Mục Lôi gọi to, hy vọng trong bãi cói sậy có người nghe thấy sẽ nhảy lên thuyền bơi lại. Anh ta bảo chiếc thuyền kia không có chủ, ai muốn đến thì tự chống thuyền mà đến, ai định đi thì tự chèo mà đi. Tiếng gọi đập vào vách núi bờ bên kia vọng trở lại, con thuyền vẫn neo tại chỗ, không hề nhúc nhích. Cậu tôi đột nhiên hỏi:
Nát Đầu ơi, lần đến đây càn sói, cậu có mặt không nhỉ?
Mục Lôi đáp:
Không ạ!
Cậu không nói gì nữa.
Cậu định nói việc gì vậy?
Tôi hỏ một câu, nhưng cậu lại chỉ vào một cây trên đỉnh đào, một cây đứng lẻ loi, bảo ở đấy đã từng là một ổ sói, ba con sói trong một ổ, đều là sói cái. Không phải con sói nào cũng có dáng hung ác, ba con sói này có dáng cáo, lông trắng như tuyết, bên mắt có một vòng tron đen nhỏ xíu, coi như một nét kẻ mắt, mịn màng đều đặn, còn đẹp hơn nét vẽ ở mắt các cô gái Châu Thành. Nhưng năm nào cũng có một hai lần, không biết từ đâu kéo về đây mười mấy con sói, cứ y như về lễ bái hoặc họp hành, những con sói này con nào cũng đem theo lễ vật, không phải cừu lợn, thì gà, dân chúng sợ tới mứctrong thung lũng có mười gia đình thì bỏ đi tám. Đội săn bắn sói đã tiến hành một trận càn sói, đánh chết ba con sói cái kia, khi phá hủy ổ sói ở dưới cây độc lập, thì ở trong hang đều là xương lợn, xương cừu và quần áo lông tóc của người, lạ lùng thay còn có một con lợn sống và một đứa trẻ sơ sinh.
Đứa trẻ sơ sinh ư?
Truyện của cậu có vẻ hoang đường, tôi không cảm thấy dợn người, mà có phần đáng cười, nhưng nét mặt cậu nghiêm túc.
Chuyện là thế này – Cậu tôi kể – Cậu sai Thành Nghĩa bế đứa bé xuống núi cho người ta nhận nuôi. Thành Nghĩa đòi người nhận nuôi hai trăm đồng, cậu đã mắng anh ta một trận, đem tiền trả lại.
Chuyện này có thật sao? Tôi hét lên – Sói đã tha đứa trẻ và mẹ nó về hang ư? Tại sao chúng không ăn thịt đứa trẻ con?
Chuyện ấy thì ai biết cơ chứ! Chắc chắn đứa trẻ đã bú sữa của sói mà sống, đứa bé để trần truồng, trên người cũng mọc lông.
Đứa trẻ bây giờ thế nào rồi?
Nó chính là đứa con thứ tám của bà già chết ở thôn bản lúc nãy.
Tôi nhảy quớ lên, oán trách cậu tại sao vừa giờ không nói! Trẻ con nuôi bằng sửa sói, rút cuộc lớn lên giống người hay giống sói? Đây là những chuyện lạ lùng biết chừng nào, nếu chụp cho cậu bé ấy một tấm ảnh thì có ý nghĩa biết bao nhiêu. Tôi lập tức yêu cầu quay trở lại, nhưng cậu tôi không tán thành, lại còn hối hận đã lắm mờm nhắc lại chuyện cũ.
Người con thứ tám không ở nhà, đi làm thuê ở nơi khác, có ma mới biết bao giờ về!
Tôi vận động Mục Lôi nói giúp, cho dù không chụp được người con thứ tám, thì cũng có thể chụp cho bà cụ Uông một tấm ảnh để lại. Nhưng Mục Lôi đã dảy nẩy lên:
Người chết rồi anh còn chụp, anh để những người chịu tang nện chúng ta à?
Anh ta ôm bụng kêu buồn ỉa, xách quần đi ra đằng sau vách đá. Tôi đành phải bỏ ý định quay lại thôn bản, đi theo cậu. Lại đi được bảy tám dặm, ngẩng đầu lên vẫn nhìn thấy cây độc lập trên sườn núi, lại nhìn xuống thung lũng bên này sông, một vài ngôi nhà bỏ hoang đều sập nóc, chơ vơ ba bức tường bốn bức tường phơi ra dó, còn có cả cối xay mâm xay hòn đá kéo lúa. Đây chẳng phải là những gia đình bỏ đi ngày nào ư? Một bầy quạ đen lượn thành vòng tròn trên bầu trời, con đầu đàn lại từ trong vòng tròn bay ra, giống như tập biểu diễn thái cực đồ. Cậu tôi giặn: Giữ cẩn thận lương khô! Mục Lôi ôm túi vải đựng bánh bao vào lòng, đề phòng quạ đen tha mất. Nhưng qụa đen không bay đến chỗ chúng tôi, đã à à sà xuống đậu trên những hòn đá kéo lúa và cối xay kêu quang quác, trời đã chuyển dần sang hoàng hôn.
Đi trong khe núi rất vất vả, nhất là đối với tôi, quen đi đường nhựa trong thành phố, chân bước thấp. Nhưng bây giờ vì nhấc chân thấp quá thường hay vấp, đầu ngón chân va vào hòn đá trên lối đi, đầu tiên là toạc móng chân cái bên trái, cấu lá thầu dầu nhai đắp vào buộc cẩn thận, sau đó chỗ đau lại va toét lần nữa, đau tới mức tôi cứ ôm chân nhảy lò cò, khóc dở mếu dở, híh thở khí lạnh phì phò như kéo bễ. Nhưng Mục Lôi lại cười, còn hỏi:
Ăn gì thế, ăn thứ gì ngon thế?
Cậu mắng anh ta một câu, anh ta cúi xuống bóp chân cho tôi bảo:
Ngừơi thành phố làm nũng, chân còn cách tim xa,không chết được!
Đau đớn đã qua đi, toàn thân tôi vã mồ hôi, mệt rã rời, một chút sức lực cũng không có. Cậu nhìn tôi bằng ánh mắt bất lực không biết làm thế nào, đành phải bảo ngồi xuống nghỉ.
Mục Lôi dắt con Phú Quí ra tắm ở suối nhỏ ngã ba thung lũng. Anh ta bảo phải tắm cho con Phú Quí đen thành Phú Quí trắng, vừa dằn ngửa con Phú Quí lên hòn đá cạnh suối anh ta đã nêu ra với tôi một câu hỏi: Hai con rùa đen lẹo nhau bên suối, lẹo nhau xong, con rùa đực bò lên đi, con rùa cái vẫn ngửa mặt lên trời nằm tại đó, theo anh thì tại sao con rùa cáo vẫn không dậy? Tôi bảo con rùa cái đang hồi tưởng lại khoái cảm, anh ta nói không đúng, tôi bảo có phải còn thòm thèm muốn làm một quắn nữa, anh ta lắc lắc đầu, nào ngờ vừa lắc đầu thì cơn đau đầu tái phát, hai tay vừa ôm đầu, con mèo Thúy Hoa liền phát hiện, lao đến như một mũi tên, dùng hai chân chải đầu cho anh ta, rõ ràng cơn đau không đỡ, sắc mặt anh nhợt nhạt, huyết quản ở trên trán nổi lên như con giun, anh ta gọi:
Đội trưởng ơi, đội trưởng đến vỗ đầu cho em đi.
Cậu tôi tìm thuốc giãm đau trong ba lô của anh ta, Nát Đầu đã uống hai viên, gục xuống cạnh suối uống hớp nước nuốt vào, cậu tôi liền giơ mu bàn tay đập bồm bộp như bằm thịt. Mỗi lần cậu tôi đập qua đập lại, tôi đều cảm thấy đập vào đầu mình, tôi cứ lo lo đập mãi đập mãi sẽ vỡ vỏ não. Mục Lôi đáng thương lại còn thúc giục: Mạnh vào, mạnh vào, như thế, như thế! Mãi cho tới lúc đỡ đau, sắc mặt đỏ dần đỏ dần, Mục Lôi nháy nháy mắt với tôi nói:
Anh dốt quá, con rùa cái không dậy là vì chẳng có ai lật mu cho nó.
Cậu tôi dẫy anh ta một cái ngã kềnh.
Xem chừng hôm nay khó lòng vươt qua được trái núi Hoàng Hoa trước mặt, không vượt nổi núi Hoàng Hoa, thì đêm phải ngủ trên võng trong rừng ư, bánh bao có ba cái thì vừa ăn rồi, bụng đói đành phải chờ ngày mai, lúc nào đó tìm được thức ăn đã chứ! Tôi không ngờ công việc chụp ảnh cho mười lăm con sói lại gian khổ đến thế, nhưng tôi không thể có một chút oán trách và biếng nhác. Bởio vì cậu tôi và Mục Lôi đều đang dẫn tôi đi. Trong cảnh chiều hôm, nhìn trên dốc núi có một con đường mòn trắng xóa như sợi dây thừng nhỏ, kéo dài suốt từ chỗ hõm nửa dốc rủ thẳng xuống đáy thung lũng, tôi nghĩ sợi thừng nhỏ này từ trên trời rơi xuống chăng. Nếu nửa sợi thừng buộc vào chúng tôi, thì quăng một phát, chúng tôi sẽ sang bên kia núi Hoàng Hoa, có lẽ sợi dây thả xuống một con gà quay, một rổ bánh bao. Qủa nhiên, trên sợi dây có một con gà quay, tôi kêu toáng lên một tiếng Ô, nhìn kỹ ra, lại là một người, gùi cái thùng gỗ to đang đi xuống, chân vòng kiềng, chao chao đảo đảo, lúc nào cũng có thể lăn cồng cộc xuống. Tôi vẫy gọi:
Này, này!
Người đó ngẩng đầu lên nhìn tôi, cứ nhìn trân trân, nhìn một lúc, không kêu lên ngạc nhiên, mà hí hí cười ngây dại với tôi. Tôi hỏi Mục Lôi:
Anh ta ốm à?
Mục Lôi đáp:
Có mà anh ấy ốm, người ta hớn hở chào hỏi anh đấy.
Qủa nhiên người ấy đang nói:
Đến nhà tôi chứ?
Cậu tôi hỏi:
Nhà anh ở hõm dốc phải không?
Người ấy gật gật đầu, nhìn giầy ở chân chúng tôi.
Trong nhà có gì ăn không?
Vẫn là gật đầu, nhìn giầy ở chân chúng tôi. Trong ba chúng tôi, trừ cậu đi giầy đay ra, tôi và Mục Lôi đều đi giầy da, không có chỗ nào đặc biệt.
Tôi biết người miền núi hiếu khách, nhưng tôi không ngờ anh chàng chân vòng kiềng này, ngay đến chúng tôi là ai, đến làm gì cũng không hỏi, liền mời luôn về nhà, thường nghe nói có một số tù nhân chạy trốn trên người không có một xu, vẫn ẩn náu lâu dài trong núi sâu, có thể là ẩn náu như thế này chăng? Chúng tôi theo anh chàng chân vòng kiềng kín nước ở bờ suối rồi lên dốc. Leo tới một sườn dốc hình cánh cung, trong chỗ lõm vào của sườn dốc có một ngôi nhà, không xây tường sân, phía trước là bãi rộng, phía đông có một đống rơm, phía tây có một cối xay bằng đá, còn ruộng bậc thang hình nửa tròn xây đá thì cứ thấp dần từng lớp từng lớp theo địa thế, giống như chiếc vẩy cá khổng lồ. Tôi vui vẻ nhìn phong cảnh đẹp, còn chủ nhà thì cứ nhìn vào giầy của chúng tôi, tỏ vẻ nghi ngờ.
Mời chúng tôi đến lại không muốn để chúng tôi vào nhà anh ư?
Các anh chưa đến nhà tôi lần nào nhỉ?
Chưa!
Chưa đến bao giờ thì được – Anh chàng chân vòng kiềng nói – Tôi làm việc cả ngày tối đến mệt lử, nửa đêm thức dậy đi dải, dưới giường lò thường thấy có giầy cỏ của tôi, giầy hoa của vợ, còn có một đôi giầy cao su vàng, tôi liền …
Cậu tôi bảo:
Có lẽ đêm khuya anh hoa mắt chăng?
Hoa mắt một lần, chứ ba lần bốn lần đều hoa mắt hay sao?
Tôi và Mục Lôi cười hì hì. Mục Lôi khẻ nói:
Đó là giầy của tôi đấy!
Tôi vội vàng bịt cái mồm thối của anh ta, bảo:
Anh nhìn cho kỷ chúng tôi không có ai đi giầy cao su màu vàng.
Anh chàng chân vòng kiềng liền cười hì hì:
Các anh không phải giầy cao su màu vàng.
Anh ta dẫn chúng tôi qua đống rơm rạ quây xấn trên ba cây chụm lại, tôi liền trông thấy một người đàn bà đầu bù tóc rối ngồi trên cái đôn gỗ ở chái nhà, thế đất cao, ráng chiều của mặt trời lặn vẫn còn chiếu một vệt, chị ta đang vạch áo bắt rận. Nghe thấy tiếng bước chân, đầu không ngẩng lên, nói the thé:
Lão Tuyền ơi, Lão Tuyền, nước dãi trong thùng có dòi rồi sao anh không đổ đi?
Anh chàng chân vòng kiềng nói:
Nhà có khách.
Người đàn bà lúc này mới ngẩng lên nhìn chúng tôi, hỏi:
Nhà có khách à?
Chị ta vén quần lên gải ngứa sồn sột, chân vừa đen vừa thô, những thứ như vẩy trấu bay trong ráng chiều. Anh chồng bảo:
Khách đến rồi, bưng một đĩa bánh bao, nấu một bát dưa chua, nhà còn mỡ lợn phải không, chiên lên nhé!
Chị vợ nói:
Làm gì có mỡ lợn, anh có giỏi thì đi kiếm mỡ lợn về đây.
Anh chồng vội vàng lấy cái làn nhỏ đựng hạt thầu dầu trên cái mẹt ở hiên trước nhà, bóc mười mấy hạt đi vào trong nhà đốt chảo. Chị vợ nhìn Mục Lôi cười, bảo anh ta ngồi xuống ngưỡng cửa, đưa túi thuốc của chồng treo trên then cửa cho Mục Lôi hút, Mục Lôi không hút, chị ta lại gọi chồng:
Lão Tuyền ơi, lão Tuyền, cái lược nhà mình để đâu nhỉ?
Anh chồng lại cầm lược đưa cho vợ, rồi vơ một bó củi đi vào nhà. Chị vợ chải mái tóc rối bù xù của mình, luôn luôn nhổ bọt bôi lên tóc. Tôi khe khẻ hỏi Mục Lôi:
Chị ấy gọi chồng là Lão Tuyền, lão Tuyền là gì nhỉ?
Mục Lôi đáp:
Anh không biết Tuyền đâu, tinh dịch đấy, chủi mà lị, cộng thêm chữ Lão là người chồng già.
Tôi nói:
Ồ, anh ấy đâu đã già.
Nhưng chị ấy đã nghe thấy và bảo:
Hơn tôi những mười lăm tuổi mà không già ư? Anh ấy mười lăm tuổi cao thế này này – chị ta đưa tay chỉ vào vai của Mục Lôi – còn em mới lên một.
Anh chồng đã bưng đĩa bánh bao ra, nói:
Cô này, cô …
Chị vợ cướp lời:
Tôi làm sao nào, anh chòn không coi là già ư? Vương Sinh không chết thì tôi đâu đến được giường lò của anh?
Chị vợ này chua ngoa, chúng tôi không nói nhiều nữa, tiếp đó dưa chua, nước tương nấu xong cũng đã bưng ra, còn bưng ra hẳn một con gà chưng, nhưng là gà khắc gỗ, gõ kêu cốc cốc. Bánh bao hấp bột đen, to tổ bố, trên bánh in rõ đường vân tay. Mục Lôi còn bảo:
Ông chủ có phúc, vân tay tròn hình cái đấu.
Chị vợ nhanh nhảu bảo:
Đó là vân tay của em, anh nhìn này, mười ngón tay em đều có vân tay tròn hình đấu, mười cái đấu cơ đấy nhé!
Chị ta giơ tay cho Mục Lôi, Mục Lôi cầm lấy, cứ lật lên lật xuống, bóp bóp nắn nắn. Cậu tôi trợn mắt nhìn anh ta, anh ta buông ta chị kia ra, nói:
Tay đẹp đấy.
Lần đầu tiên tôi biết thế nào là đói, không kén ăn, cứ xơi tì tì, ăn xong một cái bánh bao, lại ăn một cái nữa, cái nữa, người đàn bà đột nhiên thò tay vào bụng sờ mó, hình như sờ được cái gì đó để vào lòng bàn tay xem, anh chàng chân đi chữ bát lập tức đạp vợ một cái, chị ta nhìn tôi cười, hất tay đi, bảo:
Em cứ tưởng là một con rận cơ!
Mục Lôi ngoẹo đầu, nhìn chằm chằm xuống đất nói luôn:
Tôi cứ tưởng không phải con rận chứ!
Tôi lập tức buồn nơn bỏ đũa xuống. Cậu tôi bảo:
Ra khỏ nhà rồi, cái mồm phải quen ăn nhiều thứ – rồi hỏi người đàn bà – trên dốc chỉ có một mình nhà chị, ở đây có sói không?
Chị ta đáp:
Thân người có rận, thân núi có sói, sao lại không có sói?
Anh chồng liền cải chính:
Hết sói rồi, mấy năm nay có thấy bóng dáng con sói nào đâu?
Chị vợ nói:
Sao lại không có sói, không có sói, thế anh đã ăn thịt Vương Sinh phải không?
Anh chồng bảo:
Vâng, vâng, có sói, có sói.
Chị vợ đắc ý, ngồi bệt xuống cạnh Mục Lôi, cũng cầm một cái bánh bao lên ăn, vừa nhai vừa nói, tôi phải chửi cái bà mối Lưu chết rấp ấy, bà ta dỗ dành tôi không có sói, không có sói, nên tôi mới đến Câu Não làm dâu ở gia đình Vương Sinh, người đến trêu đùa cô dâu chú rễ trong đêm tân hôn ép tôi hôn Vương Sinh, hôn thế nào được trước đông người như thế, tôi đã không hôn, thế là bọn họ lôi Vương Sinh ra buộc vào cây táo trước nhà để phơi lạnh trong tuyết, họ bảo tôi không hôn thì nhìn Vương Sinh rét cóng rét run trong lòng có thương không? Tôi đành bảo một câu, cứ để xem một người đàn ông lớn tuổi chịu được rét đến mức nào, nên đã im lặng, nhưng bọn họ lại không chịu cởi trói cho Vương Sinh, cứ trêu đùa tôi mãi. Tôi có đen không? Đen thì có đen, nhưng tôi là hoa Mẫu đơn đen, bọn họ đều bảo thế. Tôi cũng biết bọn họ lôi Vương Sinh đi để tiện chọc ghẹo tôi. Nhân cơ hội, người này sờ eo tôi, kẻ khác véo bẹn tôi, còn thọc cả tay vào bụng vào ngực tôi. Bọn họ đều là trai độc thân chưa có vợ, tôi ngốc quá, nghĩ bụng bọn họ chưa bao giờ thấy đàn bà, bóp thì cứ bóp đi, cứ thế nô nghịch cho tới quá nửa đêm mới nhớ đến Vương Sinh vẫn còn ở ngoài cửa, lúc ra nhìn thì Vương Sinh đã bị sói ăn thịt.
Tôi kêu lên:
Sói đã ăn thịt chú rể ư?
Không ăn thịt là gì – chị vợ nói, sói sợ lửa sợ ánh sáng, tối hôm đó trong nhà lửa đèn sáng choang, nhưng sói lại dám đến, đến rồi đã ăn thịt Vương Sinh, nó cắn đứt họng anh ấy trước, sau đó móc bụng ăn, ruột gìa ruột non rơi cả xuống đất, chân tay bị trói dây thừng nên vẫn còn nguyên.
Anh chàng chân vòng kiềng đi đến cho thêm dưa chua vào đĩa, cố ý đứng trước mặt vợ nói:
Không cho cô nói đến Vương Sinh mà cô vẫn cứ nói! Tay Vương Sinh là con lợn hóa kiếp, làm gì có người đàn ông béo trắng thế … anh ta vốn là một món ăn của sói.
Anh cứ rủa Vương Sinh đi – chị vợ nói – nếu anh không chết, thì ngày nào tôi cũng nói đến Vương Sinh của tôi, Vương Sinh ơi, Vương Sinh! …
Anh chồng lúng túng nhìn chúng tôi cười.
Lúc Vương Sinh bị sói ăn thịt, chắc chắn anh ấy đã kêu – chị vợ vẫn đang nói – nhưng trong nhà nô đùa ầm ĩ, không ai nghe thấy. Sói đã từng ăn thịt trẻ con, nhưng ai ngờ người lớn cũng bị sói ăn thịt.
Anh chồng giơ chân đá vợ, cô vợ cũng lấy chân đá chồng, lại còn khóc hu hu, anh chồng ôm vợ định lôi vào trong buồng, chị vợ ôm chặt cái đôn gỗ không đi. Cả người và đôn gỗ liền bị kéo xềnh xệch qua bậc hè. Chị vợ bỗng dưng ôm chặt chân Mục Lôi, anh chồng liền buông tay ra. Mục Lôi nói:
Tôi dìu chị vào trong nhà ngồi nghỉ nhé!
Chị vợ đứng luôn dậy, được Mục Lôi đỡ vào trong nhà. Anh chồng liền tiếp tục giục tôi và cậu ăn cơm.
Ăn đi, ăn đi, ở đây trước kia có sói thật đấy, các anh cứ nhìn mà xem, trên bờ tường thì vẽ vòng tròn vôi, trước cửa cũng đào hố, tôi còn có cả cạm sói nữa. Nhưng mấy năm nay lại không thấy bóng một con nào. Ở chung với sói hàng chục năm đã quen rồi, bây giờ đột nhiên không có sói.
Tôi ngồi trước cửa hút thuốc nghĩ vẩn nghĩ vơ, tại sao không có sói nữa nhỉ?
Ở trong nhà chị vợ nói vọng ra:
Đương nhiên anh nhớ chứ, sói đã biếu anh một cô vợ mà!
Không biết từ lúc nào, con Thúy Hoa đã nhảy vào trong nhà bỗng nó nhảy phốc ra, tha một chiếc giầy của bà chủ kêu: meo, meo, meo. Cậu tôi liền gọi:
Nát Đầu ơi, Nát Đầu!
Mục Lôi từ trong nhà đi ra, bụng ôm sáu bảy cái bánh bao, nói:
Tôi xin cho anh em mình một ít lương khô.
(còn tiếp)
Nguồn: Hoài niệm sói. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Biên tập; Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003. |