Thế rồi hai ông gom quân lại được hơn 8 ngàn người tiến về Tam Điệp, nhưng quân thám mã đi trước quay về báo, giặc đã đi qua núi Tam Điệp rồi. Như Thái đành thở dài cùng Ninh Tốn giàn quân bày trận ở sông Gián Khẩu. Hai bên cùng cầm cự quyết liệt từ giờ Thìn đến khi chiều tối, Như Thái bồn chồn nao núng vì chưa thấy có quân tiếp viện của Hoàng Viết Tuyển. Khi trận tuyến bị vỡ, Như Thái ngửa cổ lên trời than: “Ta thà chết để đền ơn tri ngộ với Hữu Chỉnh. Minh công ơi! Chúng ta mắc mưu Nguyễn Huệ rồi, tại hạ đi đây…” Nói rồi ông rút gươm tự vẫn. Ninh Tốn chạy được vào nhà dân ẩn nấp nên thoát được.
Lúc này Hữu Chỉnh đang ngồi trong phủ chờ tin của Như Thái. Bận bịu lo việc suốt ngày nên ông mệt mỏi gục đầu xuống án thư thiu thiu ngủ. Chợt ông nghe có tiếng ai gọi mình văng vẳng trên không như tiếng của Nguyễn Như Thái. Nó âm âm mang mang nghe rợn cả người làm ông lạnh buốt sống lưng. Hữu Chỉnh giật mình ngồi dậy, biết việc đã hỏng, vội gọi Lệ Thủy và Phương Dung vào phòng, nghẹn ngào nói:
- Tình thế đang nguy cấp, kinh thành sắp rơi vào tay giặc. Phương Dung còn trẻ lại biết võ công, con hãy mau thu xếp đưa Hữu Dân cùng dì Lệ Thủy và em Hữu Quý trốn khỏi kinh thành ngay bây giờ, không được chậm trễ.
- Nhưng chạy đi đâu thưa tướng công? - Lệ Thủy vừa khóc vừa hỏi.
- Lần này nàng không về quê bên Tiên Du nữa, nguy hiểm lắm. Nàng và con hãy theo Phương Dung lên mạn Yên Dũng nương nhờ Nguyễn Khuê đang sống ở gần chùa Vĩnh Nghiêm. Đi nhanh lên đừng dùng dằng hỏi han nhiều. Ta chỉ còn hai giọt máu là con trai Hữu Quý, cháu nội Hữu Dân, cậy nhờ cả vào hai người chăm sóc chúng nó nối dõi tông đường. Đi mau, mau lên mới kịp…
Lệ Thủy và Phương Dung vừa đi khỏi, Hữu Chỉnh bàn với con trai Hữu Du:
- Cha con ta gây dựng được cơ nghiệp là nhờ có 4 tướng tài, thủy chung tình nghĩa phò giúp. Nay Duật và Thái không may tử trận, còn hai ông Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc, Hoàng Viết Tuyển ở Sơn Nam cha đã gọi rồi sao vẫn án binh bất động? Cảnh Thước giận cha vì giết con rể Nguyễn Cân còn hiểu được, nhưng Viết Tuyển thân thiết với cha nhất, tình như thủ túc, sao giờ này chưa đến, buồn thay! Giờ nước đã đến chân cha không thể không tự mình cầm quân ra trận để ngăn giặc. Vậy con nên chuẩn bị sẵn sàng đi theo cha quyết một trận sống mái với Võ Văn Nhậm. Phụ tử chi binh, nhất tâm cố đánh may ra còn vãn hồi được.
Hữu Du khẳng khái thưa:
- Sách có câu “giúp cha phải gắng sức, thờ vua phải hết mình”, huống chi trong lòng con từ cái đêm nằm bên cha nghe thuyết giảng về lịch sử kinh thành Thăng Long thì cha đã là vua nước Việt rồi, Chiêu Thống chỉ là bù nhìn rơm cha con mình mượn dùng tạm ít ngày. Con xin cha cho phép được một mình vét hết quân dự bị đi sống mái với Vũ Văn Nhậm một phen, còn cha ở lại mang 3 ngàn quân túc vệ kèm vua và các quan tạm lánh lên Kinh Bắc là nơi gần và an toàn nhất. Xưa nay gặp loạn, ai giữ được vua bên mình là có thể hiệu triệu anh hùng khắp nơi phò vua giúp nước. Con tin ông Cảnh Thước nghe tin vua đến sẽ phải cho quân ra đón rước vào thành.
- Con tính thế cũng phải, nhưng nên nhớ đừng khinh thường liều lĩnh xông vào giữa trận tìm giết thằng tiểu nhân vũ dũng vô mưu Vũ Văn Nhậm. Bên cạnh nó còn có Ngô Văn Sở là bậc dũng tướng kiêu hùng giúp Nhậm bày trận pháp liên hoàn, cha sợ con không phải là đối thủ của Sở. Con chỉ cần chọn nơi hiểm địa cầm cự nửa ngày rồi tìm cách thoát vây đi tìm cha để cùng hợp sức chiêu binh mãi mã phản kích lại mới mong vãn hồi được tình thế.
- Vâng, con sẽ nghe cha.
Hữu Chỉnh ngậm ngùi tiễn con ra trận lòng như kim đâm muối xát, lo lắng vô cùng. Ông ôm lấy Hữu Du, tròng mắt đỏ hoe, cố ghìm nén nỗi đau, cay đắng nói:
- Cha đã thua Huệ, chậm hơn ông ta một nước cờ để nỗi tan tành cơ nghiệp. Cha chủ quan tính chưa hết nước nên bị động, còn Huệ thâm trầm tính sẵn mưu kế lừa cha vào tròng nên rất chủ động. Lần này ra Bắc ông ta không cần xuất hiện bởi đã chắc thắng mười mươi, mượn tay Vũ Văn Nhậm trừ khử cha để tránh tiếng ác, nhưng cũng sẽ lừa thằng phản phúc Vũ Văn Nhậm, đợi nó ỷ thế có cha vợ hậu thuẫn quay giáo trở cờ là Huệ giết nốt. Cha con ta phải lợi dụng kẽ hở đó để mượn danh nghĩa vua hiệu triệu các nơi kéo quân về Thăng Long giết Nhậm trước Huệ mới là thượng sách. Vì thế việc an toàn của con cũng là chuyện sinh tử của cha lúc này, con nên nhớ kỹ…
Hữu Du vâng mệnh cha mang vài viên tướng cũ của Hoàng Phùng Cơ quy hàng đã được chàng thu nạp ở Sơn Tây cùng hơn 6 ngàn quân dự bị đi về hướng Nam đón đường chặn đánh đại quân của Vũ Văn Nhậm. Đến sông Thanh Quyết, Du sai đắp nhiều lũy đất dọc bờ sông để cố thủ kìm chân giặc càng lâu càng tốt, hy vọng cha mình kịp đưa vua Chiêu Thống cùng các quan trong triều chạy sang Kinh Bắc. Vũ Văn Nhậm sai bắn pháo thần công liên hồi suốt 1 canh giờ vào các lũy đất rồi cho quân tràn sang đông như kiến cỏ. Chàng và các tướng cố hết sức mình tả xung hữu đột, nhưng vì quân ít nên cũng chỉ giữ chân giặc được chừng vài canh giờ thì vỡ trận, quân sĩ chết và bị thương gần hết. Hữu Du đành nhảy lên ngựa phi nước đại tìm gặp cha. Quân Tây Sơn thắng trận ở Gián Khẩu, nhớ lời dặn của Nguyễn Huệ, Ngô Văn Sở bàn với Vũ Văn Nhậm:
- Thành Thăng Long giờ đã chắc trong tầm tay, ta nên chia quân cho Vũ Văn Dũng bao vây giữ chân Hoàng Viết Tuyển ở thành Sơn Nam Hạ và sai người đi dụ hàng Nguyễn Cảnh Thước ở thành Kinh Bắc.
Nhậm hung hăng hỏi lại:
- Diệt béng nốt hai thằng đó đi, cần gì nhiêu khê thế?
Sở cười rồi ôn tồn đáp:
- Đó là hai tướng tài, ta đánh thắng cũng hao tổn binh lực, còn nếu để một trong hai người đó giúp Chỉnh lại càng phức tạp. Dụ hàng được Cảnh Thước tất cha con Hữu Chỉnh sẽ phải bỏ chạy về trấn Sơn Nam nương nhờ Viết Tuyển, tương kế tựu kế ta đón lõng mà bắt sống mới là thượng sách. Người khôn ngoan như Chỉnh chắc sẽ không chạy theo hướng Nam đi qua đồng bằng dễ lộ. Hắn sẽ ngược lên phía Bắc đi qua Mục Sơn rồi mới men theo đường núi vòng về Sơn Nam Hạ. Ta chỉ cần một toán quân nhỏ đợi sẵn sẽ bắt sống được dễ như trở bàn tay.
Nhậm nghe lời Sở sai người đi truyền lệnh cho Vũ Văn Dũng dẫn 5 ngàn thủy binh đổ bộ vào cửa Ba Lạt rồi vây thành Sơn Nam Hạ và sai bộ tướng tâm phúc Nguyễn Hòa đem 500 quân đón lõng phục kích cha con Hữu Chỉnh từ Kinh Bắc chạy qua Mục Sơn, chỉ bắt sống chứ không được giết. Khi Hữu Du tìm gặp được cha, ông đang nôn nóng chờ người đi thuyết phục Nguyễn Cảnh Thước mở cổng thành nghênh đón vua và các quan. Hữu Chỉnh có ngờ đâu Ngô Văn Sở theo kế của Nguyễn Huệ căn dặn lúc đi nên đã nhanh chân sai người bí mật chiêu dụ Cảnh Thước hàng quân Tây Sơn chỉ cách đó nửa canh giờ. Biết tin ông chỉ còn biết ngửa cổ than rằng, ta luôn chậm so với Huệ, đành tìm cách đưa vua đi nơi khác. Một cánh quân Tây Sơn chừng 3 ngàn người do tướng Phan Văn Lân dẫn đầu từ Gián Khẩu tìm đường đi tắt lên Kinh Bắc truy đuổi Hữu Chỉnh đang đến gần khiến vua tôi nhà Lê tan tác, mạnh ai nấy chạy. Vua và 6 viên quan văn gồm có Nguyễn Đình Giản, Phan Đình Điển, Chu Doãn Lê, Võ Trinh, Trương Đăng Quý chạy về mạn Yên Dũng. Cha con Hữu Chỉnh chỉ còn lại chừng 500 quân nên bàn nhau phá vây chạy lên Mục Sơn lánh tạm ít ngày rồi tránh quân Tây Sơn, lần theo đường núi theo hình vòng cung tìm về trấn Sơn Nam hy vọng nương nhờ quan trấn thủ Hoàng Viết Tuyển. Dọc đường khi trời nhá nhem tối, hai cha con gặp ngôi đền nhỏ xây dưới chân đê liền vào đó nghỉ ngơi qua đêm. Vào đền, Hữu Chỉnh nhìn quanh thấy bàn thờ bằng gỗ quý và các đồ thờ bày biện trên đó nom còn khá mới bèn hỏi người thủ từ:
- Đền này thờ ai, tên đền là gì ? Sao ta nom mọi thứ giỏi lắm thì đền cũng chỉ mới xây được hai chục năm đổ lại là cùng?...
- Bẩm quan lớn, ngài thật tinh mắt! Đền này gọi là đền Tốc Mấn, do phú ông họ Hà trong làng cho xây mới được chừng 20 năm nay để thờ cậu con út Hà Bát chết trẻ rất thiêng, đàn bà con gái đi chợ qua đây đều rẽ vào tốc mấn lên cho cậu nhìn ngắm “cái ấy” thì mới có lộc mua nhanh bán tốt. Tôi nhà nghèo, tuổi già neo đơn không có con cái chăm sóc nên phú ông thuê tôi coi giữ đền để có miếng ăn chứ trong bụng thì nực cười về nó lắm…
Nói rồi người thủ từ kể hết lai lịch về cậu Hà Bát cho hai cha con Hữu Chỉnh nghe. Ông lắc đầu chua chát nói với Hữu Du:
- Nước nhà đến thời mạt vận nên một thằng “sinh đồ ba quan” lêu lổng, bố mẹ có tiền cũng bỗng chốc được phong thần hóa thánh, lại còn bày đặt ra mấy chuyện hoang đường, trụy lạc để lừa người mà vẫn nhiều kẻ tin theo mới lạ! Triều Lê mạt vong đến mức này mất nước là phải...
Đêm đó Hữu Chỉnh lại nằm mơ thấy cô Lữ nữ thần núi Bằng hiện về. Khác với mọi lần nằm mơ trước, lần này cô Lữ không hát bài hát ru năm xưa nữa. Cô lặng nhìn ông không nói câu gì rồi cất giọng ngâm bài thơ “Vịnh pháo” ông làm từ hồi trai trẻ đi học chữ Nho của thày đồ trong làng:
Xác không vốn những cậy tay người
Khôn khéo làm sao nữa cũng rơi
Kêu lắm lại càng tan tác lắm
Chung quy chỉ một tiếng mà thôi!
Hữu Chỉnh bừng tỉnh dậy giữa màn đêm khuya khoắt. Tiết trời mùa đông lạnh giá càng gieo vào lòng ông nỗi buồn the thắt. Không gian bốn bề im ắng, chỉ nghe vẳng tiếng côn trùng eo óc nỉ non. Từng cơn gió bấc lồng lộn thổi suốt dọc triền đê như bày sói hú. Bốn câu thơ qua giọng ngâm của cô Lữ nữ thần núi Bằng cứ ám ảnh làm ông cảm thấy đó là điềm dữ. Ông đau đớn thầm nghĩ, ta sắp chết thật rồi sao? Đời một kẻ sĩ làm được những việc kinh thiên động địa như ta chết cũng hả rồi, chẳng cần tiếc nữa. Sống lâu mà vô tích sự, chẳng thà như quả pháo tép nổ đanh một tiếng… Ông thở dài nhìn Hữu Du trong giấc ngủ vùi vì mệt nhọc âu lo, chạnh nhớ con trai Hữu Quý, cháu nội Hữu Dân đang phải cùng mẹ chúng chạy loạn nơi xa biết có còn gặp được. Thảng có lúc ông muốn cúi xuống nhìn mặt Hữu Du lần cuối rồi rút gươm tự vẫn, nhưng ông nghĩ lại và tra gươm vào vỏ. Ta chết thế này thì dễ quá mà cũng hèn và lặng lẽ quá! Nếu một mai lỡ sa vào tay thằng tiểu nhân Vũ Văn Nhậm, ta muốn chết giữa thanh thiên bạch nhật, nơi chốn đông người để nói lời cuối với thiên hạ nỗi lòng kẻ sĩ sinh bất phùng thời. Ta sẽ nói rằng mình chỉ thua vì chậm hơn Nguyễn Huệ một nước cờ. Ta cũng sẽ nói thẳng vào mặt Nhậm về cái kết cục tất yếu của đứa tiểu nhân gian xảo, tham lam, lừa thấy phản bạn như nó rồi sẽ ra sao dưới tay Huệ mưu sâu kế hiểm. Và ta sẽ như quả pháo nổ đanh một tiếng giữa trời trước khi bị thằng tiểu nhân kia phanh thây xé xác, ta cũng hả lòng…
Mờ sáng hôm sau tỉnh dậy, Hữu Chỉnh buồn rầu thấy 500 quân lính đi theo đã bỏ trốn già nửa, số còn lại đều bị thương hoặc đói rét không còn sức chiến đấu. Hữu Du động viên mọi người đã sắp đến Mục Sơn, nơi đó có trang trại của một xã trưởng người Tày mà chàng quen biết, mọi người sẽ được ăn no, nghỉ ngơi ít ngày rồi mới đi tiếp. Đoàn người thất thểu bước đi về hướng Mục Sơn, không ngờ gần đến nơi bị một toán nhỏ quân Tây sơn do Nguyễn Văn Hòa chỉ huy phục sẵn để vây bắt. Hữu Du thét mọi người bảo vệ Hữu Chỉnh, còn mình vung gươm xông xáo đi trước mở đường, chém địch như chém chuối khiến quân Tây Sơn giãn ra vì kinh sợ. Chàng bị Nguyễn Văn Hòa bắn một mũi tên trúng yết hầu ngã gục xuống đất, quân Tây Sơn thừa thắng xông vào băm nát Hữu Du cho hả cơn giận và đâm chém quân lính Bắc Hà máu loang mặt đất, tiếng kêu khóc rầm trời. Hữu Chỉnh quá đau xót nghiến răng ken két rồi hét to lên cho Hòa nghe thấy:
- Dừng tay! Không được chém giết nữa. Đều là xương máu người Việt cả sao các ngươi tàn ác thế! Ta sẽ tự hàng…
Nguyễn Văn Hòa nghe vậy cũng thấy mủi lòng, cho quân lính ngừng việc chém giết. Hữu Chỉnh lảo đảo lại gần, ôm lấy xác con trai nát bấy khóc nấc rồi ông nghiến răng trừng mắt, đưa tay cho Hòa trói lại, đóng cũi giải về kinh giao nộp chủ tướng Vũ Văn Nhậm lĩnh thưởng. Ngay sau đó, Nhậm sai đóng cọc lớn trên bãi cỏ trước cửa Đoan Môn của hoàng thành trói Chỉnh vào cột, tứ chi đều buộc dây thừng dài quàng vào cổ 4 con ngựa ô. Nhậm vốn căm tức Chỉnh từ lâu nên quyết hành hình ông thật thảm khốc giữa chốn đông người cho bõ ghét, cũng là để răn đe người Bắc Hà nào dám nổi dậy chống mình. Mọi việc chuẩn bị hành hình đã xong, Nhậm cùng các tướng mặc giáp, cưỡi ngựa ra bãi cỏ quát lớn:
- Bớ Hữu Chỉnh, tên phản phúc bất tài dám chống lại oai trời, nay bị ta bắt sống còn gì để nói nữa không?
Hữu Chỉnh điềm nhiên cười nhạt, mặt không hề biến sắc đáp lại:
- Ta thua là thua Nguyễn Huệ, chứ đứa tiểu nhân bất tài, tham lam, gian xảo như mày có làm nên việc gì đáng kể cho dân cho nước mà sớm vênh mặt làm phách!
- Ngươi chết đến đít rồi còn khua môi múa mép với ai đây, không thấy nhục với bàn dân thiên hạ hay sao?
- Một đời kẻ sĩ như ta tung hoành ngang dọc, vào Nam ra Bắc, chỉ có một khát vọng thống nhất sơn hà, độ dân cứu khổ, có gì đáng hổ thẹn! Người đáng hổ thẹn, nghìn thu không rửa sạch lời chê ý trách và lòng khinh bỉ của muôn dân bách tính phải là tên Nhậm kia! Mày chỉ là viên võ tướng hạng bét ở xó huyện đất Quảng Nam ra chợ nổi máu côn đồ giết người lương thiện, phải sống chui lủi trốn tránh quan huyện tầm nã. May nhờ gặp được Trần Quang Diệu thu nạp làm môn khách, giới thiệu mày với vua Thái Đức cho nhập vào hàng ngũ tướng lĩnh Tây Sơn. Vậy mà khi lấy được công chúa Thọ Hương, mày đã vội vong ân coi khinh ông Diệu và các vị anh hùng trong “Tây Sơn thất hổ tướng”, lại âm mưu dùng nhiều thủ đoạn đê hèn xúc xiểm vua hòng toan cướp binh quyền của Nguyễn Huệ. Một đứa tiểu nhân như mày sao so được với Bắc bình vương Nguyễn Huệ?
- Ông Huệ mang quân ra Bắc lần trước, lần này ta cũng đem quân ra Bắc toàn thắng, bắt trói mày về đây hành hình, đâu có kém cạnh gì?
- Mày thật ngu hết chỗ nói. Không có Huệ bày mưu tính kế chủ động từ trước làm sao ta chịu thua đứa vô danh tiểu tốt như mày. Trên cõi đời này, giữa thời mạt vận dân chúng lầm than, chiến chinh tàn khốc, chỉ có ta với Huệ đáng mặt anh hùng. Nay trước khi chết ta muốn nói lời cuối nhờ các tướng Tây Sơn nhắn với Huệ rằng, đã ba lần ta cùng ông ấy đàm đạo khi ở Quy Nhơn hay Phú Xuân, lúc ở Thăng Long, ta đều nhắc Huệ kẻ thù đáng sợ nhất đe dọa cơ đồ nhà Tây Sơn chính là Nguyễn Phúc Ánh. Ta mong Huệ hãy dẹp mối bất hòa với vua Thái Đức lo giúp Nguyễn Lữ tìm diệt bằng được Nguyễn Phúc Ánh thì đất nước mới sớm yên bình. Lời nhắn nhủ của ta đã hết. Hỡi Vũ Văn Nhậm! Ta đã sẵn sàng chịu hành hình, còn cái đầu của ngươi chắc không lâu cũng sẽ rơi xuống đất bởi con người kiệt hiệt Nguyễn Huệ, cứ đợi mà xem khắc biết…
Vũ Văn Nhậm gầm lên tức giận, thét võ sĩ cưỡi 4 con ngựa chạy ra 4 hướng xé xác Nguyễn Hữu Chỉnh, máu loang đầy mặt đất. Dân chúng kinh thành nhắm mắt rùng mình ghê rợn, bỏ chạy không dám ngoái nhìn. Đất trời Thăng Long trong khoảnh khắc ấy như muốn tối sầm lại. Mới vừa lập đông tiết trời hanh hao buốt giá, lẽ ra chỉ có gió Bắc thổi lộng sao trời bỗng nhiên đổi gió. Từ hướng biển Đông xuất hiện đám mây đen ùn ùn xô tới, sấm chớp liên hồi. Một trận mưa rào như trút nước đổ ập xuống kinh thành, rửa sạch hết những vũng máu trên bãi hành hình cùng với mùi tử khí tanh tưởi, tất cả tan biến vào nước, cuộn chảy về phía dòng sông của lịch sử mùa đông năm Đinh Mùi (1787). Ở xa xôi nơi chùa Vĩnh Nghiêm trên sườn núi Yên Tử mạn Yên Dũng, Thiền sư Duy Tuệ đang ngồi với Nguyễn Khuê sửa sang mộc bản dùng in kinh Pháp Hoa bỗng thấy rùng mình ớn lạnh. Thiền sư khép mắt, khai mở luân xa rồi quay sang bảo với Nguyễn Khuê: “Ta nhìn thấy một linh hồn bay ngang qua đây, xin cửa Phật mở lòng từ bi che chở cho con cháu mình. Người ấy là Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh chăng?!...”
Sau buổi hành hình Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm sai người đi tìm vua Chiêu Thống đón về kinh. Thuộc hạ tìm không thấy bẩm lại rằng, vua chạy lên Yên Dũng cùng 6 vị quan văn trung thành, được quan huyện ở đó đón tiếp chu đáo. Chiêu Thống hàng ngày ngồi nghe 6 viên quan này tranh cãi kịch liệt, người khuyên vua chạy qua biên giới cầu viện vua Càn Long của nước Đại Thanh, kẻ khuyên vua nán lại chờ tin cha con Hữu Chỉnh hoặc quay về kinh thành. Vua nghe họ bàn hoang mang không biết làm thế nào cho phải. Sau đó vua tôi họ bỏ đi mất tích. Nhậm bèn tự ý một mình dẫn vài tùy tùng đeo gươm vào hoàng cung thét gọi người dẫn chú ruột vua là Lê Duy Cận vào điện, tôn làm Giám Quốc. Từ đó Nhậm hả hê sống đời vương giả như ông vua con trong vương phủ cũ của chúa Trịnh đã được Hữu Du cho xây lại. Suốt ngày Nhậm say sưa hưởng lạc cùng rượu ngon gái đẹp. Ngô Văn Sở lựa lúc Nhậm đang vui vẻ bàn việc bố phòng mặt phía Nam, chống lại Nguyễn Huệ. Vũ Văn Nhậm vỗ đùi cười lớn nói:
- Ta lúc này khác xa khi còn ở đất Động Hải, sợ gì Huệ nữa. Vả lại ta đã sai người mang thư vào Quy Nhơn cho nàng Thọ Hương trình lên phụ hoàng chuẩn bị xuất quân đánh ra Quảng Nam. Khi ấy ta ở Nghệ An đánh vào, Huệ bị kẹp ở giữa có chạy đằng trời cũng không thoát, ông Sở đừng quá lo.
- Đành vậy, nhưng Bắc bình vương Nguyễn Huệ là bậc phi thường, chớ nên chủ quan. Chi bằng tôi với chủ soái chia quân ra phòng bị. Mặt Nam đáng lo nhất tôi và Phan Văn Lân đem hơn vạn quân vào trấn giữ Nghệ An, phối hợp với thủy binh của Vũ Văn Dũng canh giữ ngoài biển, còn lại hơn 5 ngàn quân ở lại giúp ông bình định nốt những đám nổi loạn không đáng kể. Sau này việc thành công, ông làm vua xứ Đàng Ngoài nhớ đừng quên chia phú quý cho hai chúng tôi cùng hưởng.
Vũ Văn Nhậm ngờ nghệch nghe bùi tai, đồng ý chia quân như lời Sở vừa nói. Ngô Văn Sở cùng Phan Văn Lân vào đến Nghệ An mừng thấy Nhậm đã trúng kế của chủ mình liền sai người vào Phú Xuân tâu trình lên Bắc bình vương Nguyễn Huệ. Ông đọc thư ngả người cười lớn, bảo với thuộc hạ:
- Thằng nhãi ranh lừa thày phản bạn, tham lam đểu cáng phen này chắc chết không toàn thây như Hữu Chỉnh.
Nói rồi ông lệnh cho nữ tướng Bùi Thị Xuân trong Quảng Nam dùng tượng binh thường xuyên tuần du canh giữ lãnh thổ. Thi thoảng bà vờ như voi đi lỡ bước lạc vào tận cương thổ của vua Thái Đức để thị uy. Sau đó chồng bà là Trần Quang Diệu gửi thư lên Trung ương hoàng đế ở Quy Nhơn xin lỗi đàng hoàng. Sau khi đã yên tâm mặt phía Nam, Nguyễn Huệ lập tức phi ngựa ra thẳng Nghệ An. Ông bảo hai tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân rằng, ta sẽ đi ngựa một mình ra tận Thăng Long giết Vũ Văn Nhậm, quân Tây Sơn ngoài đó ai cũng sợ ta tất không dám cản. Hai ngươi mang quân theo sau chỉ dùng vào việc bố phòng, lo đánh giặc phương Bắc nếu Chiêu Thống cầu cứu Đại Thanh thôi, không cần gì phải lo cho ta đâu. Ngô Văn Sở không yên tâm xin dẫn 100 dũng sĩ cưỡi ngựa đi theo, ông cười hài lòng về sự trung thành của Sở, nói ngắn gọn hai tiếng: “Cũng được”. Đoàn người ngựa phi như gió lốc ra Thăng Long vó ngựa khua giòn, bụi bay đầy đường khiến dân chúng đều ngơ ngác dạt ra nhường lối không hiểu có chuyện gì. Tới nơi, trời đã gần rạng sáng. Nguyễn Huệ thét gọi quân canh mở cổng thành cho Bắc bình vương của chúng bay vào có việc gấp. Lúc này Vũ Văn Nhậm đang ngủ say cùng hai ả kỹ nữ lõa lồ hai bên. Nguyễn Huệ vào phủ, xông thẳng đến bên giường ngủ vung gươm chém Nhậm đứt lìa thân xác làm đôi, sau đó mới quay ra triệu tập các tướng luận tội mưu phản của Nhậm. Giờ Thìn hôm đó, Nguyễn Huệ sai người lập một hương án nhỏ tại nơi đóng cọc hành hình Hữu Chỉnh, trên bàn chỉ có bát nhang nghi ngút khói và một đĩa hoa tươi. Đích thân Bắc bình vương Nguyễn Huệ mặc giáp trụ oai phong lẫm liệt, đứng trước hương án khấn rằng: - Ta với ông Chỉnh vốn chẳng thù hằn gì nhau, đều có chung ước nguyện thống nhất sơn hà, độ dân cứu khổ. Ngặt nỗi lẽ đời trong một cánh rừng không thể có hai hổ cùng làm chúa sơn lâm nên Huệ còn thì Chỉnh phải chết. Mấy lời ông nhắn gửi trong lúc bị thằng tiểu nhân Võ Văn Nhậm phanh thây ta sẽ ghi nhận giữ ở trong lòng. Nếu ông có khôn thiêng đừng trách ta xử tệ và hãy phù hộ cho nước Việt hết cảnh loạn ly, dân chúng an cư lạc nghiệp, non nước thái bình…
Thắp nhang khấn vái xong, Nguyễn Huệ quay sang Ngô Văn Sở và các tướng Tây Sơn dõng dạc nói:
- Cha con Hữu Chỉnh với nhà Tây Sơn xét cho cùng là công 7 tội 3 thôi. Nay truyền lệnh ta cho ba quân và bách tính rõ, Bắc bình vương Nguyễn Huệ sẽ miễn tội cho gia quyến, thân tộc của Hữu Chỉnh không cần tầm nã truy sát nữa. Những người trước đây lỡ theo Chỉnh, ai tình nguyện quy thuận Tây Sơn sẽ được thu nạp, tùy tài sử dụng. Còn ai không muốn theo quân Tây Sơn, ta cũng sẽ tha tội cho họ về quê làm ăn sinh sống để tỏ rõ uy trời, nêu cao đại nghĩa gắn kết lòng dân quy về một mối…
Các tướng nghe vậy cùng quỳ xuống đồng loạt hô to: “Bắc bình vương anh minh thiên tuế!” Dân chúng khắp kinh thành nghe tin mừng rỡ bảo nhau, cứ ngỡ ông Huệ sinh ở xó rừng Tây Sơn không được giáo hóa, giờ mới rõ ông ấy là bậc anh hùng kiệt xuất lại rất nhân từ độ lượng. Đến chiều ngày rằm tháng chạp năm Đinh Mùi (1787), Phan Văn Lân kịp đưa quân ra dự cuộc khai hội các tướng lĩnh Tây Sơn họp mặt ở Thăng Long. Nguyễn Huệ cao hứng mở tiệc mừng công khao thưởng quân sĩ và cắt cử các tướng đi trấn giữ ở những địa bàn xung yếu. Ông vào hoàng thành ra mắt quan Giám Quốc, chuyển lời thăm hỏi của công chúa Ngọc Hân tới anh ruột Lê Duy Cận và các quan trong triều. Sau đó ông nhờ Duy Cận thay mặt vua Chiêu Thống treo bảng cầu hiền tài ra giúp nước. Sĩ phu các nơi thấy Nguyễn Huệ cư xử đàng hoàng với Hữu Chỉnh giữa thanh thiên bạch nhật như vậy, yên tâm rủ nhau kéo về kinh thành rất đông, trong đó có danh sĩ Ngô Thì Nhậm và nhiều bậc tài năng khác. Trước lúc rời kinh thành về Phú Xuân, Nguyễn Huệ gọi riêng hai người là Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm dặn rằng, nếu quân Thanh theo lời cầu viện của Chiêu Thống kéo sang, quân ta chỉ đánh cầm chừng tiêu hao lực lượng của giặc rồi rút hết về Tam Điệp chờ lệnh. Trên đường vào Nam, ông dừng lại ở phủ Đức Quang, trấn Nghệ An rồi cho người đi mời thêm danh sĩ Nguyễn Thiếp cùng theo mình về Phú Xuân, nhưng La Sơn phu tử từ chối, chỉ hứa sẽ xuống núi nhập thế giúp đời nếu quân Thanh sang xâm lược…
Cũng trong tháng chạp năm ấy, đại lão Thiền sư Duy Tuệ dẫn theo ni cô Diệu Hường và đoàn chư tăng, phật tử chùa Vĩnh Nghiêm về kinh đô lập đàn cầu siêu cho các linh hồn tử sĩ của cả hai bên trong cuộc chiến tàn khốc ở ngay nơi hành hình Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Có người nhận ra ni cô Diệu Hường chính là nàng Lệ Thủy đã gửi con trai Hữu Quý cho Nguyễn Khuê và Phương Dung nuôi dạy để vào chùa xuống tóc quy y tam bảo. Sau lễ cầu siêu kéo dài 7 ngày, ni cô Diệu Hường vận bộ đồ tu hành nâu sồng, đội khăn và khoác tay nải màu nâu, chống gậy đi bộ về làng Cổ Đan gặp bà Thu Cúc. Hai người vợ ôm nhau than khóc rồi lập đàn chay cúng tế Hữu Chỉnh và Hữu Du, người chồng, người con trưởng phận bạc vừa mới qua đời. Bát nhang trên bàn thờ bỗng nhiên bốc cháy, khói nhang nghi ngút xông vào tròng mắt khiến hai gương mặt đàn bà một già một trẻ đều đẫm lệ, chảy giàn giụa mãi không sao ngừng được. Hình như trong lệ có máu!...”
***
Duy Thiện mê mải ngày đêm viết bằng xong chương cuối. Ông như người nhập đồng không còn thiết gì đến xung quanh, ngồi lỳ bên bàn phím làm việc từ mờ sáng đến tối, ăn uống qua loa rồi lại ngồi viết trắng đêm, đến khi gõ xong chữ cuối cùng trong bản thảo nhìn vào đồng hồ báo giờ trên laptop thì đã là 10 giờ sáng hôm sau. Ông đóng máy vươn vai thở đều rồi đi bài “Vạn bộ trường sinh” đủ 30 bộ cho giãn xương cốt, sau đó đi tắm rửa, ăn bữa cơm trưa và ngủ liền một mạch đến 12 giờ đêm mới tỉnh giấc. Trong khoảng thời gian mấy chục tiếng đồng hồ ông say sưa làm việc, Hoàng Lan thi thoảng lại gần bàn nhìn ông ái ngại xót xa, lo lắng cho sức khỏe của người yêu. Bà cũng là nghệ sĩ cỡ lớn trong làng Piano thế giới nên rất hiểu tâm trạng của người sáng tác khi đang “nhập đồng”. Bởi thế Hoàng Lan chỉ còn biết âm thầm chăm sóc Duy Thiện. Ban ngày, tới bữa bà bưng cho ông thức ăn nguội bổ dưỡng đặt trên bàn, pha sẵn cho ông khi ấm trà sen, lúc tách cafe sữa nóng. Đêm xuống, bà hấp một củ sâm Cao Ly cho mềm rồi thái từng lát mỏng cho vào hộp để sẵn bên máy laptop, ủ sẵn cho ông ấm trà trong chiếc phích giữ nhiệt, xong xuôi mới chịu đi nằm, nhưng trằn trọc mãi mới nhắm mắt được vì thương người mình yêu vất vả, làm việc quá sức. Vào lúc nửa đêm hôm sau khi ông tỉnh giấc, bà ôm chầm lấy ông hỏi han tíu tít. Ông nhìn bà âu yếm, bảo anh khỏe hẳn rồi, đừng lo gì cả. Lúc ấy bà mới bật khóc, trách ông sao nỡ để bà lo lắng thót tim chờ ông tỉnh giấc. Bà định ngồi dậy nấu cái gì đó cho ông ăn đêm, nhưng ông ngăn lại, vuốt má rồi ôm bà đầy lòng biết ơn. Bà nhìn vào mắt ông, rưng rưng nói:
- Chúng mình nhiều tuổi rồi, làm việc phải điều độ chứ không được cố. Sức khỏe của anh bây giờ mới là niềm vui, hạnh phúc của đời em…
Hoàng Lan nghiêng người, luồn cánh tay trần cho ông gối đầu, tay kia mơn man vồng ngực đã trở nên đầy đặn sau nhiều ngày được bà chăm sóc. Bà thủ thỉ bên tai ông kể những chuyện vui của những ngày cùng mẹ Hà, anh Thiếu Khanh đoàn tụ ở Paris, rồi cuộc gặp gỡ tình cờ với David Brown sau lần bà biểu diễn độc tấu Piano giữa hàng ngàn khán giả yêu nhạc cổ điển trong nhà hát quốc gia Pháp. Bà kể ông nghe, sau lần gặp ấy bà trở thành phu nhân Brown với bao chuyện vui khác bên người chồng mê nhạc cổ điển ở tận bên kia bán cầu, nhưng bà cũng dần phải từ chối các chuyến lưu diễn ở thủ đô nhiều quốc gia trên thế giới theo lời mời của họ. Bù vào đó là những chuyến cùng chồng tới các vùng miền, quốc gia lạc hậu làm từ thiện ở châu Phi, châu Mỹ La tinh và cả mấy nước nghèo ở Nam Á nữa. Mỗi lần đi như thế bà lại nhớ quê hương, nhớ người yêu cũ với bao kỷ niệm êm đềm của mối tình đầu đầy thơ mộng mà cũng lắm trái ngang. Cứ thế bà kể hết chuyện này sang chuyện khác thay lời hát ru cho ông ngủ tiếp rồi bà mới chịu chợp mắt…
Sớm hôm sau trời nổi cơn mùa phùn gió bấc, buốt lạnh thấu xương. Phó chủ tịch tỉnh H Nguyễn Thành Trung và thư ký Quốc Trọng đưa người của đoàn thanh tra liên ngành đến làm việc như đã hẹn. Ông trưởng đoàn Thanh tra cẩn thận đưa giấy giới thiệu và tờ cam kết chỉ làm việc một lần duy nhất với ông Nguyễn Duy Thiện về những tư liệu quan trọng ông đã gửi cho đoàn qua phó chủ tịch Trung. Hoàng Lan lịch sự cám ơn rồi xin phép lui vào phòng làm việc, nhường gian tiếp khách cho mọi người. Tuy thế, bà vẫn phải đề phòng mọi bất trắc cho Thiện nên đã cài sẵn máy ghi âm trong chiếc bình gốm sứ Bát Tràng màu nâu, men rạn có hình dáng chiếc thuyền nan cách điệu, trong lòng “thuyền” cắm 100 bông hoa tỉ muội nhiều màu sặc sỡ trên nền cát ẩm, đặt ở bàn uống trà. Cuộc làm việc diễn ra thoải mái, chân tình và nhanh gọn trong vòng hai giờ đồng hồ. Nội dung làm việc chủ yếu xoay quanh các con số và sự kiện Duy Thiện đã điều tra, ghi chép từ 8 năm trước. Họ đặt câu hỏi, còn Thiện trả lời dứt khoát, ngắn gọn bằng những nhận xét, suy luận hoặc giải thích kỹ hơn so với những gì ông đã viết trên văn bản. Cách làm việc khoa học này do Trung và Hoàng Lan đã bàn kỹ với nhau nên không khí ít căng thẳng, đôi lúc mọi người nói cười thoải mái, trao đổi thêm với nhau trên tình bầu bạn chân thành, đầy trách nhiệm. Ông trưởng đoàn mời các thành viên cùng nhân chứng ký tên vào biên bản, cám ơn Duy Thiện và Hoàng Lan về sự phối hợp tích cực, có hiệu quả…
Tiễn đoàn ra về, Hoàng Lan lịch sự xin phép ông trưởng đoàn cho Trung ở lại để chị em trò chuyện việc riêng của gia đình. Đợi hai chị em hàn huyên một lúc lâu, Thiện giả lả cười vui, kéo Trung lên tầng 3, vào phòng khép cửa nói nhỏ:
- Chú Trung cứ yên tâm, nếu cần phải làm việc thêm, anh em mình sẽ có cách gặp nhau khéo léo cho chị Lan đỡ lo. Anh đã viết xong chương cuối cuốn sách về cụ tổ họ Nguyễn Hữu Chỉnh rồi. Vì cuộc đấu tranh với tập đoàn tham nhũng tỉnh H, anh sẽ dấn thân đến cùng.
- Được vậy thì tốt quá! Em và nhân dân trong tỉnh biết ơn anh nhiều!
- Ơn huệ gì cho nó khách sáo. Anh chỉ nhắc Trung hết sức đề phòng bọn nó “chó cùng cắn giậu”, nguy hiểm cho chú lắm. Anh vừa viết xong chương sách về khúc bi tráng cuối cuộc đời của cụ tổ, bỗng dưng liên tưởng đến chú Trung mà lòng thấy nôn nao, lo chú bị chúng nó gài bẫy bằng mưu kế hiểm độc và đê tiện, không thể xem thường được đâu. Mình ngoài ánh sáng còn chúng nó nấp trong bóng tối, lỡ có chuyện gì rất khó đỡ đòn.
- Vâng, em sẽ ghi nhớ lời anh Thiện dặn hôm nay.
- Còn việc này nữa, chú phải làm ngay việc lưu trữ trên mạng tất cả hồ sơ mật, chỉ có chú và thư ký Quốc Trọng biết cách khôi phục và tải về. Đừng chậm trễ, Trung nhé!
- Vâng em đã làm rồi, nhưng sẽ kiểm tra lại xem còn thiếu gì hoặc có phát sinh mới sẽ lập tức bổ sung. Giờ công việc đã gần hoàn tất em mới thú thật với anh Thiện, lâu nay em dám làm và làm được như vậy là nhờ có chỗ dựa là bác Bí thư. Ông ấy là người thanh sạch, có trí tuệ xứng danh kẻ sĩ Bắc Hà. Từ lâu ông ấy đã muốn diệt lũ sâu mọt, nhưng nhiệm kỳ trước ông thân đơn thế cô đành cắn răng nuốt hận nhìn bọn chúng tác yêu tác quái mà lực bất tòng tâm, uất đến chảy máu mắt, ứa lệ giữa hội trường. Sang đầu nhiệm kỳ này ông ấy xin em về để anh em hợp sức làm trong sạch đội ngũ, chấn hưng tỉnh H. Em tin mọi việc sẽ thành công cho dân đỡ khổ, tỉnh nhà rộng đường phát triển...
Tiễn Trung ra về, lòng Thiện thấy nhẹ như trút được gánh nặng đeo đẳng bao năm ròng. Dẫu vậy ông vẫn phấp phỏng một nỗi lo mông lung, khó đoán trước điều gì sẽ xảy ra bất ngờ với Trung mà ông yêu quý như em trai ruột của mình. Hoàng Lan đến sau lưng quàng tay lên vai, áp má vào gáy ông, thì thầm:
- Ơn giời mọi việc thế là tốt đẹp! Trung bảo, chỉ còn đợi kết luận thanh tra vài hôm nữa thôi. Em cũng mừng cho anh và dân tỉnh H…
***
Biệt phủ của cha con ông chủ tịch Hưng hôm nay đông khách nườm nượp từ khắp nơi đổ về. Ô tô loại sang đủ các nhãn hiệu đậu kín từ trên mặt đê qua đền Tốc Mấn rồi rẽ vào trung tâm làng Cù, nếu ai tò mò đếm chắc cũng không dưới 100 chiếc. Năm nào cũng vậy, đến ngày giỗ cụ cao tằng tổ tỉ họ Trịnh bên nội, họ Hà bên ngoại, trong biệt phủ đều tổ chức cúng bái, tiệc tùng linh đình hàng trăm mâm cỗ. Năm nay tiệc tùng càng to bởi con trai Trịnh Đình Hòe của ông được một đại gia trong Tây Nguyên chở ra biếu một khối đá ngọc nặng cỡ chục tấn có hình con chim đại bàng, mài bóng cho nổi các đường vân rất đẹp mắt, đặt ở giữa sân biệt phủ. Để vận chuyển khối đá ngọc này vượt chặng đường gần 2 ngàn cây số vô cùng tốn kém. Đã thế, khi tới con đường rẽ vào làng trước cửa Viện tâm thần, xe tải cỡ lớn có cần cẩu tự hành không đi được, phải dùng các con lăn bằng thép, với hai chục người lực lưỡng dùng xà beng bắn và lái đi đúng hướng vất vả gần cả ngày trời mới hoàn thành công việc. Nghe đồn, khối đá ngọc kỳ vĩ này có người trả 20 tỷ đồng mà đại gia không thèm bán, chỉ dành tặng ông Hòe, thực chất là biếu ông Hưng, chủ tịch tỉnh H. Tiệc tùng lu bù suốt cả ngày giỗ tổ họ Trịnh, tối đến là công việc tế nhị của bà chủ tịch và cô con dâu ngồi kiểm đếm phong bì đủ thứ tiền USD, tiền Euro và tiền “ta” từng xấp dầy loại 500 ngàn.
Lúc này, khi khách đã về hết, ông Hưng mới triệu tập cuộc họp kín chỉ gồm thêm 4 người họ Trịnh tỉnh H: “Thượng thư Bộ Tài” Trịnh Đình Hòe, con trai ông Hưng; “Thượng thư Bộ Binh” Trịnh Đình Hùng, cháu ruột ông; “Thượng thư Bộ Lại” Trịnh Đình Hải, em con ông chú; và đặc biệt là “Tể tướng” Bố Già. Gã này họ Hà chứ không phải họ Trịnh, nhưng quyền hành chỉ sau ông Hưng, dân xã hội đen sợ như cọp nên không gọi tên thật mà truyền miệng gọi là Bố Già. Bố Già không nắm chức vụ gì trong tỉnh H và huyện P. Gã chỉ làm quân sư quạt mo cho ông Hưng điều hành đám quan chức họ Trịnh và là ông chủ giấu mặt của hai doanh nghiệp lớn về đầu tư xây dựng cầu đường theo hình thức BOT, kinh doanh bất động sản và ngân hàng cổ phần Đồng Thịnh. Đi đâu gã cũng ăn mặc chải chuốt, mang kính gọng vàng, một tay đeo nhẫn kim cương và tay kia đeo đồng hồ bạc tỷ. Gã ra vào các cơ quan tỉnh như chỗ không người, ho một tiếng đã có kẻ sợ vãi tè.
(còn tiếp)
Nguồn: Kẻ sỹ thời loạn. Tiểu thuyết lịch sử của Vũ Ngọc Tiến. NXB Phụ nữ, 2019.
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
|