức với Hữu Chỉnh nên càng đánh càng thua đau, vội sai người gọi Ngô Văn Sở ra tiếp ứng. Đâu ngờ Sở đã được Nguyễn Huệ dăn dò rằng, trận này nên để thua cho Hữu Chỉnh kiêu căng lơ là phòng bị, còn Nhậm cũng được bài học đích đáng. Sở theo kế ấy cứ dùng dằng mãi chưa kịp xuất quân đã thấy Nhậm thua chạy về Động Hải…


Sau trận tái chiếm lại thành Nghệ An, Hữu Chỉnh sai Nguyễn Duật và Ninh Tốn ở lại tu sửa lũy Hoành Sơn, lập phòng tuyến tại bờ Bắc Linh Giang, chính thức ra mặt đối đầu với quân Tây Sơn, lấy Linh Giang làm nơi phân định lãnh thổ giống như thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Về đến Thăng Long ông mới chợt giật mình lo lắng, con người kiệt hiệt như Nguyễn Huệ không thể dễ dàng chịu thua mình như thế, hẳn trong việc này có uẩn khúc nào đây? Suy đi tính lại, ông thấy cần tạm hòa hoãn để thăm dò, bèn viết một lá thư đòi đất Nghệ An, lời lẽ mềm mỏng rồi sai quan Đại học sĩ Trương Công Sán của triều đình đi sứ vào Phú Xuân trình lên Nguyễn Huệ. Thư có đoạn viết:


“Tại hạ luôn ghi nhớ ơn nặng của thượng công, những ngày đầu mới vào Quy Nhơn tại hạ đã được ngài thu nạp dưới trướng nên đã dốc lòng đem tài trí đền ơn tri kỷ. Thời thế bắt buộc tại hạ phải xa thượng công, không được tiếp tục hầu hạ dưới trướng để ngài sai bảo, âu cũng là cái duyên số chỉ cho được đến thế. Xưa nay tụ tán nhờ có duyên, ly hợp còn do tình nữa. Nay tại hạ đã là trọng thần của vua Lê mà đất Nghệ An lại là cương thổ của xứ Đàng Ngoài. Dẫu vua Chiêu Thống có lòng cắt đất ấy, nhưng vua Tây Sơn, hoàng huynh của ngài dứt khoát từ chối. Vậy nên khi thành Nghệ An bị Vũ Văn Nhậm bất ngờ đánh chiếm, tại hạ buộc phải cầm quân chống lại. Tuy thế, tại hạ vẫn tin rằng đây chỉ là ý định của kẻ dưới chứ thượng công là phò mã của tiên đế Hiển Tông, còn vua Chiêu Thống là cháu ruột bà Ngọc Hân, ngài đâu nỡ làm điều sai trái với lẽ cương thường mà chiếm đất của vua cha và cháu mình. Vậy nên tại hạ trước xin cúi đầu tạ lỗi đã làm kinh động đến quân Tây Sơn, sau mong thượng công nghĩ lại mà có thư hồi âm trả đất Nghệ An cho vua Chiêu Thống…”


Nguyễn Huệ xem thư cười nhạt, gay gắt căn vặn sứ thần đủ điều. Trương Công Sán không hổ danh là quan Đại học sĩ đất Thăng Long hiên ngang đối đáp, lý lẽ hùng hồn khiến các tướng Tây Sơn ai cũng tức giận nhao nhao đòi chém. Nguyễn Huệ khoát tay ra lệnh cho họ im lặng, ôn tồn vỗ về sứ thần, sai người đưa ra quán dịch nghỉ ngơi chờ thư phúc đáp. Ông bảo với thuộc hạ:


- Trương Công Sán là một nhân tài, ta lưu lại Phú Xuân dụ hàng không được thì cũng cho về để thu lấy bụng kẻ sĩ trong thiên hạ. Hữu Chỉnh quả là con người kiệt hiệt, rất hiểu ta nên mới viết thư này. Hắn dám ngang nhiên tỏ rõ ý muốn đối đầu, nhưng lại khôn ngoan hạ mình, nhận là kẻ dưới để ta khó xử. Vậy tiên sinh Trương Mỹ Ngọc mau giúp ta thảo thư hồi đáp, lấy thế bề trên dùng lời ôn hòa, khiển trách nhẹ nhàng, hứa hẹn chung chung cho Chỉnh yên lòng và sinh kiêu căng, tự mãn. Nước Việt đã có Huệ tất không còn Chỉnh, nhưng ta chưa vội ra tay lúc này, cứ tạm gửi cái đầu nó trên cổ rồi sẽ có cách…


                                                       ***


Sứ thần Trương Công Sán vừa rời Phú Xuân về Bắc thì Nguyễn Huệ lại liên tiếp nhận được tin cấp báo do Trần Quang Diệu gửi về. Vua Thái Đức nghe lời xúc xiểm của bọn nịnh thần và công chúa Thọ Hương, vợ của Vũ Văn Nhậm nên liên tục sai người đi thúc ép Trần Quang Diệu trả đất Quảng Nam cho hoàng đế Tây Sơn, nếu không sẽ đem quân ra đó hỏi tội. Nguyễn Huệ bừng bừng nổi giận bảo với các tướng:


- Ta lâu nay nén nhịn đã nhiều, nhưng hoàng huynh ngày càng gàn dở lấn tới,  không tự biết mình. Vậy chỉ có cách mang quân vào Quy Nhơn dạy cho vua Thái Đức một bài học thì nội tình nhà Tây Sơn mới yên được.


Ngay sau đó, Nguyễn Huệ sai người viết tờ hịch kể tội Nguyễn Nhạc và mang 3 vạn quân Nam tiến có tượng binh của Bùi Thị Xuân từ Quảng Nam đi trước mở đường vây chặt thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc thế cô, chống đỡ không nổi bèn hạ chiếu thư gọi tướng Đặng Văn Trấn từ trong Bình Thuận mang 1 vạn quân đi cứu. Trấn vâng mệnh vội vã lên đường, nhưng ông ta đâu phải là đối thủ của Huệ nên vừa ra đến Phú Yên liền bị ông bắt sống. Nguyễn Huệ liên tiếp cho quân nã pháo thần công và bắn hỏa hổ vào thành Quy Nhơn uy hiếp, khiến Nguyễn Nhạc phải lên mặt thành khóc lóc kêu xin em trai đừng đánh nữa. Nguyễn Lữ nghe tin vô cùng hoảng hốt và đau xót liền từ Gia Định phi ngựa ngày đêm không nghỉ ra tận quân doanh của Nguyễn Huệ đập đầu xuống đất máu me be bét khuyên nhủ anh mình. Nhờ tài thương lượng giảng hòa của Lữ, ba anh em nhà Tây Sơn ngồi lại với nhau bàn luận nửa ngày, sau cùng ngã ngũ chia xứ Đàng Trong làm ba vùng: Nguyễn Nhạc làm Trung ương hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn cai quản vùng đất miền Trung????; Nguyễn Huệ làm Bắc bình vương, đóng đô ở Phú Xuân cai quản từ đất Thuận Hóa vào đến Quảng Nam; Nguyễn Lữ làm Đông bình vương, đóng đô ở Gia Định cai quản vùng đất phía Nam từ Bình Thuận trở vào… 


                                                        ***            


Hữu Chỉnh nhận được thư hồi đáp từ thành Phú Xuân gửi ra lấy làm hài lòng, thầm phục Nguyễn Huệ không chỉ có tài cầm quân đánh trận, cũng rất khôn khéo trong việc bang giao. Khi nghe tin Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc bất hòa sâu sắc, anh em ruột thịt định chém giết nhau vì ngôi cao quyền lực, may nhờ có người em út Nguyễn Lữ nhân từ, trượng nghĩa phân giải nên mới tạm hòa hiếu, phân xứ Đàng Trong làm 3 nước nhỏ chia nhau cai quản, ông lại có phần chủ quan khinh thường Nguyễn Huệ. Hữu Chỉnh có lúc ngồi một mình tự nhủ, thì ra Nguyễn Huệ là bậc anh hùng cái thế, tài trí hơn người, nhưng cũng có mặt tầm thường như bao kẻ khác, ta không cần sợ nữa. Ta chỉ buồn nỗi sau bao biến đổi thời cuộc, xứ Đàng Trong chìm trong binh lửa, xương máu ngập đồng, cuối cùng lại vẫn chia làm 3 nước nhỏ. Nó trở lại thế cục gần giống như trước ngày vượt biển vào Nam ta đã cùng anh em tướng sĩ luận bàn ở bãi biển Xuân Thành. Giờ đây khi giang sơn xứ Đàng Trong đã chia ba, Đông bình vương Nguyễn Lữ làm sao địch nổi Nguyễn Phúc Ánh ở phía Nam. Con người Nguyễn Phúc Ánh mới thực đáng sợ, nếu Ánh giành lại được thành Gia Định thì khi đó thế cục nước Việt chưa biết thế nào lường trước được, ngẫm mà kinh hãi. Ở Bắc Hà, ta với Huệ rồi đây ai là người thắng cuộc? Ta thắng, nếu không làm được việc thống nhất sơn hà từ Bắc vào Nam cũng vẫn có thể nghị hòa với Nguyễn Phúc Ánh, lấy Linh Giang phân định cương thổ như thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, chiến tranh mới có cơ chấm dứt. Còn nếu Huệ thắng, thế cục nước Việt sẽ xoay chiều vô cùng phức tạp bởi mối thù của Ánh với Tây Sơn quá lớn sau vụ thảm sát hai chúa Phúc Thuần, Phúc Dương và 18 tướng nhà Nguyễn cùng gia quyến của họ mấy năm trước...


Lúc này tình hình Thăng Long đã khá yên ổn. Dân chúng Bắc Hà hai lần được mùa liên tiếp trong năm Đinh Mùi (1787). Khắp nơi, những dòng người tha hương chạy loạn lục tục rủ nhau về quê cày cuốc làm ăn sinh sống. Kinh thành khởi sắc trở lại, ở các chợ lớn và tiệm buôn tấp nập kẻ mua người bán, ngoài sông trên bến dưới thuyền nhộn nhịp từ mờ sáng tới lúc gà lên chuồng. Trong vương phủ cũ của chúa Trịnh, nhiều tòa lầu mới được dựng lên tưng bừng đèn treo hoa kết. Hữu Chỉnh cảm thấy hả hê tự mãn, cho phép mình cùng nàng Lệ Thủy và con trai Hữu Quý, cháu nội Hữu Dân hưởng chút vinh hoa phú quý trong lầu son gác tía cho bõ những ngày long đong vất vả, gia đình ly tán kẻ Nam người Bắc. Nàng Lệ Thủy sống sung sướng, an nhàn trong phủ đôi lúc nhớ nghề, bàn với chồng gọi các cung văn, đào nương ở kinh thành vào hát ả đào cho hai người cùng nghe. Lúc đầu chỉ đơn giản là vậy, nhưng nhiều kẻ xu thời đón ý bề trên cho người đi lùng khắp dân gian những đào nương nổi tiếng đem về hát ả đào trong phủ nhằm đẹp lòng nàng Lệ Thủy mong chạy tội hay cầu xin một chức quan nhỏ. Lâu dần việc ấy thành thông lệ, đám sĩ phu hay nhà trọc phú thông qua các đêm hát ả đào làm quen với thuộc hạ trong phủ của Hữu Chỉnh thậm thụt đổi chác, mua quan bán tước sau lưng mà ông không hề biết. Đối với vua Lê Chiêu Thống và các quan văn trong triều, Hữu Chỉnh vốn sẵn lòng khinh ghét nên họ bị ông khinh bạc, chèn ép không thương tiếc. Ông không chịu vào triều, chỉ ngồi điều hành công việc ở phủ khiến vua có việc gì lớn nhỏ cũng phải sai người sang hỏi ý kiến. Mỗi lần như thế, ông cố tình bắt họ ngồi đợi hàng canh giờ, có khi đến nửa ngày mới chịu gặp cho bõ ghét. Điều con trai Hữu Du và người bạn chí cốt Nguyễn Khuê lo nhất là gần đây Hữu Chỉnh trở nên đổi tính, thường hay cáu gắt, đối xử với những người đồng cam cộng khổ trong chuyến vượt biển vào Nam có phần chưa thật công bằng, phân ra người yêu kẻ ghét. Chuyện xảy ra đối với Nguyễn Cân làm nhiều người buồn nản rõ nhất. Vào những ngày đầu mang quân Cần Vương từ Nghệ An ra Thăng Long, Hữu Chỉnh còn tin cậy giao cho Nguyễn Cân cùng Nguyễn Cảnh Thước và Nguyễn Khuê lo việc ổn định triều chính, lập lại  kỷ cương xã hội và trị an ở kinh thành. Nhờ thế Cân được Cảnh Thước yêu mến, gả con gái làm vợ kế thế chỗ người vợ cũ đã chết. Cân vẫn hy vọng sẽ được Hữu Chỉnh cất nhắc ngồi vào ghế Kinh Sư Phủ Doãn, coi sóc mọi việc ở kinh thành, tất bổng lộc, quà cáp cũng nhiều. Nguyễn Cân đã nhiều lần xin xỏ nàng Lệ Thủy, còn Cảnh Thước cũng đôi lần nói đỡ, nhưng Hữu Chỉnh vẫn lờ đi. Ông nói với Hoàng Viết Tuyển rằng Nguyễn Cân là bạn học cùng lò võ ở quê Cổ Đan, lại có nhiều ân tình với ta hồi còn Quận Huy, nhưng hắn là đứa nát rượu không thể làm quan tam phẩm ở triều đình được. Điều đó không sai, song vì Nguyễn Cân bất mãn nên mỗi khi say rượu thường cằn nhằn than thở, có lúc oán trách Hữu Chỉnh bội nghĩa vong ân, kể oang oang chuyện Cân liều mình nhận hết tội để cứu Chỉnh khỏi cảnh lao tù trong nhà ngục của Quận Huy. Kể xong Cân lại khóc tu tu, luôn mồm dùng lời thô tục oán trách Chỉnh giữa hàng quán đông người qua lại ở phố buôn hay ngoài chợ. Một lần có người bẩm báo chuyện của Cân, gặp lúc Hữu Chỉnh đang có chuyện bực mình trong phủ, ông đùng đùng nổi giận quát thuộc hạ lôi thằng say ra sông Cái dìm chết. Hôm sau hết giận, biết mình quá tay, ông rất ân hận, sai người làm lễ tang linh đình, tự mình đến tế lễ cho bạn, nhưng sự đã lỡ khó làm yên lòng nhiều người khác cùng chung cảnh ngộ bị ông sơ tình hay hắt hủi. Sau vụ việc đó, Nguyễn Cảnh Thước buồn rầu không muốn ở lại kinh thành, xin Hữu Chỉnh cho đi làm quan trấn thủ đất Kinh Bắc. Hữu Du và Hoàng Viết Tuyển hết sức khuyên can vì uy tín Thước trong quân Cần Vương cũ rất lớn, nhưng ông vẫn một mực đòi đi bằng được. Hôm tiễn bạn đi Kinh Bắc, Viết Tuyển tỏ ra buồn rượi, chẳng nói năng gì. Hữu Du thấy vậy càng thêm lo lắng, tìm nhạc phụ than thở. Nguyễn Khuê nghe xong lắc đầu ngao ngán, không ngờ chỉ trong khoảng hơn một năm trời mà quyền lực tột đỉnh không ai kiềm chế đã biến Hữu Chỉnh thành con người khác. Ông kể cho con rể nghe chuyện Thành Cát Tư Hãn lúc lâm chung chỉ dặn con trai Hốt Tất Liệt một câu rằng: ”Ở đời khi có quyền càng lớn lại càng nên nhớ, thuần phục một con sư tử hoang dã ngoài sa mạc còn dễ hơn nhiều lần việc thuần phục thói kiêu ngạo ở ngay chính trong lòng mình.” Du hiểu nhạc phụ đã thất vọng về bạn, chán cảnh quan trường. Tiễn con rể ra về, Nguyễn Khuê tần ngần đứng lại giữa sân ngẩng nhìn bầu trời đêm bao la. Không gian đặc quánh một màu đen phủ khắp kinh thành. Những hàng cây xào xạc trút lá. Tiết thu se lạnh, vẳng tiếng côn trùng eo óc nỉ non. Ông biết Hữu Du rất muốn nhờ cậy mình lựa lời khuyên can Hữu Chỉnh, nhưng tình bạn thủa hàn vi giữa hai người liệu có còn nguyên ven? Đã nhiều lần ông xa xôi bóng gió nhắc bạn cảnh giác trước cám dỗ của quyền lực tuyệt đối, không bị ai kiểm soát sẽ như thứ thuốc độc gây nghiện khiến con người u mê giữa ánh hào quang của những thành công trong quá vãng và lời tụng ca của kẻ xu nịnh. Người như Hữu Chỉnh chỉ thoáng nghe chắc đã hiểu nhưng vẫn tảng lờ mọi lời tâm huyết ấy. Gió từ Tây Hồ thổi vào hoa viên dinh thự cứ âm u mang mang, gợi ông nhớ lại bao kỷ niệm tình bạn đằm thắm xa xưa. Ngày ấy Hữu Chỉnh mới từ quê ra kinh thành, đôi bạn tình cờ gặp nhau, đồng thanh tương khí đồng chí tương cầu, nhanh chóng kết thành tri kỷ. Giữa thời tao loạn, vận nước suy vi, cương thường băng hoại mà tìm được người đáng mặt kẻ sĩ trong đám mọt sách để kết giao nào có dễ gì. Khuê yêu mến nể phục con người văn võ toàn tài, ôm mộng lớn lao vì dân dẹp loạn, chấn hưng nước Việt để bách tính thoát khỏi vòng binh lửa nồi da xáo thịt. Chỉnh cũng không nề hà bộc lộ chí lớn, cùng Khuê say sưa đàm đạo và sẵn sàng bênh vực người bạn thư sinh yếu đuối mỗi khi có kẻ ỷ thế hợm mình, bắt nạt người thế cô, ngay thẳng. Rồi những năm tháng Hữu Chỉnh theo Quận Việp chinh chiến vào Nam ra Bắc, hay lần bạn mình lâm nạn ngồi trong ngục thất của Quận Huy, vợ chồng Nguyễn Khuê đã hết lòng cưu mang, giúp đỡ vợ con Chỉnh. Mối thâm giao thân thiết giữa hai nhà càng thêm gắn bó khi Nguyễn Khuê vào tận quân doanh của bạn ở xứ Nghệ, gả con gái yêu Phương Dung cho Hữu Du trước lúc đôi trẻ vượt biển vào Nam đầy may rủi, sống chết khôn lường… Vậy mà giờ đây nàng Lệ Thủy, cô đào nương do chính tay Nguyễn Khuê giàn xếp, bàn bạc với Thu Cúc tác thành cho Hữu Chỉnh, khi bà có ý định mang theo hai đứa con gái về quê, giờ nàng lại nỡ đem lòng ngờ vực người bạn cố tri của chồng. Nghiệp lớn chưa thành nhưng quyền uy bao trùm thiên hạ của chồng đã xui khiến thói ích kỷ đàn bà trong nàng trỗi dậy, vội nuôi ý đồ giành ngôi thế tử sau này cho con trai Hữu Quý của mình, ngấm ngẫm chê bai, xúc xiểm Hữu Du và Nguyên Khuê với Hữu Chỉnh. Đôi khi trái tim người thủ lĩnh anh hùng dẫu là gỗ đá cũng dễ mềm ra bởi lời tỉ tê bên gối của người đẹp giữa đêm thanh vắng. Rất may vì Nguyễn Khuê để tâm quan sát vẫn thấy Hữu Chỉnh hết lòng yêu quý, tin tưởng Hữu Du và chưa hề tỏ ý nghi ngờ người bạn tri kỷ. Tuy thế, chẳng có gì đảm bảo rằng một ngày không xa mọi việc sẽ diễn biến khác đi, mầm họa sát thân ập đến bất ngờ. Nguyễn Khuê chợt rùng mình mường tượng ra bao viễn cảnh hãi hùng. Ông khẽ thở dài, mắt đăm đăm nhìn lên bầu trời đêm đen thẫm, lòng tự hỏi lòng: Chao ôi! Quyền lực là cái chi chi mà tự nghìn xưa nó đã như quỷ ám cõi người khiến huynh đệ tương tàn, bằng hữu ly tán cho cái ác, điều dữ len vào làm hoen ố lý tưởng vì dân, nghiêng đổ sự nghiệp của bao kẻ hùng tâm, một thời oanh liệt?...     


 Không lâu sau đó, vào ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân, Nguyễn Khuê xin với Hữu Chỉnh được về quê nghỉ dưỡng. Ông nghe bạn nói giật mình ngơ ngác hỏi:


- Ta đã sống tệ lắm sao mà hết Cảnh Thước rồi đến túc hạ cũng bỏ ta đi?


- Đệ với huynh tình như thủ túc, sao dễ bỏ nhau được. Chẳng  qua vì đệ lâu nay thấy mệt mỏi, đau ốm thường xuyên, còn huynh nghiệp lớn sắp thành, quyền hành của huynh giờ còn hơn cả vua nên đệ cũng yên tâm về nghỉ dưỡng cho thanh thản tuổi già. Nói thực với huynh, lần này đệ cũng không về quê nữa đâu, có một nơi rất thiêng đang chờ đệ tới.


- Túc hạ định đi đâu bây giờ?


- Năm xưa khi huynh theo lão tướng quân Hoàng Ngũ Phúc về quê Yên Dũng của ông ấy tạm lánh khi triều đình đang rộ tin đồn Ngũ Phúc âm mưu tạo phản, mấy lần lên đó thăm huynh, đệ vẫn thường qua chùa Vĩnh Nghiêm dưới chân núi phía Tây Yên Tử, huynh còn nhớ không?


- Nhớ chứ, ta làm sao quên được cảnh chùa đẹp và tĩnh lặng như chốn thần tiên, còn vị đại lão Thiền sư Duy Tuệ tuổi đã ngoài 70 vẫn minh mẫn, trí lực vô cùng thâm viễn.


- Vâng đúng thế. Có lần Thiền sư bảo với đệ rằng nhà chùa có cả một kho mộc bản đồ sộ dùng để in kinh Pháp Hoa, nhưng dùng đã lâu, qua nhiều đời sư trụ trì nên nhiều mộc bản nét chữ rất mờ, thậm chí mất hẳn không thể luận ra. Nhà chùa rất cần một người thông tuệ, giỏi thư pháp để tra cứu lại bản gốc mà tu chỉnh lại.


- Và túc hạ đã hứa với Thiền sư có ngày quay trở lại giúp nhà chùa làm việc đó?


- Giờ là lúc đã chín muồi để đệ lên chùa phát tâm làm chút Phật sự nhỏ nhoi ấy cho lòng thanh thản. Đệ sẽ đưa gia quyến lên Yên Dũng chọn đất gần chùa dựng một căn nhà tranh vách nứa đơn sơ, có vườn cây thuốc trị bệnh cứu người. Hàng ngày đệ dành một phần thời gian sang chùa cùng Thiền sư Duy Tuệ tra cứu kinh gốc hiệu đính các mộc bản bị mờ chữ. Âu đó cũng là cơ hội cho đệ học thêm giáo lý nhà Phật, tĩnh tâm tu thiền. Khi tâm đã an định sâu, mọi dục vọng, tính kiêu căng và sự thù hận sẽ tan biến… Ở nơi chốn linh thiêng đó, đệ sẽ thỉnh cầu hồng ân tam bảo từ bi gia hộ cho đại nghiệp của huynh sớm được viên thành.


- Túc hạ đã nói vậy ta cũng không giữ nữa, chỉ mong sẽ có ngày tái ngộ.


Nguyễn Khuê đi rồi, Hữu Chỉnh như người bừng tỉnh cơn mê, thay đổi cách sống trở lại như xưa. Ông siêng năng luyện võ vào buổi sớm mai, dẹp hết những cuộc vui hay hát ả đào trong phủ. Ông cũng thân gần chuyện trò với tướng sĩ nhiều hơn, thường xuyên đi kinh lý vào tận Thanh - Nghệ cùng Nguyễn Duật kiểm tra đôn đốc việc bố phòng ở các điểm xung yếu, cảnh giác với quân Tây Sơn và mưu kế “đại bàng ngủ quên” của Nguyễn Huệ. Song mọi sự dường như quá muộn bởi lính do thám của Nguyễn Huệ gài lại ở Thăng Long không ít. Họ thường xuyên phi báo về Phú Xuân tình hình mọi mặt trong quân Hữu Chỉnh và tâm trạng ức chế của các quan trong triều đình nhà Lê…


Tháng 11 năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Huệ ở Phú Xuân được tin tình hình quân đội ở Bắc Hà của Hữu Chỉnh có dấu hiệu lục đục suy yếu, Chỉnh có phần chủ quan tự mãn, coi thường quân Tây Sơn, đối xử với người đồng cam cộng khổ không được mặn mà như cũ. Việc sai người dìm chết Nguyễn Cân đã khiến hai đại tướng công thần, giỏi cầm quân được Hữu Chỉnh tin tưởng nhất tỏ ra chán nản nên Nguyễn Cảnh Thước xin về trấn thủ Kinh Bắc, còn Hoàng Viết Tuyển ít lâu sau cũng xin đi trấn thủ Sơn Nam. Các quan trong triều sợ Chỉnh, chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng nhưng tất thảy đều hèn nhát, chẳng có mưu kế gì hay giúp Chỉnh khi lâm sự. Các tướng còn lại trong đại bản doanh của Hữu Chỉnh có hơn hai chục người, nhưng thân tín và có thể tin dùng chỉ có dăm người mà quân sĩ Tây Sơn đều biết mặt, thuộc cách đánh và cả tính tình: Nguyễn Duật chỉ huy 1 vạn quân giữ thành Nghệ An, còn Ninh Tốn chỉ huy 5 ngàn quân giứ trấn Thanh Hoa làm thế ỷ dốc cho Nguyễn Duật, ở đại bản doanh chỉ có Nguyễn Như Thái và Hữu Du nắm hơn vạn quân dự bị là khả dĩ dám dũng cảm xung trận đánh nhau đến cùng với quân Tây Sơn…


Nguyễn Huệ đọc xong tờ biểu rất dài của đội quân do thám liền vỗ đùi cười lớn, nói với vài tướng tâm phúc đang ngồi thì thầm quanh mình:


- Mọi việc đang diễn ra đúng như ta dự định, bàn bạc mưu kế từ đầu với Ngô Văn Sở. Phen này Hữu Chỉnh chắc chết, ta như nhổ được cái gai trong ruột bấy lâu.


Trong đầu ông lóe lên ý nghĩ thầm kín, sau Chỉnh sẽ là Vũ Văn Nhậm, tài của hắn thực không đáng kể gì so với Chỉnh lại dám ỷ thế hoàng huynh so đọ với ta. Những kẻ gian xảo, tham bát bỏ mâm như Nhậm ta quyết không tha. Ông phác qua mọi kế hoạch trong đầu rồi lập tức lên ngựa phi nhanh ra thành Tân Bình bàn bạc việc tiến quân ra Bắc với các tướng Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân. Tới nơi ông lựa lời vỗ về Nhậm, hứa vào được Thăng Long sẽ cho Nhậm thay quyền Hữu Chỉnh, kiếm soát toàn bộ Bắc Hà, tha hồ hưởng phú quý và gái đẹp, lầu son. Ngô Văn Sở hiểu ý chủ soái, nói lời tâng bốc và nồng nhiệt chúc mừng Vũ Văn Nhậm. Hôm sau, đứng trước hàng quân, Nguyễn Huệ ban bố tướng lệnh sẽ điều từ Phú Xuân ra cho đủ 2 vạn bộ binh cùng nhiều tướng sĩ do Vũ Văn Nhậm làm đại tướng tổng chỉ huy đội quân Tây Sơn đánh ra Bắc, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm phó tướng. Tướng Vũ Văn Dũng chỉ huy 5 ngàn thủy binh đi đường biển đến Nghệ An cũng nhập vào đại quân, chịu sự sai khiến chung của Vũ Văn Nhậm. Xong việc, ông gọi riêng Ngô Văn Sở vào dặn dò kỹ lưỡng:


- Chuyến ra quân này mười phần chắc thắng cả mười, Nhậm sẽ ngộ nhận mình tài mà không biết do ta với ngươi bàn định sẵn từ lâu tất sẽ sinh kiêu, mau chóng trở mặt. Ta cử thêm đại tướng Vũ Văn Dũng đi đường biển ra là để đề phòng Hoàng Viết Tuyển kéo quân về giúp Hữu Chỉnh thôi. Đại quân đi qua Tam Điệp cứ việc tiến thẳng vào Thăng Long, còn Vũ Văn Dũng sẽ bao vây ngăn chặn Viết Tuyển, buộc y phải án binh bất động ở Sơn Nam, sớm muộn rồi cũng phải xin hàng. Vậy sau khi vào được Thăng Long ổn định tình hình, ngươi và Phan Văn Lân đem đại bộ phận binh sĩ quay vào Nghệ An chờ ta ở đó, nói thác với Nhậm là lúc này phòng bị mặt Nam quan trọng nhất cho hắn khỏi nghi ngờ. Đợi khi Nhậm lộ rõ chân tướng, ta sẽ ra Nghệ An cùng các ngươi xử tội hắn. Nếu nó muốn trốn chạy về Quy Nhơn bằng đường biển đã có Vũ Văn Dũng dùng thủy binh đón bắt…


Quân Tây Sơn tiến ra Bắc ào ào như thác lũ, tướng Nguyễn Duật giữ thành Nghệ An chống cự không nổi phải rút về trấn Thanh Hoa cùng Ninh Tốn lập phòng tuyến ở bờ Bắc sông Mã cách sông cự địch. Họ không ngờ thủy binh Tây Sơn được Hữu Chỉnh thao luyện nay đã giỏi việc đổ bộ nên khi vào đến cửa sông nhất loạt cập vào bờ Bắc tràn lên đánh tập hậu sau lưng quân địch theo trận pháp “Lưới trời yểm trận”. Ở bờ Nam, Ngô Văn Sở sai quân vào rừng trên núi Ngọc chặt cây làm bè mảng sang sông thế như thác đổ triều dâng. Trận đánh hỗn chiến diễn ra ác liệt, Nguyễn Duật bị Ngô Văn Sở chém chết ngay tại trận. Ninh Tốn thế cùng không cự nổi đẫn hơn 2 ngàn tàn binh tháo chạy về hướng Bắc…


Ở Thăng Long, từ khi nghe tin thành Nghệ An thất thủ, triều đình vô cùng hoảng loạn. Vua Chiêu Thống nhìn các quan ngơ ngác hỏi nhau không biết có mưu kế gì chống đỡ, nhiều người nhao nhao chê trách Hữu Chỉnh không phòng bị trước. Hữu Chỉnh bực mình vỗ kiếm gắt, giặc đến nhà thì chỉ còn một cách động viên tướng sĩ xả thân mà giữ nước, cớ gì phải bàn tán trách móc, hoài nghi lẫn nhau. Nói rồi Hữu Chỉnh sai Nguyễn Như Thái đem 5 ngàn quân đi tiếp ứng cho Nguyễn Duật và Ninh Tốn, chợt nghe tin cấp báo trấn Thanh Hoa cũng vừa mất vào tay giặc, quân Tây Sơn đang hùng hổ tiến về Thăng Long. Như Thái vội vã mang quân đi tiếp ứng, giữa đường gặp Ninh Tốn từ Thanh Hoa chạy về. Hai người bàn bạc hồi lâu, Tốn bàn với Thái:


- Theo binh pháp tranh lấy cao thì được, giữ lấy hiểm thì bền. Địa thế Thanh Hoa ở mạn Bắc có dãy núi Tam Điệp là hiểm địa để bày trận ngăn giặc. Để giặc đi qua đó sẽ gặp toàn đồng bằng chúng ta khó giữ lắm…


- Lời ông nói chí phải. - Như Thái đáp.


(còn tiếp)


Nguồn: Kẻ sỹ thời loạn. Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Ngọc Tiến. NXB Phụ nữ, 2019.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »