tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
21.12.2008
Giả Bình Ao
Hoài niệm sói

Thế là từ sự kiện đào tường khoét ngạch ăn cắp bất ngờ, thằng trộm đã nghiễm nhiên trở thành “giao liên” của chúng tôi.  Bà già và cô con gái vội vàng đun nước nấu cơm, nhất định mời chúng tôi ăn cơm để sáng sớm lên đường cho ấm bụng.  Tôi và Mục Lôi liền thu dọn hành lý.  Khi cúi xuống buộc dây giầy Mục Lôi đột nhiên gọi:


Bí thư ơi, nhìn xem cái gì kìa.


Tôi cúi nhìn ở trong khe giữa tủ và giường lò có viên ngọc kim hương của tôi.  Mục Lôi bảo:


Chắc là khi ngủ anh tháo ra để ở nóc tủ đã rơi xuống.  Nếu không tìm thấy, tôi sẽ là kẻ tình nghi lớn.


Tôi không nói toạc ra, chỉ cười bảo:


Hay lắm, ngọc quí trả về chủ cũ!


Thằng trộm gầy gòng, ân cần tháo vát, chăm nom chúng tôi suốt dọc đường tử tế, tôi dần dần bớt cảnh giác đối với nó, giao cho nó đeo súng và túi đựng lương khô.  Đi qua một cánh rừng, Mục Lôi lại đau đầu, tôi bảo anh ta tự vào cây bóp đầu cho anh ta, bóp tới mức tôi tỏa hết mồ hôi mà đau vẫn không giảm.  Tôi liền bảo thằng trộm bóp thay, sau đó giơ nắm tay đấm vào đầu, thậm chí còn tụt giầy đập đen đét vào vỏ não mới đỡ đau, nhưng người thì cứ mệt lữ nằm tại chỗ như một đống bùn, hai mắt cứ nhắm nghiền.  Trong cả quá trình đi tìm sói, đây là lần Mục Lôi đă đầu nặng nhất.  Anh ta bảo anh ta có cảm giác sẽ chết.  Tôi cũng cảm thấy nỗi sợ chết của anh ta.  Tôi sai thằng trộm vào rừng kín một ít nước suối.  Lúc ấy tôi định kiếm nước về sẽ đun cho Mục Lôi một bi đông nước sôi để uống.  Tôi ngốc quá đi mất, quên khuấy thân phận thằng ăn cắp, không bảo nó bỏ túi lương khô và khẩu súng xuống.  Thằng trộm đi lâu lắm, không thấy trở về.  Tôi điên tiết chỉ chửi, nhưng không thành tiếng.  Khi tôi đích thân ra khỏi rừng, ở chổ chân vách đá ngoài rừng có một suối nước, cạnh suối có vết chân thằng trộm qùi xuống uống nước, khẩu súng đang treo trên cây gỗ hoa nhỏ, còn thằng trộm thì biến mất, túi mì ăn liền cũng không thấy đâu.


Nửa ngày hôm ấy tôi và Mục lôi không có thứ gì cho vào bụng.  Tôi quì trước mặt Mục Lôi xỉ vả bản thân, nhưng Mục Lôi đã an ủi tôi.  Anh ta đã thay đổi hoàn toàn, anh ta bảo chỉ cần không mất súng là được, nhịn ăn một hai bửa có sao đâu!  Tôi bảo anh ta ngồi nghỉ thêm một lúc, lại đi múc nước về đun cho anh ta uống và định đi tìm thứ gì có thể ăn được.  Anh ta bám cây đứng dậy nói không dám nghỉ lâu, nghỉ lâu sẽ không đi được, phải cố gắng đến chùa Đá Đỏ khi trời tối.  Chúng tôi đi chậm lắm, cho đến lúc trời tối mới đến một khe núi có nhà dân, đập vào vòng cửa xin nghỉ đêm.


Có lẽ bạn không tưởng tượng ra được đâu, trong núi sâu lại có một ngôi nhà cổ bốn mặt là nhà ở giữa là sân nghiêm chỉnh như thế.  Tuy nhà chính, nhà ngang, nhà chứa củi rạ, nhà để cối xay,chuồng lợn, chuồng bò, và tường vây đều lợp bằng tấm đá, nhưng rộng rãi sạch sẽ, ngay đến một cọng cày cũng không có.  Càng lạ lùng hơn là gia đình có sáu bảy người già trẻ lớn bé, người nào cũng xinh xắn, sáng sủa, quần áo mới đẹp.  Bạn không thể không thốt lên, giữa nơi khỉ ho cò gáy, ngoài những thằng ngố, chân đi vòng kiềng, bướu cổ ara, vẫn còn có những người điển trai xinh gái.  Khi chúng tôi vao, cả nhà đang ăn cơm, trên bệ bếp lắp một giàn vắt bún hay vắt bột thành sợi.  Cục bột lúa Kiều mạch nhào xong để trong máng giàn vắt bún, một người cửi trên đòn bẩy ấn xuống, sợi bún thành hình luộc chín trong nồi.  Họ ấn một máng đủ cho một người ăn, trong nhà sực nức nùi chua của dấm đậm đặc và mùi hắc của kem hạt cải, con mèo Thúy Hoa hắt xì hơi mấy cái liền.  Chúng tôi nói rõ lý do.  Người đàn ông ở trên giường lò to nhảy xuống bảo:


Hê, người thành phố! Các anh tìm đúng chỗ rồi đấy.  Tôi là trưởng thôn, ở thung lũng này không tìm đâu ra nơi sạch sẽ hơn nhà tôi.   Mời ngồi! Mời ngồi! Làm cho khách một máng trước đã nhé!


Sợi mì cay tê tê là món ăn cực ngon.  Tôi ăn hai bát, Mục Lôi ăn ba bát, toát mồ hôi, đau đầu bớt hẳn.  An xong ông chủ và chúng tôi ngồi trong nhà chính bố trí hcúng tôi nghỉ nói chuyện.  Con Thúy Hoa được bọn trẽ bế đùa nghịch.  Ông chủ hỏi Mục Lôi còn đau đầu không.  Mục Lôi đáp, bệnh cũ tái phát, không sao đâu.  Ông chủ bảo tôi chữa cho anh, nói rồi vỗ vỗ lên đầu Mục Lôi, múc một gáo nước trong hắt lên tường kêu bép một tiếng, ngậm cái đinh sắt to vào mồm, lại cầm một cái búa, hỏi:  Anh tên là gì? Tôi là Mục Lôi.  Ông chủ bảo:  Lát nữa tôi gọi, anh trả lời nhé!  Mục Lôi đáp: Vâng!  Ông chủ cúi đầu lầm rầm khấn vái một lúc, đột nhiên cầm đinh đóng vào tường ướt, đóng một nhát, gọi:  Mục Lôi!  Mục Lôi đáp: Dạ! Búa lại đóng lần nữa, gọi liền ba tiếng.  Mục Lôi cũng ba lần: Dạ, búa cũng đóng ba nhát.  Ông chủ hỏi: còn đau không?  Tôi nhìn thấy Mục Lôi đang đờ mắt ra tìm cảm giác, cuối cùng đáp:  Đỡ nhiều rồi.  Ông chủ hỏi:  Đỡ hay là đỡ nhiều hả?  Mục Lôi đáp:  Tôi biết bênh của tôi thế nào rồi.  Ông chủ nói:  Tôi tuy không phải thầy lang, nhưng biết mac bệnh không ngoài ba điểm:  một là nội thương (đau bên trong), hai là ngoại cảm (nhiễm từ ngoài), ba là số kiếp, do nghề nghiệp vốn có gây nên.  Nội thương ngoại cảm uống thuốc và tiêm thuốc có thể chữa được, song bệnh do nghề vốn có gây nên thì phải trả nợ nghiệp chướng.  Mục Lôi hỏi:  Nhà ta có quả bầu không ông?  Ông chủ bảo có.  Mục Lôi bảo: ông tìm cho một qủa, tôi phải đóng đinh vào quả bầu! Ông chủ qủa nhiên đã đem quả bầu đến, Mục Lôi liền đóng ba cái đinh dài lên qủa bầu, vừa đóng vừa nói: ông đóng đinh vào tường, ở quê tôi bố tôi bào tôi đóng đinh lên quả bầu, quả bầu coi như cái đầu của tôi, người ta mắc tội thì xuống âm tào địa phủ chịu hình phạt, còn tôi thì báo ngay ở đời này!


Ông chủ kia cười hì hì một chuỗi dài.  Nhớ tới cậu mình tôi hỏi ông chủ:


Đau đầu thì đóng đinh, thế cổ tay nhỏ đi nũm ra thì chửa thế nào?


Ai có bệnh này?  - Ông chủ hỏi -  Kiếp trước nếu không bị ngừơi ta trói buộc, thì kiếp này đã từng trói buộc người ta phải không?


Tôi không biết trả lời thế nào.


Trong sân có tiếng lợn kêu. Ông chủ nói ra sân qua cửa sổ:


Chưng cho nó một ít khoai tây ăn, ăn no, ít ỉa ít đái, cũng nặng đồng cân đấy, chuẩn bị chu đáo cả đòn khiêng dây buộc.


Người ở sân nói vọng vào:


Việc bắt trói bố phải ra tay đấy!


Ông chủ quay vào nói với chúng tôi:


Ngày mai phải khiêng lợn đến trạm thu mua dưới núi, tối nay phải chuẩn bị chu đáo đòn khiêng dây trói.  Ở đây chưa có đường cái, cái già cũng pảhi khiêng vác xuống núi.


Chúng tôi vội bảo ông bận cứ đi đã.  Ông chủ liền ra ngoài.  Mục Lôi nháy nháy mắt:


Anh không ra ngăn đi à?


Tôi bảo:


Ngăn làm gì?


Mục Lôi nói:


Giao lợn cho trạm thu mua là để giết lợn ăn thịt.  Anh luôn phản đối tôi ăn chất tanh.  Nhưng ai cũng ăn chay cả thì người của trạm thu mua làm gì, người ở lò mổ làm gì, người ở cửa hàng thịt, người trong xưởng đồ hộp đều làm gì?


Tôi không tán thành cách nói luân hồi chuyển kiếp lưu truyền rộng trong khắp dân gian, đó là để khuyên dân chúng làm việc thiện, nhưng tôi giữ vững quan điểm linh hồn, tuy theo vật mà ban hình để ra đời.  Con người tuy là tinh hoa của vạn vậtxét từ ý nghĩa mạng sống, thì bất kỳ động vật, thực vật và con người nào cũng chung sống bình đẳng, cá lớn nuốt cá bé có lẽ là phương thức điều tiết của cân bằng mạng sống, sói bị chém giết tới mức sắp sửa tuyệt chủng, nếu bệnh củ acậu tôi và bệnh của Mục Lôi coi là một thứ trừng phạt thì sự trừng phạt lớn hơn có thể không chỉ giới hạn ở người thợ săn!  tôi trợn mắt giận dữ nhìn anh ta:


Vậy thì anh sẽ đau đầu một cách từ từ!


Tôi đau đầu là đáng đời – Anh ta nói – Nhưng anh nói thực vật cũng có mạng sống, thế tại sao anh còn ăn lương thực rau xanh?


Không ăn lương thực rau xanh thì khắp thế giới đều là cây cối hoa màu!


Nhưng vây giờ con người ăn tới mức khai khẩn tất cả những nơi có thể trồng cấy được thành đồng ruộng, thì giải thích điều này thế nào đây?


Chẳng đã xảy ra chiến tranh, tai hoạ đói kém đấy thôi, chẳng phải đã sinh đẻ có kế hoạch là gì?


Anh là người có văn hoá, tôi cải không nỗi anh!


Mục Lôi xua xua tay, sắp xếp chăn chiếu chuẩn bị ngủ.  Chúng tôi thường tranh luận vấn đề này, song chẳng bao giờ có kết qủa.  Tôi cũng hận mình không có trình độ văn hoá cao hơn thuyết phục anh ta trong chốc lát.  Nhưng sau mỗi lần tranh luận, tôi cứ ngạc nhiên, tại sao hiện nay tôi giác ngộ đến thế, chẳng còn là thằng tôi buồn thỉu buồn thiu trong thành Tây Kinh trước đây ? Ở nhà ngang, con gái chủ nhà đã mở đài, đang phát bài hát gì đó, nhạc vừa nổi lên, trong cảm giác của tôi có vô số những con dao sắc bén đang bay.  Chợt nghĩ đến giờ này ở trong thành Tây Kinh bà xã đang làm gì, những người văn hoá trong cái vòng bé nhỏ kia đang làm gì, chắc chắn bọn họ đều đang nghi ngờ, đặt câu hỏi: Tử Minh đâu, Tử Minh đi dâu nhỉ?  Còn tôi lúc này đang nằm khềnh trong gia đình nông dân ở vùng sâu Thương Châu, bên ngoài là tiếng chim hót, dưới gầm giường con dế đang kêu, con bọ gáo từ nãy đến giờ vẫn nằm chết dí ở trên tường ohía đông, lúc này cũng bò đi, tiếng kêu lạo xạo.  Mục Lôi trải xong chăn nệm, ngồi xổm trông vào gầm giường, anh ta đã một lần ngủ trên giường có xếp đu đủ ở dưới, một lần bị rắn cắn ba năm sợ dây gầu, lại chửi ông già ở thị trấn Sinh Long một câu.


Đấy là người ta cố ý chỉnh anh – tôi nói – Đâu có chuyện gầm giườngnào cũng xếp đu đủ?


Mục Lôi đóng cửa, đột nhiên cười hì hì, khe khẽ nói:


Bây giờ tôi nói với anh, cô vợ nhà ấy ngon lắm, nhiều nước, ướt rườn rượt.


Tôi bảo:


Anh đụng tay thật chứ?


Đi ra ngoài ấy mà, thợ săn nào chẳng có chuyện ấy – Anh ta hỏi – Anh xa nhà cũng lâu lâu rồi, không nhớ vợ à?


Tôi cứ tỉnh bơ.


Tôi đang nhớ đây – anh ta xếp bằng chắp tay ngồi ở mép giường, cấu một cọng chiếu ngoáy tai – cứ ngoáy vào tai là sức chú ý sồn cả vào tai, ở dưới chẳng có chuyện gì nữa.  Cậu anh dạy tôi thế đấy.


Đầu vừa hết đau đã nghĩ vớ nghĩ vẩn! – Tôi sờ lên ngực, qua lần áo lót thấy cưng cứng, viên ngọc kim hương vẫn còn – Ngủ đi, ngủ đi.  Đây là gia đình đứng đắn anh chớ để người ta nghe thấy, coi thường mình.


Ồ, mấy hôm nay, không thấy anh đỡ mông, bệnh trỉ đã khỏi chưa?


Tôi đưa tay giật công tắt bật đèn, cùng lúc đó trông thấy trên sợi day thép phới quần áo mắc từ song cửa sổ đến tường đối diện ó một con chuột đang nằm ngửa bốn chân quặp vào dây bò qua, y như người dùng chân tay lần theo dây cáp qua khe núi.  Tôi kêu lên một tiếng, con chuột đã bò hết dây thép, nhanh chóng từ cửa sổ lủi xuống biến mất.  Tôi và Mục Lôi lập tức đóng chăt cửa sổ tìm khắp lượt, nhưng không thể nào tìm ra con chuột trong gian nhà bé nhỏ này.  Ở góc tường có cái mủ lá, tôi đá một cái, dưới mũ lá cũng không có.  Tôi và Mục Lôi thấy lạ quá, ngồi trên giường nghe động tĩnh, con Thúy Hoa lúc thì bới góc giường, lúc thí cào cào gối, cuối cùng cũng nằm tại chỗ ngơ ngác.


Con chuột chạy đi đâu trong pạhm vi gian nhà này?  Mục Lôi lại giơ chân đá mũ lá, vẫn là cái mũ lá ấy bị đá ra cửa, ban đêm mở cửa nhỡ dẫm hỏng thì phải đền, liền bước tới nhặt mũ lá treo lên tường, thấy cái mũ nằng nặng, lật lên xem, bốn chân con chuột đang bám chặt vào vỏ mũ.  Tôi giật mình đứng phắt lên, góc bàn chọc vào giữa trán, máu tóe ra, con chuột thừa thế nhảy lên khung cửa chui qua khe rui chạy mất.  Tiếng kêu rú lên đã lọt vào tai ông trưởng thôn đang bận việc trong sân, ông chạy vào vội vàng đốt mấy sợi tóc đắp vào vết thương cho tôi, ông bảo:


Cũng được đấy! Anh vỡ đầu chảy máu thì đồng chí của anh hết đau đầu.


Lại ngủ tiếp, con Thúy Hoa mò sang giường tôi, vẫn co thân thành hình cánh cung ở dưới gối.  Tôi đuổi nó đi, Mục Lôi cười bảo:  Thúy Hoa, Thúy Hoa, sang đây, chuột thật mày không tóm được, đừng có coi con chim của tao là chuột mà tóm đấy nhé!


Trời chưa sáng, trong sân nhà chủ đã ầm ĩ, trưởng thôn và mấy người con trai buộc lợn vào cáng, chuẩn bị khiêng xuống núi.  Chúng tôi dường như tỉnh dậy rồi lại ngủ thiếp đi, ngủ cho tới lúc ánh nắng dọi qua song cửa hơi nóng rát một nửa mông.  Trong nhà chỉ còn hai vợ chồng trưởng thôn.  Trên mâm cơm sáng tôi hỏi vị trí của chùa Đá Đỏ, trưởng thôn hỏi ngay:  Đi kiếm ngọc kim hương phải không?  Ông chủ cũng biết ngọc kim hương trong tay đạo sĩ già ở chùa Đá Đỏ ư?


Ai chả biết chuyện này – Trưởng thôn nói – Nửa năm nay hàng bao nhiêu người đã đến đây xin mua ngọc kim hương trong tay đạo sĩ già đã hết hàng từ đời tám hoánh rồi.


Chẳng phải đạo sĩ già đã nhặt được cả một hòn ngọc kim hương đó sao?  Ai đã lấy đi, liệu có kiếm được nửa không?  Tôi bảo:


Đồng chí của tôi đây muốn mua một viên.


Mục Lôi nhìn tôi có vẻ ngường ngượng.


Các anh muốn thật chứ? – Trưởng thôn hỏi – Tôi sẽ có cách, cũng chỉ có tôi mới có cách nhưng giá hơi đắt.


Mục Lôi hỏi giá bao nhiêu? Câu trả lời của Trưởng thôn khiến Mục Lôi lạnh thấu tim, tôi cũng lạnh gáy:  Ba trăm sáu mươi đồng một gam.  Nếu cần thật, ông ấy có thể đi tìm một người, nghe đâu người này đã mua toàn bộ ngọc kim hương trong tay đạo sĩ già.


Bớt một chút được không ạ? 


Giá này đã thấp tới mức không thể bớt được nữa.


Đã nói đến mức này thì việc mua bán không thành, chúng tôi từ biệt lên đường.  Lúc ra cửa trưởng thôn cười bảo: Vẫn đi chùa Đá Đỏ phải không?  Chúng tôi bảo, có một người đang đợi chúng tôi ở đó.  Ông ta bảo, các anh phải tin lời tôi, cho dù đến chùa Đá Đỏ, tìm được vị đạo sĩ già, thì các anh cũng khó lòng kiếm được một gam ngọc kim hương.  Chúng tôi nói, ở đấy đang có người chờ chúng tôi thật mà.  Ông ta bảo, thôi được, từ đây đi lên dốc trước mặt, theo sườn dốc đi về phía đông hai ba dặm, men theo một đường nhánh xuống dốc, đi dọc khe núi rồi trẻ sang chân vách đá, đi thẳng về phía Tây thì đến Chùa Đá Đỏ.  Đi qua chân vách đá, ở đấy có mấy gia đình, các anh nhắn tin, bảo họ lên núi xây ruộng bậc thang, cứ bảo tôi nói, năm ngày nữa tôi sẽ đi kiểm tra, không xây ruộng bậc thang tử tế, thì khoản tiến cứu tế của nhà nước vụ xuân tới sẽ không có đồng nào.


Chúng tôi đi theo hướng đã chỉ, các gia đình thưa thớt, nhìn thấy đều lợp tranh, người mặc rách rưới, hình dung không là cây khô, thì cũng đầu bù tóc rối, khuôn mặt nhem nhuốc cáu bẩn.  Tôi thở dài, vùng này nghèo quá, không bao giờ còn nhìn thấy những gia đình đề huề ấm cúng như trưởng thôn.  Sau bửa cơm trưa chúng tôi chui vào một gia đình định mua một ít thức ăn, vừa bước vào đã phải ra luôn, trong nhà bừa phứa, ngập ngụa, một người đàn ông sứt môi và ba đứa con đang ăn cháo cám ngô, dùng cái bàn sản xúc ở trong nồi từng xêu từng xêu đổ vào trong ba cái lỗ nhỏkhoét ở một cây gỗ nguyên, ba đứa trẻ ngồi ở trước cây gỗ đó ăn ngấu ăn nghiến.  Tôi ngờ ngợ tại sao không bưng bát ăn?  Mục Lôi bảo, có lẽ không có bát, anh thử nhìn xem, toàn bộ gia tài không đến vài trăm đồng.  Ngưng trên bệ cửa sổ có một cái bát, lưng bát thịt chín màu trắng bệch thái thành từng miếng vuông vức.  Tôi nói:


Còn có thịt ăn đây này!


Người đàn ông bảo:


Hôm nay mượn người cuốc ruộng mà!


Ba đứa trẻ lập tức đứng cả dậy chạy đến, cám ngô bám đầy mồm đầy răng, chúng nói:


Không được ăn thịt của chúng tôi!


Ra khỏi gia đình này tôi oán trách sống gì mà khổ vậy, đã thế còn đẻ một đống con.  Mục Lôi bảo vùng sâu vùng xa mà, đêm dài đằng đẵng, anh bảo họ làm gì hơn, chuyện đời lạ thế đấy, gia cảnh khấm khá, không phải đẻ con, đẻ toàn con gái, càng nghèo càng khoẻ đẻ, đẻ đứa nào cũng thằng cu.


Đến chân vách đá có hai gian nhà đất xiêu vẹo, nhà ở lưng chừng dốc, tường phía trước rất cao, tường đằng sau lại thấp, rui hầu như tì trên vách đá.  Con Thúy Hoa đột nhiên hớn hở kêu ầm ĩ, từ khung cửa tối om om, một con chó chạy xộc ra.  Tôi co cẳng chạy lui, Mục Lôi cũng cúi xuống cầm hòn đá, nhưng con chó đứng thẳng chân sau, hai chân trước vẫy rối rít, Mục Lôi kêu lên một tiếng:


Phú Quí! Phú Quí đấy hả?


Nghe thấy gọi Phú Qúi, tôi nhìn kỹ lại thì không phải Phú Quí! mà chỉ trong nháy mắt, cậu tôi đã đứng ở cửa, ánh nắng trùm kín người cậu, cậu nheo nheo mắt nhìn chúng tôi.


Chúng tôi và cậu gặp nhau lần nữa tại hai gian nhà đất xấu xí này.  Tôi và Mục Lôi hớn hở ôm chầm cậu.  Cậu nhìn chúng tôi.  Cậu không mừng rỡ, nét mặt lúng túng và ân hận, song khoé mắt cậu ươn ướt.  Chúng tôi không nhắc đến chuyện cậu bỏ đi, hỏi cậu có khoẻ không, mấy ngày vừa rồi cậu sống ra sao.  Phú Quí và Thúy Hoa cuốn quít bên nhau vui chơi nhào lộn ở bãi đất hẹp trước cửa, bụi cát bắn tung toé.  Bầy gà trên hẽ cũng nháo nhác, kêu quang quác.  Cậu tôi bảo:


Đây là duyên phận, đây là duyên phận.


Đương nhiên tôi đã giao súng cho cậu, cả viên ngọc kim hương.  Cậu ngần ngừ, hai tay lau vạt áo, cuối cùng đã nhận súng, không nhận ngọc kim hương.


Cậu đã gặp Đạo sĩ già chưa?


Ông ấy ốm nặng lắm, không còn ngọc kim hương nữa – cậu nói – ông lão nhà này mười mấy năm luôn luôn tự nguyện vào chùa vác đá xây bậc trước nhà chùa, Đạo sĩ già đã giao cho ông lạo một số ngọc kim hương còn lại, tôi đến hỏi ông lão, ông lão bảo ngọc kim hương đã đưa cho trưởng thôn.


Tôi và Mục Lôi xuýt xoa ca cẩm mãi, bây giờ mới hiểu những lời trưởng thôn đã từng nói.  Mục Lôi cứ đù cha đù mẹ chửi rủa cái lão ấy, thậm chí còn định quay về bản tìm trưởng thôn.  Cậu tôi xua xua tay nói:


Xem ra được ngọc kim hương cũng phải có duyên phận, giống như con số mười bốn ấy mà!


Con số mười bốn ư? Là con sói số mười bốn phải không ạ?


Cậu tôi không trả lời, nhưng bảo chúng tôi vào gặp ông lão chủ nhà.  Đi vào trong nhà, tối mò mò như một cái hang núi, dừng một lúc mới nhìn rõ trong nhà có một giường lò to, trước giường lò là cái bếp cũng lớn, củi đang cháy leo lét, trên ngọn lửa có một cái ấm đất treo bằng sợi dây thép, đang nấu cái gì đó sôi lục bục, một ông lão và một bà lão đang ngồi thu lu bên cạnh.  Khi chúng tôi nói chuyện ở ngoài, ông bà lão không ra.  Lúc chúng tôi đi vào, ông bà lão chỉ ngước mắt nhìn.  Cảnh nghèo khó và hiu quạnh trong rừng sâu núi thẳm thường khiến dân chúng có phản ứng cực đoan đối với người ở ngoài tới, hoặc là sốt sắng quá mức, hoặc là lạnh nhạt quá thể.  Tôi lên tiếng:


Chào hai bác.


Trả lời là: “Ngồi xuống! Ngồi xuống!”


Cuối cùng họ đã nói chuyện, con ngươi mắt rất trằng lại đảo xuống, từ sau lưng ông kéo ra mấy cái đôn gỗ, đưa tay lau mạnh mặt đôn gỗ.


Thưa bác – tôi nói – chúng tôi từ thôn dưới lên, trưởng tôn của các bác gửi lời nhắn bảo bác xây ruộng bậc thang trên dốc sau nhà.


Ông lão nói một cách ương bướng:


Tôi không xây.


Ruộng bậc thang thì nên xây thưa bác.


Không xây!


(còn tiếp)


Nguồn: Hoài niệm sói. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Biên tập; Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »