tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
08.12.2008
Giả Bình Ao
Hoài niệm sói


Thi Đức cầm tay anh lôi đi, anh vẫn chăm chắm nhìn đáy sông.


Có một khẩu súng – Phó Sơn nói – hít một hơi không khí rừng núi sông thật sâu – Tôi chưa say, tôi còn uống được.


Thi Đức nhìn Phó Sơn, anh hơi già đi, anh đánh một cái rắm, tiếng không dòn vang như trước.


Ở trong nhà Thi Đức, Thi Đức còn đưa ra loại rượu Lô Châu bảo quản đã ba năm, lại còn đem một gói ớt khô rán trong chảo mở để Phó Sơn nhắm rượu, thị hiếu củathợ săn là hai thứ này.  Nhưng bản thân Thi Đức lại không uống, cũng không tiếp.  Phó Sơn chơi lảy cỏ (oảnh tù tì).  Bởi vì con gấu mèo to duy nhất nuôi ở cơ sở này sắp đẻ, đây là một chuyện rất hệ trọng, ngay từ ba ngày trước khi con gấu mèo to ở vào lúc chuẩn bị đẻ, thì ông chủ tịch ủy ban hành chính Châu Thành đã đích thân gọi điện thoại đến, yêu cầu sẵn sàng báo cáo về trụ sở ủy ban tình hình sinh đẻ của con gấu mèo lớn bất cứ lúc nào, nhất định phải bảo đãm chắc chắn bình cn cho mẹ con hoạt hóa thạch cấp thế giới.  Thi Đức là chuyên gia, là chủ nhiệm, là đảng viên cộng sản, ăn lương của nhà nước, ông biết rõ bất cứ công iệc gì cũng có ý nghĩa chính trị.  Phó Sơn ở nhà uống ruợu một mình, tháo giày đay ra, hơi chân thum thủm và mùi rượu mù mịt trong phòng.  Đến nửa đêm, con Phú Quí cũng nằm chồm chỗm một chỗ ngũ gà ngũ gật, Phó Sơn đứng lên định đi dải, liền lảo đa lảo đảo ra nhà vệ sinh.  Khi đến cơ sở lần đầu riên, anh đã từng đi dải ở trong nhà xí này, một bọng nước dải xối trôi dạt cả một ổ dòi ngoài một mét, bây giờ đứng khuất ở đây lại đái ướt mặt giầy, anh tựa vào tường, có nhiều chuyện muốn nói với Thi Đức, nhưng Thi Đức không quay về.  Nhìn trong sân có ai đó, hối hả chạy qua, mà từ tường hoa bên phải có ánh đèn chiếu sang, anh biết bọn họ còn đang bận mãi trong buồng đẻ bên kia, bỗng dưng nhớ đến vỡ kịch mẫu cách mạng đã xem trước kia, các vai chính thường hay chạy đến dưới một cây thẳng tắp, đứng lại, bắt đầu cất lên những lời hùng hồn.  Anh cười một mình, khép vạt áo cũng quay sang chuồng đẻ của con gấu mèo lớn, mới hiểu rõ trên đời còn có những việc rung động lòng người khác nữa, cơn say rượu cũng tỉnh luôn.


Mười hai giờ trưa hôm sau, gấu mèo lớn đã đẻ ra một đứa con to bằng con chuột, nhưng con gấu mèo lớn dường như chết cùng một lúc, tiếp theo sau gấu mèo con cũng chết nốt.  Hai mẹ con gấu mèo lớn đều đã chết, chỉ còn lại một lũ chuyên gia đầy bụng học vấn.  Trong ngày hôm ấy, không khí buồn đau bao phủ cơ sở, mây trên trời vỡ vụn ra từng mảng, sà xuống dính lên cỏ, cuốn vào cây, nê là là ở chân thềm, dường như cũng có thể vơ nắm được lông tơ mềm của nó.  Các nhà khoa học ai cũng há hốc mồm,  râu bơ phờ trên môi, khóc không thành tiếng mà nước mắt đầm đìa trên mặt.  Thi Đức cứ ngồi lì trên đất hai tiếng đồng hồ không đứng lên, cũng không nói gì, sắc mặt xám như màu đất, quả thật giống như một con ma chết đói.  Phó Sơn không ngờ con người đẻ dễ dàng như ỉa đái, song con gấu mèo lớn lại gian nan đến vậy, càng chưa bao giờ trông thấy những nhà khoa học mà anh từng cảm thấy vừa thần bí vừa kính nể lại đáng thương đáng cười như vậy, cứ kêu trời kêu đất đau buồn như cha mẹ qua đời!  Anh kéo Thi Đức đứng dậy, nhưng không biết nói gì để an ủi bạn,  chỉ kéo Thi Đức đi ra ngoài sân cơ sở cho đỡ buồn.  Gần đó là một gò đá hình quả đấm khổng lồ, trên đỉnh gò đá có một đền thờ thần núi đã tàn phá.  “Anh ăn táo chua không?” Phó Sơn chỉ vào một cây táo rừng ở góc gò đá nói, trên ngọn cây có một quả táo chuađã khô lép.  Hai cánh tay anh bám vào vách đá dơ chân đạp mạnh rung cây táo rừng, dơ tay hấng được quả táo, nhưng Thi Đức không ăn.


Tôi an ủi anh, chứ có ai nói với tôi được một câu động viên đâu?


Phó Sơn hơi bực.


Suy cho cùng thì anh còn có sói, còn tôi thì sao, thật tình chỉ mong đẻ được một con, thì cơ sở này sẽ nên công lập nghiệp… Nhưng bây giờ ngay đến vốn cũng không có!


Sói trên núi Nam cung còn xuống đấy không?


 Không!


Thi Đức đáp, song lại nói thêm một câu, chín hộ dân bản ở đây từng phản ánh, hôm căng án điều lệ cấm săn bắt sói, thì ở trước tảng đá to dán thông cáo, đột nhiên ùa về nhiều thú rừng, có sói, cáo, dê rừng, lợn lòi, còn có cả gà rừng, sóc và rắn, vừa nhảy vừa hò hét, thậm chí còn giao phối cuống cuồng.  Hôm sau người ta phát hiện trong ao có từng mảng, từng mảng trứng ếch nổi lều phều, còn trong tổ kiến cũng có một lớp trứng kiến trắng xóa.  Bọn chúng đã thành tinh, đang hớn hở ăn tết hay sao đây?  Nhưng từ đó trở đi, không bao giờ còn nhìn thấy sói.


Hai người cùng cười, cười một cách nhăn nhó, Phó Sơn liền quay đầu nhìn lên núi Nam Cung ở phí đông Thành trì.  Thật ra đã lâu lắm không có cung điện trên nuí Nam Cung, tầng mây trên núi nứt ra một khe hở, có ánh sáng chiếu chếch xuống.  Trái núi như Phật ra đời, sáng rực lên, cả hai người đều không ngớ, giữa lúc náy có con sói đang đứng trên sống n1ui của trái núi chính.


Ban đầu chủ nhiệm Thi Đức không chú ý đến đó là một con sói, cứ tưởng là một cây, một tảng đá, nhưng Phó Sơn đã xúc động kêu lên một tiếng.  Con sói đó in hình lên màn trời, thân nó rất nhỏ và dài, đứng quay về huớng Nam, cái đuôi dài như cán chổi gác lên nột hòn đá.  Phó Sơn nhận ra ngay đó là con sói số mười một, là con sói khỏe mạnh nhất và cũng xinh đẹp nhất trong bầy sói tổng điều tra, nhưng không hiểu sao khi tổng điều tra con sói này ở trên núi Đại Thuận ngoài trăm dặm, tại sao lại xuất hiện ở đây?  Con sói số mười một nghểnh cổ lên gầm rống, tiếng đanh mà khô, trong âm tiết có thể coi là cao tám độ, hơn nữa cứ một dài một ngắn, lại một dài một ngắn, giống như tiếng gọi của người miền núi: này – Căn Bảo! Phó Sơn nói:


Nó tỏ tình đấy!


Quả nhiên một con sói khác đã xuất hiện ở dưới một cây bên trái sườn núi, sau đó con sói số mười một chạy đến chỗ con sói kia, thân nó cong cong, bốn chân thanh thoát, hai con sói lại gần nhau, cái đuôi vễnh lên, như giơ cao cái chổi lông gà, hớn hở nhảy múa.  Phó Sơn nói:


Con kia là sói số bốn.


Con chó Phú Quí đi theo sủa gâu gâu, tiếng sủa to như báo, hơn nữa chân trước bới đất rất khỏe, Phó Sơn đành phải lấy hai chân kẹp chặt nó.  Sói vẫn đang nhảy múa ở trên đó.


Gấu mèo lớn nếu có được thứ tỏ tình động cỡn này thì hay quá – Thi Đức nói – Anh xem, có sói sẽ có người đi săn, không có gấu mèo lớn tôi còn coi là chuyên gia gấu mèo lớn cái quái gì?


Anh sáng trong mắt Phó Sơn tối dần, anh dương súng bắn lên trời ba phát.


Thật ra, câu truyện tôi kể đúng là có mối quan hệ dòng máu không thể bóc tách nổi với tôi.  Trong tác phẩm trước kia, tôi đã viết nhiều về con người và sự việc ở Thương Châu, kể cả chuyện gia đình và họ hàng thân thuộc của nhiều người, nhưng tôi đã bỏ sót ông ngoại tôi. Bố của ông ngoại tôi, hay nói cách khác là cụ ngoại tôi bị mất tích trong môt cuộc loạn phỉ và họa sói, chết vì Phỉ hoặc chết vì sói, sau khi cụ bà tắt thở qua đời, thì coi như xong.  Người hàng xóm ở thành trì cũ có trên là Thuận Thành đã dẫn bà nội tôi đi, ông cậu lớn trở thành người thợ săn.  Cuộc sống vốn là những ngày tháng xếp thành đống chồng chất lên nhau, trông như đang đình trệ, gió mây không nổi, không có sóng nước, nhưng thực tế nó đang ngấm ngầm theo quy luật của nó, con người sống trong đó, hai gia đình cứ thế sinh sôi nẩy nở giống như một cây có hoang đẻ nhánh xong lại đẻ nhánh là đã thành một khóm lớn rậm rạp.  Ông cậu lấy vợ đẻ con, đã đẻ ra cậu tôi.  Bà nội tôi lấy một người họ Tiền trong thành Tây kinh đẻ ra bố tôi, sau nữa đã có thằng cháu là tôi.  Năm tôi lên sáu, thì mẹ tôi có về Thương Châu một lần, theo di chúc của bà nội, đã tìm được người nhà mẹ đẻ của bà, nhưng từ đó trở đi, mẹ tôi không bao giờ về nữa.  Tôi vẫn không biết gì những họ hàng thân thích làm ruộng cònở Thương Châu, nhưng trong trí nhớ luôn luôn có câu truyện mẹ kể về hai gia đình dòng họ.  Cũng do mẹ về Thương Châu lần đó đã biết được tình hình cuộc đời cậu tôi, lúc cậu tôi lên bảy, trong một hôm gặt lúa mạch, mẹ cậu đưa cậu ra ruộng gặt lúa, người đã mệt rã rời, vừa đói vừa khát, đang ngồi trên bó mạch, mở vung liễn cơm ăn với canh, chợt nghe có tiếng ai khóc, đó là tiếng khóc của đàn bà rất buồn thương, mẹ cậu liền bỏ cơm xuống đi xem, thì ra là một con sói ngồi gào khóc ở trong mương đất của ruộng mạch, nó gục dưới đáy mương gào khóc, thấy mẹ cậu đến gần, bất ngờ bật dậy, xô ngã mẹ cậu, nghe thấy mẹ hét một tiếng: “Con tôi ơi,…”, cậu đã chạy đến gần, nhìn thấy thân con sói đè lên người mẹ,, mái tóc của mẹ bị sói rứt mất một bên, một dúm tóc dính máu – thịt da đầu mắc vào gai khóm táo chua.  Cậu không sợ ngất xỉu, cũng không co cẳng chạy, liền nhảy xuống mương, hai tay nắm chặt đuôi sói, cậu nói: “Không được ăn thịt mẹ ta, sói, không được ăn thịt mẹ ta”. Sói quay đầu lại nhìn cậu tôi, cặp mắt trắng hình tam giác sáng quắc lên, nó không cắn mẹ cậu nữa, cái lưỡi dài nữa thước lè ra liếm mép, mép đột nhiên kéo lên để lộ ra những cái răng nhọn hoắt như dúi, bỗng nó hộc một tiếng, ngoặm vào gáy cậu tha đi.  Mẹ cậu tỉnh lai nhìn thấy sói tha con đi, gào thét lên, hôm ấy ông cậu đi săn vắng nhà, dân bản gần xa cầm gậy, xà beng đuổi theo, sói chân trước ngắn chân sau dài, chạy lên dốc tốc độ cực nhanh, nhưng chạy xuống dốc lại không được, người ở dưới dốc hò hét đuổi theo, những người ở trên dốc đang cắt mạch nghe thấy cũng từ trên dốc đuổi xuống, con sói đâm ra hoang mang, có lẽ cậu tôi béo lắm, nặng đến hơn hai mươi lăm kilôgam, sói đa tha cậu lại chạy đã khó khăn lắm, giữa lúc sói đặt cậu xuống định lấy hơi,thì những người xua đuổi đã ào đến trước mặt, sói đành phải bỏ cậu lại, mắt cậu vụt sángcái mà cậu nhìn thấy là vệt ánh sáng đỏ,đúng là một vệt ánh sáng đỏ, cón sói đã bỏ chạy.  Cậu được cướp lại từ miệng sói.  Ở gáy có ba lỗ đang chảy máu, tuy sau đó dùng nõn thầu dầuvà cùi bí ngô đắp chữa khỏi, nhưng từ đó đã để lại một vết sẹo không bao giờ mất. 


Cậu con hễ điên tiết lên là cái sẹo lại đỏ – Mẹ tôi nói – chỉ cần nhìn thấy cái sẹo của cậu đỏ lên, thì không có ai đến quấy rầy cậu nữa.


Đây là toàn bộ nội dung tôi biết về gia đình cậu. 


Tôi đã đến Thương Châu mấy lần, bởi bề bậc cách những mấy tầng, cậu tên là gì, ở bản nào, tôi không biết cụ thể, ý nghĩa của việc nhận họ hàng không lớn, cho nên chưa bao giờ nảy ra ý định đi tìm đi thăm.  Tôi chỉ nói đời này kiếp này không thể nào nhận ra được một chi ruột thịt nữa,song ngờ đâu lần cuối cùng đi Thương Châu, không hẹn mà tự nhiên lại gặp. 


Hôm ấy, với danh nghĩa là nhà báo, tôi uể oải tham dự môt cuộc họp kinh tế của Thương Châu, trong hội trường to rộng ông chủ tịch ủy ban hành chính của Thương Châu báo cáo hiện trạng của khu vực Thương Châu, ông nói Thương Châu có diện tích một vạn tám ngàn kilô mét vuông, chia thành bảy huyện hành chính  và một thành phố trực thuộc địa khu, có năm trăm bảy mươi ba xã và thị trấn, tổng dân số hai triệu hai trăm mười ngàn người,  từ xưa đến nay được gọi là bảy phần núi, một phần sông hai phần ruộng, đất cày cấy hai triệu hai trăm sáu mươi ngàn mẫu (mỗi mẫu bằng sáu trăm sáu mươi bảy mét vuông), diện tích rừng tám trăn chín mươi ngàn mẫu, có ba mươi nhăm trạm thủy điện vừa và nhỏ, bốn khu mỏ lớn: sắt, ăngtimon, than,… một đường quốc lộ xuyên suốt bốn huyện, mười bốn đường cái cấp huyện, tuy không phải địa khu giàu có, song ngũ cốc hoa màu đều sản xuất, đặc biệt là đặc sản rừng phong phú, như gỗ, nưá tre, cỏ râu rồng, sơn, giấy tiền, đào hạt, mộc nhĩ, mật ong, “còn có mười lăm con sói”, cuối cùng ông nói thế.


Còn có mười lăm con sói ư?  Câu nói này của ông như một mũi tên bắn vào tai tôi, trong tất cả các báo cáo công tác của chính quyền mà tôi được nghe, chưa bao giờ tôi được nghe một vị lãnh đạo nào khi giới thiệu lưng vốn của mình lại nói đến còn có sói!  Nhưng ông chủ tịch địc khu Thương Châu khi nói câu này giọng nói bình thường, không tỏ ra cố ý, cũng không có vẻ hóm hỉnh.  Tôi cảm thấy ngạc nhiên mà thú vị ở chi tiết này.  Tan họp, tôi giành riêng thời gian đi phỏng vấn ông chủ tịch địa khu:


Thưa ông, tôi nói – trong báo cáo ông nhắc đến sói, còn có mười lăm con sói phải không ạ?


Phải, mười lăm con sói.


Có phải ông nói đến sói ở vườn thú Châu Thành không ạ?


Không, sói hoang dã chứ.


Làm sao ông biết là mười lăm con?


Tôi cử người đi tổng điều tra, chúng tôi ghi số cho từng con sói, có mười lăm con.


Như thế có nghĩa là sói là một tài sản của Thương Châu?


Đương nhiên rồi – ông chủ tịch đắc ý nói – Nếu không có sói thì Thương Châu sẽ ra sao?  Người thành phố các anh không hiểu dân miền núi, nói một ví dụ đơn giản nhé, trẻ con ở miền núi đêm hay khóc, người lớn đời nọ tiếp đời kia bao giờ cũng doạ trẻ: “Đừng khóc, sói đến đấy!” Trẻ con liền im bặt, nếu không có sói, anh thử nghĩ…


Tôi hiểu điều này, trẻ con sợ sói lắm – tôi nói – không có sói chẳng phải tốt hơn sao?


Vậy thì trẻ con cứ khóc hoài.


Tôi cười:


Ông là một người theo chủ nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái!


Tôi là chủ tịch địa khu!


Ông nói, đúng là ông đã nói cho tôi một đạo lý lớn:


Anh biết không, vùng núi Thương Châu có thỏ rừng, có chồn, dê bụng vàng, dê bụng vàng để xuất khẩ, nhưng ói ít đi, anh chắc chắn cho rằng dê bụng vàng sẽ càng nhiều chứ gì, không, dê bụng vàng cũng ít dần, không phải do nguyên nhân chúng bị săn bắt, mà bản thân chúng ốm chết.  Sói ăn dê bụng vàng, song trong quá trình sói ăn dê bụng vàng, thì dê bụng vàng lại tồn tại một cách khoẻ mạnh…  Con người của thế hệ trước lớn lên trong nỗi sợ sói, nếu không có sói loài người sẽ không còn khiếp sợ nữa.  Nếu trẻ em sau này nói với người lớn: “Mẹ ơi, con sợ”, thì những người lớn sẽ càng sợ bởi nỗi sợ của trẻ em.  Anh đã đến mỏ dầu chưa, tôi đã từng làm việc ở mỏ dầu năm năm, nếu một đội giếng không có đàn bà, thì bọn đàn ông khỏi cần xây nhà vệ sinh, không trang điểm bản thân, dần dần ngay đến sự rung động tình dục cũng không có, sống chẳng khác gì gấu mèo lớn.


Ồ, nghe nói trong cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ môi trường gấu mèo lớn ở Thương Châu đã thụ tinh nhân tạo thành công cho một con gấu mèo lớn, đã có chửa phải không ạ?


Phải – ông chủ tịch địa khu bỏ kính ra, tay luôn xoay xoay cái bút chì duyệt văn bản – Sở dĩ gấu mèo lớn trở thành của qúi của nhà nước, là bởi vì chúng mất dần khả năng thích ứng đối với môi trường sinh tồn, thiếu tình dục, thời kỳ động cỡn rất ngắn, khó có chửa, chửa rồi thì có đến chín phần mười khó đẻ.  Anh thử nghĩ, hiện nay người càng ngày càng đông, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, vốn đã đem lại nguy cơ chí mạng đối với sinh tồn của sói, nếu cứ tiếp tục săn bắt, cuối cùng sẽ có ngày sói cũng giống như số phận của gấu mèo lớn, cho nên chúng tôi đã ban bố điều lệ cấm săn bắt sói.


Tôi chưa thật sự nhìn thấy sói, chỉ trông thấy một con trong vườn thú của thành Tây Kinh, hơn nữa hôm đi chơi vườn thú, thì sói cứ nằm lì trong chuồng không ra, chỉ thò cái đuôi dài như chổi gác lên cửa chuồng.  Nhưng bằng sự nhạy cảm nghề nghiệp, tôi biết tôi đã gặp một đề tài sáng tác cực kỳ tốt.  Lúc ấy nghĩ trong lòng, trên thế giới này, những người không đích thân nhìn thấy sói có thể khá động, song có lẽ không ai là không biết tên con sói và những câu truyện về mùi tanh máu sói.  Là người có quan hệ dòng máu với Thương Châu, chịu sự giáo dục sâu sắc của người địa phương, đã từng chịu tai họa sói, quan điểm của tôi khác với ông chủ tịch địa khu. Ông ấy là người ở nơi khác ông và gia đình, dòng họ của ông không từng chịu nguy hại của sói, tôi chỉ cảm thấy cả Thương Châu chỉ còn mười lăm con sói đối với tôi là một chuyện thở phào nhẹ nhõm.  Nhưng xét về mặt tâm lý, tôi lại không thể không đồng ý quan điểm của ông chủ tịch địa khu.  Theo tin tức đăng trên báo, thì trên trái đất này, hàng năm có vài trăm loài sinh vật đang tuyệt chủng, nếu cứ tiếp tục tốc độ này, thì loài người sẽ đứng trước một cảnh tượng đáng sợ biết chừng nào.  Vậy mà một ông chủ tịch địa khu đã nhắc đến việc bảo vệ và cấm săn bắt trong báo cáo công tác của chính quyền, chuyện này nếu không là có một không hai, thì cũng hiếm lắm trong bối cảnh các quan chưac chỉ lo đến  sốt sắng lập công và nghĩ đến món lợi trước mắt một cách phổ biến hiện giờ, tôi nên nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực phối hợp mới đúng.  Đương nhiên chuyện khiến tôi ngạc nhiên và say mê là mối nguy hiểm đe dọa loài người bấy lâu nay sẽ có thể biến thành một phong cách để con người thưởng thức, hàm ý của nó bỗng dưng kích thích ham muốn sáng tác đã lạnh tanh chất cứng rất lâu nay trong tôi.  Tôi đề nghị ông chủ tịch, liệu có thể cho tôi được xem hồ sơ có liên quan đến mười lăm con sói này, nếu được, tôi sẽ chụp ảnh cho mười lăm con sói đó.  Ông chủ tịch đã vỗ tay bôm bốp, thậm chí đã bóp chặt vai tôi, khen tôi có ý định tuyệt vời.  Ông nói, mười lăm con sói đã xây dựng hồ sơ tài liệu gì đâu, mới chỉ ghi số thứ tự, mới chỉ đánh số từng con, mà mọi tài liệu đầu tay này, thì nằm trong tay anh thợ săn tổng điều tra kia.


Tôi sẽ báo cho người thợ săn ấy đến gặp anh.


Như vậy là tôi đã bỏ hẳn ý định phỏng vấn lấy tài liệu một cách ứng phó cho qua rồi lập tức trở về Tây Kinh, thôi thì đã đến đây, cứ yên chí ở lại đây, tạm thời ở Châu Thành một thời gian, chờ đợi sự bố trí sắp xếp của ông chủ tịch. Tôi dự đoán tôi sẽ phải làm một công việc quan trọng, bỗng chốc tôi hoàn toàn chìm đắm trong ý thức bảo vệ và hoài niệm sói, có thể nói, tôi đã đứng lên thành Phật, trở thành một người theo chủ nghĩa bảo vệ mội trường sinh thái một cách đột biến, tôi đã thề từ đây không giết súc vật và bắt đầu ăn chay, mà ngày sau đó đã xảy ra hai sự kiện khiến tôi càng thêm giác ngộ.  Một là lúc đi dạo trong sân khách sạn, rõ ràng nhìn thấy một cô gái ở gác một nhìn trộm qua cửa sổ, đi đến gần, thì lại là một cây hoa Đinh hương.  Hai là khi đi qua vườn hoa giữa phố Châu Thành, tôi thuận tay cấu luôn một cọng hoa Nguyệt qúi, thì cả cây Nguyệt qúi đã rung lên dữ dội, cái cọng bị ngắt tự dưng to ra đen ra, sau đó tóe ra một chất nước trắng, còn bông hoa đang nở cũng cụp ngay vào, cánh hoa rơi lả tả.  Điều này khiến tôi ngạc nhiên hết sức, vạn sự vạn vật đều có mạng sống và linh hồn ư?  Rồi tôi nghĩ đến câu hỏi: Cái gì gọi là linh hồn khp6ng mất là gì nhỉ?  Khi còn sống bà nội tôi thường nói đến hai chữ luân hồi là gì nhỉ?  Có phải sau khi người ta chết, linh hồn tách ra khỏi thể xác lượn lờ trên bầu trời hay không?  Nếu đối ứng được, thì trong khi bay lượn lờ, gặp một con ong mật đem phấn hoa của cây này rắc vào phấn hoa của một cây khác, linh hồn ấy sẽ ở lại một cây mới sẽ mọc lên, còn khi cây mới mọc này cuối cùng đã chết, thì linh hồn lại bay lên trời, vừa may gặp một con lợn đực và một con lợn cái đang giao phối, linh hồn liền nhập vào, con lợn mới sẽ ra đời.  Nếu có hể như vậy, thì mọi thứ sống trên trái đất này đều bình đẳng, kiếp này tôi là người, liệu kiếp trước chẳng phải là một con lợn, còn kiếp sau thì sao?  Có lẽ là một con sói, con cá, một cây cỏ và một con hổ lớn trán trắng mắt xếch.  Tôi càng nghĩ viễn vông như vậy, càng tâm thần, tôi biết toàn bộ con người tôi không giống như một con cháu của Thương Châu, hay nói một cách khác, qủa thật đã phản bội các bậc tổ tiên dòng giống của mình, đã nảy sinh cảm giác thân thiện đối với sói mà ngay đến bản thân cũng cảm thấy ngạc nhiên.


Ở lại Châu Thành, tôi mới đột nhiên cảm thấy thư thái nhẹ nhõm, Tây Kinh đã trở nên xa vời đối với tôi.  Sáng dậy sớm không phải húp cháo mạch nấu đặc sệt như dỉ mũi, khỏi phải nuốt năm viên vitamin C và hai viên vitamin E theo yêu cầu của bà xã, buổi tối cũng khỏi cần nhất thiết phải đánh răng, rửa chân mới được lên giường, điều lạ lùng là bệnh lỡ khoang miệng mãn tính của tôi lại đỡ đi nhiều.  Nhưng vào buổi chiều ngày thứ ba, khi tôi sốt ruột đi đến trụ sở úy ban hành chính tìm ông chủ tịch Châu Thành hỏi bao giờ có thể gặp người thợ săn tổng điều tra kia, thì ông chủ tịch lại vỗ tay bảo đang định tìm tôi.


Ghê gớm qúa, Thương Châu sắp có chuyện lớn rồi – ông nói – Anh biết không, chuyện này sẽ chấn động cả nước, con gấu mèo lớn duy nhất nuôi ở cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ gấu mèo lớn tại thành trì cũ đã đi vào thời kỳ chuẩn bị sinh nở.


Ồ, vậy ư! Tôi đáp.


Hình như anh không xúc động thì phải?


Đương nhiên đây là việc vui mừng, nhưng tôi lại khát khao chụp ảnh cho mười lăm con sói hơn.


Nhưng chuyện này quan trọng, khẩn cấp, anh nên đến đó lấy tài liệu, ghi chép tỉ mỉ trạng thái sinh tồn, đưa tin cho đồng bào trong nước biết.


Tôi đã đi đến đó, kết qủa của việc này là con gấu mèo lớn đã chết trong lúc khó đẻ, con nó đẻ ra như con chuột rất đáng thương cũng chết nghoẻo trong chưa đầy hai tiếng đồng hồ.


Đây là lần buồn tình nhất trong cuộc đời đi lấy tin viết bài của tôi, nhưng ở đấy như một kỳ tích, tôi đã được gặp người cậu của mình.


Tôi đã đến cơ sở nuôi đẻ, chủ nhiệm Thi Đức và tốp chuyên gia khoa học kỷ thuật của ông đã tiến hành nhiều cuộc đo kiểm chất kích thích đối với con gấu mèo lớn mang tên là Hậu, phân tích số liệu và quan sát trạng thái hành vi trước khi đẻ, đã nhận định ngày đẻ chỉ trong vòng hai ba hôm.  Tôi nhìn con Hậu đã bỏ ăn sáu ngày, một con vật đần độn mà yếu đuối qúa thể, nghĩ bụng, tại sao lại đặt tên nó là Hậu?  Tôi không biết trong cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ khác của nhà nước có con gấu mèo nào tên là Hóng không? Nhưng con Hậu này trông sao mà khốn khổ khó coi đến thế.  Thi Đức đã giới thiệu rằng, động vật cô độc nhất trên thế giới phải nói là gấu mèo lớn, hầu như chúng đều sống đơn độc và không có tính dục, trong thời gian động đực ngắn ngủi, nhất định phải gặp đối tượng giao phối, gặp đối tượng giao phối chưa chắc đã xảy ra giao phối, bởi vì biểu hiện giao phối của chúng không phải là niềm sung sướng mà hết sức đau khổ, cho dù đã giao phối, song liệu có mang thai hay không, cũng hết sức mong manh, cho dù đã mang thai thì con gấu mèo mẹ nặng 100 kilô gam đẻ ra đứa con chỉ khoảng mười gam, tỉ lệ sống cũng chỉ là mười phần trăm.  Nghe vậy tôi hết sức ngạc nhiên, đầu tiên tôi nghĩ đến sói, sau đó nghĩ đến người.  Đến một ngày nào đó liệu loài người cũng sẽ rơi vào cảnh này?  Tôi đã đọc một tài liệu nghiên cứu, trong đó có viết, loài người đã bắt đầu thoái hóa, lượng thải tinh của một người đàn ông bình thường hiện nay so với lượng thải tinh ra của một người đàn ông bình thường trước đây năm mươi năm đã giãm đi một phần năm, độ loãng cũng giảm hai mươi phần trăm.  Lúc mới đọc tôi chỉ cười hì hì mấy cái rồi quên, khi đến cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ gấu mèo lớn, tôi lại cảm thấy một sự sợ hãi thật sự cũng khiến tôi coi trọng ý nghĩa của việc ghi chép tình hình sinh đẻ của gấu mèo lớn.  Tôi đã vào nhóm nghiên cứu của Thi Đức, bận rộn với việc sinh nở của con Hậu, qủa nhiên sang ngày thứ ba, con Hậu bắt đầu đẻ con, tôi đã ghi tỉ mỉ qúa trình sinh nở của nó:


Chín giờ năm phút, con Hậu vở ối.  Hậu tỏ ra đau đớn khó chịu, luôn luôn đi lại trong buồng đẻ, thỉnh thoảng lại nằm ngữa ra đất, nó cứ lăn quằn quại, lưng sau cong tớn, mông đít sưng tấy.


Chín giờ mười phút, con Hậu ở tư thế ngồi, bắt đầu kêu rên, khóe mắt ứ ra nước vàng, bàn chân trước chống đất, đầu gục xuống, sau đó cuộn tròn lại, mồm há ra, lưỡi cứ liếm nước ối chảy ra ở âm hộ và xung quanh.


Chín giờ hai mươi phút, con Hậu ngẩng đầu lên, tiếng rên càng thê lương, sau đó ngửa thân nằm xuống, thở hổn hển, không rên nữa, chỉ thở rốc, mắt đờ đẫn nhìn tôi.


Chín giờ ba mươi phút, toàn thân con Hậu tì sát vào vách tường, phát ra một chuổi tiếng kêu đặc biệt.  Tôi nhìn Thi Đức, Thi Đức cũng lắc lắc đầu, bẻ gẩy một đốt tre cầm trong tay.  Có thể là đau đớn khó chịu lắm, con Hậu lại lồm cồm lăn người đứng lên, song đã ngã lăn quay, nó lại bò dậy, đứng sát vào tường, hai chân sau cứ run lên bần bật.


Chín giờ bốn mươi phút, thân co vào phía trong, thành hình nửa ông trăng, bụng nó run rầy mạnh.  Chúng tôi ngửi thấy mùi sực nức.  Tôi khẻ hỏi Thi Đức, liệu có phải mổ bụng để đẻ không?  Thi Đức nói, thai nhỏ lắm, khi mổ bụng, dù chỉ một dồn nén nhỏ cũng gây nguy hiểm đến tính mạng của thai nhi, hơn nữa mổ ra, gấu mèo lớn khó phối hợp với người xử lý vết thương, một cơ sở ở Tứ Xuyên đã từng xảy ra chuyện vết thương không lành lại, đã làm cho gấu mèo lớn bị chết.


Mười giờ hai phút, con Hậu lại chống thân đứng dậy, đi đến cạnh cửa, ngồi xuống, năm khí quan co quắp, lại cúi xuống liếm nước ối ở âm hộ.


Mười giờ năm phút.  Miệng thở rốc.  Đột nhiên kêu lên trận xé tim rách phổi.  Thi Đức lập tức dặn dò:  Chú ý, sắp đẻ đấy, nhưng con Hậu lại nằm ra đất thở hồng hộc, kêu khóc như trẻ con.


Mười giờ mười phút.  Móng trước bám chặt lan can sắt, kêu rên dữ dội.  Thi Đức nói, gấu mèo lớn đẻ con chẳng ra quy luật nào cả, ngắn nhất là bảy mươi ngày, dài nhất có thể tới một trăm tám mươi ngày.  Chúng tôi đã theo dõi con Hậu hai tháng nay, trực ban hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong buồng đẻ, trước lúc đẻ thì luôn luôn ngồi chờ tại chỗ.


Mười giờ hai mươi nhăm phút, con Hậu vẫn dãy dụa, kêu rên.


Mười giờ hai mươi chín phút, con Hậu bắt đầu rặn, nhưng kêu rên dãy dụa rất dữ dội, rặn xong vẫn chưa đẻ được.  Mọi người căng thẳng tới mức vã mồ hôi, chuyên gia họ Hoàng luôn luôn ngồi xổm ở cửa có phần choang choáng, ngồi trên nền đất sắc mặt vàng như sáp.


Mười giờ ba mươi tám phút.  Thi Đức bưng nước đường gờlucô và chất năng lượng ATP bón cho con Hậu.  Con Hậu ăn uống một cách cố gắng mà cực nhọc.


Mười giờ năm mươi phút.  Con Hậu nằm phủ phục xuống, đầu ngả tì lên đất.  Nếu thời gian khó đẻ kéo dài, thai nhi bị chèn trong tử cung sẽ nguy hiểm đến tính mạng.  Thi Đức bàn với chuyên gia họ Hoàng mấy lời, rồi đi đến quyết định: Tiêm thuốc thúc đẻ.


Mười giờ năm mươi nhăm phút, tiêm thuốc thúc đẻ, chuyên gia họ Hoàng cầm xơranh tiêm, động tác nhanh gọn, con Hậu không bị hoảng sợ gây cản trở.


Mười một giờ mười ba phút, con Hậu gục đầu vào lan can sắt, lại tỳ át tường một cách nôn nóng không yên.


Mười một giờ ba mươi phút.  Ôi, giây phút chấn phấn lòng người đã đến.  Con Hậu đứng tại chỗ, hai chân sau đạp vào trong, nó rặn, cứ rặn nữa, rặn nữa!  Một cái gì nho nhỏ xuất hiện ở âm hộ, song lại, thụt vào, mặt Thi Đức xám ngắt, hai tay nắm chặt kêu lắc rắc.


Mười một giờ ba mươi ba phút.  Con Hậu lại tỳ đầu xuống đất một lần nữa, đúng rồi, rặn tiếp đi! Phụt một tiếng, một mạng sống non choẹt cuối cùng đã ra đời, đứa con rơi xuống đất.  Nó nhỏ quá, chỉ to bằng con chuột.  Con Hậu quay ngoắt lại, há mồm tha lấy con, đi gấp về phía chúng tôi mấy bước, song tự dưng gục xuống đất.


Sự ra đời của đứa con gấu mèo lớn không có tiếng khóc oe oe như trẻ con ra đời.  Hình ảnh mà tôi nhìn thấy là nó động đậy cánh mũi, có vẻ như cười, tôi còn đang ngạc nhiên, chưa giải thích nỗi điệu cười này, thì gấu mèo lớn đã lăn quay ra chết, tiếp theo con nó cũng nghoẻo luôn.  Thì ra nụ cười của nó là một sự trào lộng, nhằm chứng minh sự ra đời của nó là để thôi thúc cái chết của gấu mèo lớn.  Sự việc xảy ra khá đường đột, chẳng khác gì một tia chớp trong đêm tối, sáng lóe lên soi rõ tất cả, nhưng sau đó đêm tối càng tối hơn.


Gấu mèo lớn chết đi, để lại một lũ chuyên gia nghiên cứu gấu mèolớn.


Cơ sở chăn nôi chìm trong cảnh buồn thương lạnh lùng.  Tôi ném tung tập bản thảo ghi chép quá trình sinh đẻ, cầm máy ảnh đứng dưới hiên nhà, cái sân rộng lớn bỗng dưng quay tròn, y như cái mâm cối xay lớn đang quay xác con gấu mèo lớn hai màu đen trắng nằm chết trên ngưỡng cửa buồng đẻ.  Trên bầu trời bắt đầu có một đám mây màu chì, tôi nghi là linh hồn của gấu mèo lớn đã bay đi.  Bánh bao chưng trong nhà bếp xếp trên mâm đang bốc hơi ngùn ngụt, cuối cùng đã nguội lạnh.  Chỉ có con chó nhỏ Phú Qúi mồm ngậm khúc xương đi lại trong ân, nó đạp một chân sau vào cây đái xè xè một cách tỉnh bơ.  Thi Đức cùng đi với một người thợ săn đầu hói, sau đó người thợ săn đến nhà dân bản đèo về rất ngiều khoai tây chín, bỏ vào cối đá dã làm bánh, cái chày gỗ dã nặng nề mà chậm chạp.  Chuyên gia họ Hoàng mặc bộ quần áo rộng thùng thình, người ông ta đột nhiên gầy mảnh khảnh, lại cất giọng hát một điệu gì đó, vừa hát vừa chạy gằn đi đi lại lại, y như người bằng giấy trong các đồ tế lể ở thôn quê.  Đàn bà buồn thì đi rông, đàn ông buồn thì hát, tôi lo ông ta phát điên qủa nhiên ông điên thật, cứ ngửa mặt lên trời cười, cười mãi, rồi khóc rống lên, xô vào đánh nhau với bà con của chín gia đình dân bản kéo đến xem, thậm chí còn cuốn tấm da gấu mèo lớn vừa lột ra vào thân thể trần truồng của mình, để bộ sinh dục vừa đen vừa xanh thò lủng lẳng ra ngoài.  Đi theo chuyên gia Hoàng là các đồng chí của ông, bọn họ ôm chặt ông, song không ôm nổi, nên phải luôn luôn dùng một mảnh vải che lấp bộ sinh dục của ông và bảo: Chết rồi thì thôi, chẳng phải còn có clone, sinh đẻ vô tình cũng được cơ mà, ông vẫn có thể tiếp tục làm chuyên gia chứ sao!  Chuyên gia Hoàng là trợ thủ của Thi Đức, mấy chục ngày hầu hạ gấu mèo lớn, thức tới mức tròng mắt thâm quầng.  Tôi đã từng trêu ông:  cứ thế hầu hạ tiếp, ông cũng sẽ trở thành gấu mèo lớn! Ông bảo, ông đâu có cái hơi sang của gấu mèo lớn, lúc mẹ ông đẻ, ông  rơi bên cối xay, phân lừa kéo cối xay bám đầy người, ông nói: “Gấu mèo lớn đẻ gian nan đến vậy, tôi hận không thay thế được nó”.  Thi Đức giới thiệu, chức danh hiện nay của chuyên gia Hoàng còn là phó nghiên cứu viên, ông luôn tham gia toàn bộ qúa trình thụ thai, sinh nở của gấu mèo lớn lần này với niềm hy vọng tràn đầy là lấy thành qủa đó xin xét chức danh nghiên cứu viên.  Bây giờ ông đã hóa điên.  Anh em đè ông ra đất, cởi bỏ tấm da gấu mèo lớn, cưỡng bức ông mặc quần áo vào.  Thi Đức không còn dám để chuyên gia Hoàng ở riêng nữa, mà chuyển sang ở cùng phòng với mình.  Như vậy là người thợ săn luôn ở chung với Thi Đức sẽ dọn đến ở buồng tôi tại chiêu đãi sở.


Thật ra, chiêu đãi sở được cải rạo từ một gian nhà kho, ở trong kê năm cái phản nằm.  Tôi vẫn chưa nói chuyện với người thợ săn.  Sau khi người thợ săn bước vào, tươi cười với tôi, rồi treo khầu súng săn lên cái que gỗ cắm ở tường, ngay sau đó con chó tha bó da sói vào, đặt da sói lên giường, hai chân sau nó đạp đất rướn thẳng chân lên, hai chân trước chắp vào lạy da sói, xì xồ như nói gì đó.  Người thợ săn vẫy tay một cái, con chó quay ra ngoài.  Người thợ săn dải tấm da sói, ngồi lên trên, tựa vào tường, rồi khò khò ngáy luôn.  Nét quái dị của người thợ săn và con chó làm cho tôi rất đỗi ngạc nhiên.  Sáng trăng vằng vặc chiếu vào cửa sổ,bốn vó của da sói phủ rải và thỏng xuống mép giường, đầu sói giơ nanh múa vuốt đắp lên đầu giường.  Tôi ngắm nghía người thợ săn, mũi to, mày rậm, hai má hơi bạnh, mồm nhỏ lại đỏ tươi, trông có vẻ buồn cười, nhất là hai chân thô lùn tìn tịt, chổ cẳng chân sù hẳn lên, bạn không thể thưởng tượng nôi đôi chân béo như thế tại sao lại trở thành người đi săn. Người thợ săn tựa vào tường há mồm ngáy khầng khậc, hình như ở trong cổ họng luôn luôn có một cục đờm, cứ đưa lên kéo xuống, cản trở hít thở.  “Này, này” Tôi gọi mấy tiếng, định bảo hãy nằm xuống cho dễ ngủ, có lẽ cục đờm sẽ xuôi đi, song người thợ săn luôn luôn không động đậy, tiếng ngáy rền như sấm, hơn nữa còn luôn luôn phì hơi.  Ở đầu sân xa xa, từ trong buồng của Thi Đức vọng lại tiếng cười rú lên và khóc chửi của chuyên gia Hoàng.  Con chó Phú Qúi ở ngoài cửa sủa hai tiếng gâu gâu.  Ong chốc trở nên yên ắng, người thợ săn chợt tỉnh, mở mắt nhìn thấy tôi vẫn ngồi ở trên giường dưới ánh trăng, nét mặt tỏ ra nghi hoặc.


Đồng chí chưa ngủ ư? – Người thợ săn hỏi – do tôi ngáy thì phải?


Không, do tôi không ngủ được đấy ạ! Tôi đáp – Bây giờ mới bốn giờ, bác đã thức dậy.


Lông sói đã dựng cả lên rồi!


Lông sói ư?


Người thợ săn bảo tôi lông sói đã làm bác tỉnh ngủ.


Anh nhìn mà xem này.


Trăng tuy sáng, song không trông rõ sự thay đổi của lông sói. 


Người thợ săn giật công tắc bật đèn, trên da sói những chiếc lông vàng óng ở lưng đứng dựng cả lên suốt lượt.  Trong cơn kinh hãi tóc người ta đã dựng đứng lên.  Nhaưng sau khi sói chết, linh hồn đã bay đi, tại sao lông trên da sói lột ra vẫn còn dựng lên được?


Anh đã ăn cặc lừa chưa?  Cặc lừa khô ngâm nước nóng nó sẽ nở ra duỗi khỏi mép đĩa, người thợ săn nói – Lông sói dựng cả lên chắc chắn có chuyện gì đó chứ!


Người thợ săn vốn đá quái dị, lại nói những lời như thế, tôi có chút sờ sợ, lập tức xuống giường xỏ giầy, song đã xỏ ngược.


Anh làm sao thế?


Tôi…


Anh ngủ đi, ngủ đi,


Tôi làm sao ngủ được cơ chứ.  Người thợ săn càng bình tĩnh tiếp chuyện tôi, tôi càng sợ, mặt có phần tái đi.  Bac bước tới vỗ vỗ vào vai tôi, liền gọi “Phú Qúi, Phú Qúi!” Con chó Phú Qúi từ ngoài cửa chui vào, sủa ba tiếng: gâu, gâu, gâu!  Bác thợ săn quay ngoắt người cầm khẩu súng treo trên tường, vi vàng đi ra.  Hơn mười phút sau bác trở lại bảo:


Không có chuyện gì, không có chuyện gì, con sói số bảy và số tám di chuyển địa điểm ấy mà!


Sói di chuyển địa điểm ư?



 



 





(còn tiếp)


Nguồn: Hoài niệm sói. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Biên tập: Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003.


www.trieuxuan.info


 



 



 


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »