tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
08.12.2008
Giả Bình Ao
Hoài niệm sói

 Tôi mặc chiếc áo sơ mi sọc đỏ, bên ngoài đánh chiếc áo lót di lê khâu rặt túi là túi, đầu đội một cái mũ, loại mũ lưỡi trai cứng quạo và dài ngoãng, lại còn đội ngược lưỡi trai che gáy, trước ngực khoác lủng lẳng một hay hai cái máy ảnh, dường như định làm nhà nhiếp ảnh!  Thật ra tôi biết tỏng mình chụp có ra cái quái gì, chẳng qua là lừa người dối mình, không để rơi mất cái tước hàm Văn nhân mà thôi.  Trong thành Tây kinh vẫn phồn hoa như xưa, không có xu6an hạ thu đông, không có hai mươi bốn tiết khí, ngay đến ban ngày ban đêm cũng khó phân biệt rõ với các dạng các kiểu, con người bao giờ cũng chen chúc xô đẩy trong các phố lớn ngõ nhỏ, hơi người này thở ra thì người kia hít vào, hội họp vẫn liên miên ngày nọ sang ngày kia, cơn bực dọc vẫn không phải đến từ một chỗ, nhưng tôi biết chửi mắng ai?  Trong trận chiến đấu không có kẻ thù, tôi tìm không ra đối thủ.  Tối hôm qua, lại uống một hũ rượu buồn, cười mà bảo, bình xét chức danh cao cấp đợt này mình định rút lui, chỉ  có si tình khó học thành phật, một mình không khúm núm, nịnh bợ thì chẳng bằng người!  Cô vợ lại luôn mồm kể lể nào chuyện nhà ở, chuyện ô tô, nào chuyện thời trang gì đó lại lưu hành trên đường phố, tào lao xong, cô ấy bắt đầu bnôi kem dưỡng da panama gì đó lên mặt.  Tôi thì  cứ dùng bộ điều khiển từ xa tìm hết băng tần này đến băng tần khác trên máy vô tuyến truyền hình, cho đến khi toàn bộ chương trình phát kết thúc.


Sáng dậy soi gương chải đầu, một khuôn mặt nhão nhào trắng bợt, trên cằm mấy sợi râu lưa thưa, soi gương tôi chán ngán cho chính mình.  Trong báo cáo của Sở nghiên cứu di truyền có nói, đàn ông sống ở thành phố ba đời trở lên, sẽ không bao giờ mọc râu dài, trông thằng con trai ngồi trên giuờng xếp trò chơi trí uẩn suốt ba tiếng đồng hồ không nói một câu, tưởng tượng nó sau náy sẽ là một chàng trai bơ sữa luôn bị tôi chê cười, trong lòng bỗng dưng có cảm giác buồn buồn.  Chà, sống ở thành pố này, nên nói thế nào nhỉ?  Đối với tôi, đặc biệt là linh hồn tôi đối với thể xác tôi, nó bố trí linh hồn trên thể xác xấu xí mà làm cho tôi trở nên xấu xí, nhưng không cần thể xác này thì tôi sẽ là gì?  Nếu không có việc do tranh giành tiên tiến mà được cử đi Thương Châu lấy tin viết bài vào tháng tư đầu mùa hè, đồng thời từ Châu Thành, nơi có Trụ sở ủy ban hành chính Thương Châu lại đi một chuyến đến huyện lỵ cũ Trấn An, thì việc nhân sự của Thương Châu, đối với tôi cứ gọi là xa vời vợi, vời vợi, còn mạng sống của tôi từ đó cũng sẽ rơi rụng ở Tây Kinh, giống như một chiếc lá rụng xuống đất bùn của mùa đông, trông thấy nó mục nát đến mức chỉ còn một vòng tròn đường gân, có nhặt lên đi chăng nữa, cũng không sao nhặt nổi.


Là sói – Tôi nói – Chính sói đã đốt lên lửa nhiệt tình của tôi trởi lại với Thương Châu, cũng do đó mà sốt sắng với đời sống.  Thế là câu truyện mới bỗng dưng hình thành.


Tai liệu bối cảnh của câu truyện là thế này: Bởi vì nguyên nhân khí hậu miền Nam Thương Châu đã từng là khu vực sói hoang tàn phá nặng nề nhất, có tiếng tăm như miền Tây bắc Thương Châu thường nuôi một loại lừa chân lùn, vế thói quen truyền thống, người ở vùng Tây bắc được gọi là lừa Tây bắc, người ở miền Nam thì gọi là sói núi Nam, người ở Châu Thành năm nào cũng cần than gỗ sưởi mùa đông, chợ than ở trên bãi rộng ngoài cửa Nam thành phố, họ đến bão rộng gọi mua của những ông bán than có đôi tóc mai bạc phơ, mười ngón tay đen nhẻm, họ hỏi, người Trấn An phải không, hay là dân huyện Tạc Thủy, huyện Sơn dương?  Ông bán than đáp phải, tại sao anh biết?  Bọn họ liền cười.  Người sống ở ven biển ai cũng có dáng như ba ba rùa biển, người sống ở bình nguyên thường có khuôn mặt giống như bò như ngựa, người ở huyện Trấn An, Tạc Thủy và Sơn dương thuộc miền Nam Thương Châu gần như ai cũng da mỏng xương cứng, tai nhọn, mắt hoặc ba hoặc bốn phần lòng trắng.  Dở xem huyện chí của ba huyện nói trên, lần lượt ghi chép, mảnh đất giao giới của ba huyện thành hình tam giác, ngày xưa đã từng bị sói tàn phá mà hủy diệt cả một huyện lỵ cũ của ba huyện gộp lại.  Hơn mười năm trước tôi đã đến nơi đó, trên đỉnh núi cao cách mặt biển hai ngàn mét, ở giữa khoảnh đất bằng phẳng chung quanh có núi non bao bọc là một thành trì đổ nát, từ đông say tây dài năm dặm, từ nam đến bắc rộng hai dặm, hình dạng như con thuyền.  Trong thành trì chỉ còn lại chín gia đình, trước một ngôi nhà đòi Thanh có một cây quả trắng cao chót vót ba mươi mét, lá rụng ngợp đất trông như ngôi nhà nhỏ.  Trên tường thành sụt lở còn có ba cửa thành lùn tịt, trên một cửa có hai chữ “Cảnh dương”, một cửa khác có hai chữ “Diên huân”, cón một cửa nữa trên biển kẻ chữ gì không biết, đã bị thứ phân loãng của chim đại bàng chim diều hâu phủ kín, trắng xóa như quét vôi.  Nhưng ở ngoài cửa thành này mới xây một nhà gác ba tầng nho nhỏ, nghe nói định bỏ tiền xây dựng một cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ gấu mèo lớn, sẽ có một lượng lớn nhân viên làm công việc khoa học kỹ thuật nghiên cứu gấu mèo lớn đến ở.   Tôi đã từng ăn một bữa cơm ở cả chín gia đình, bữ nào cũng có koai tây hấp chín chấm bột muối, húp một thứ canh sền sệt hầm bằng hạt ngô, húp xong còn thè cái lưỡi dài dài liếm bát sạch sành sanh.  Họ bảo tôi, đời sống cơ cực lắm, sở dĩ còn chưa dọn xuống núi, là vì sắp sửa có hàng loạt nhân viên khoa học kỹ thuật đến ở, có lẽ huyện lỵ sẽ được xây dựng lại từ đây.  Dân bản đã dẫn tôi ra ruộng mạch xem những cây bách cổ, những tấm bia sứt mẻ, tháp Phật và cọc đá buộc ngựa, lại còn được xem một lò đốt giấy sạt mất một góc, bảo là để các quan huyện thời đó đốt các văn bản hủy bỏ.  Tôi ngồi trên đống đá lộn xộn dưới cổng “Cảnh dương”, dơ chân hất hất, hất ra một viên đá xanh, lờ mờ đọc ra được mấy chữ “Đạo quang ngũ niên” khắc trên đá.  Tưởng tượng ra cảnh tượng ngày xưa của thành trì này, nhưng tự dưng đâm hoảng: cả một thành trì lại bị sói hủy diệt được sao?  Đầu tiên tôi cho rằng chắc chắn đây là một chuyện hão, bởi vì đầu thế kỷ này ở Trung quốc xảy ra một cuộc loạn phỉ nổi tiếng, cầm đầu Thổ phỉ là tên Bạch Lãng, nạn phỉ càn quét hẳn một nữa lãnh thổ đất nước, liệu có phải huyện lỵ cũ này đã bị phá hủy trong cuộc loạn phỉ đó, còn dân gian thì gọi Bạch Lãng chệch đi thành Bạch Lang, có nghĩa là sói trắng chăng?  Nhưng cả chín gia đình đều đồng thanh nói, không phải người, mà là sói đã tàn phá, lớp người già kể lại, thời ấy sói đông lắm, hàng ngàn hàng vạn con sói vây hãm thành trì, tiếng rống như lũ quét gầm rú, đến nỗi phải đóng chặt bốn cổng thành, trên tường thành còn đốt từng đống lửa, từng con hào lửa nối tiếp nhau.  Người ta đã từng quẳng xuống tường thành hàng chục hàng trăm con lợn con cừu, người chết vì tiền của, chim chết vì mồi mà định để xua đuổi bầy sói đi, nhưng lợn và cừu trong chốc lát bị cắn nuốt sạch, ngay đến một mảnh lông da, một khúc xương cũng không bỏ sót.  Sói vẫn vây thành không đi.  Dưới ánh trăng, ngoài cửa Đông thành phố sói đứng đen ngòm, tất cả mắt sói đều phát ra ánh sáng màu xanh, chúng bắt đầu công kênh nhau leo lên tường thành.  Người ta ném đuốc xuống, ném gạch đá, bắn súng hỏa mai, sói chết lớp nọ đè lên kia, lại có những con chổng mông lên đánh rắm tum tủm, phân lỏng phun cả vào thân người đứng trên mặt tường thành cao tám chín mười mét.  Trong lúc người và sói cầm cự với nhau ở đây, thì ai ngờ có một bầy sói lông đỏ, có lẽ là đội cảm tử của sói đã chui vào thành từ đường ống thoát nước ở cửa Nam, cắn chết mấy trăm phụ nữ và trẻ em, nhưng đồng thời cũng chui vào một loạt quân đồng minh của sói.  Đó là những con sài, được gọi bằng cái tên “Sài cẩu”, hình dáng giống chó sói song nhỏ hơn, bầy sài này chuyên nhặt, xé, móc lỗ đít ngựa trâu bò và lừa moi ruột ra ăn,bỗng chốc thành trì sụt lỡ.  Từ đó trở đi, sói không bao giờ còn tấn công vây hãm huyện lỵ cũ với quy mô lớn nữa.  Tuy đã tu sửa lại con sôpng vây quay thành phố, bịt kín tất cả các cửa đường ống thoát nước, nhưng rút cuộc dân trong thành đã bỏ chạy quá một nửa, huyện lỵ cũ cũng không bao giờ còn cảnh phồn vinh ngày xưa.  Nửa năm đã trôi qua, phân loạng sói trắng xoá vẫn còn bám khô trên gạch tường thành, trên đường phố thỉnh thoảng còn nhìn thấy những đống phân khô cứng, dậm vỡ ra, ở bên trong có móng tay và răng lợi của người, có người ăn cơm trong quán, mồm nhai thức ăn bỗng có cản giác là lạ, lè ra xem, thì thấy có lông sói còn kẹp trong mób ăn.  Năm thứ năm sau tai họa sói, thì bắt đầu có loạn thổ phỉ Bạch Lãng, mùa thu năm ấy bọn phỉ vào thành, giết non một nửa số người còn lại, đốt trụi nhà ở của ba đường phố, thân thể của lão tri huyện béo phị đen sì còn ngồi trên ghế bành của nhà lớn, thì cái đầu đã bị xách đi treo ở trên cổng thành cùng với hàng trăm đầu lâu khác, trong mỗi cái đầu lâu còn nhét cả cái dương vật của người đó.  Huyện lỵ cũ bị hủy bỏ hoàn toàn, khu vực hành chính cũng chia thành ba huyện nhỏ là Trấn An, Tạc Thủy và Sơn Dương, mỗi huyện nhỏ lại có huyện lỵ riêng.


Trong cuộc loạn phỉ phá thành có một gia đình họ Phó, anh em chia nhà ở riêng.  Người anh cả  ở cửa hàng lương thực, gia cảnh đuỳnh huỳnh, đẻ được một người con gái, từ lúc còn bé đã mời thầy đến nhà dạy chữ.  Người anh thứ hai buôn bán bông, không trồng bông trên đỉnh núi cao mà mua với giá rẻ từ Bình Xuyên về bán với giá cao ở trên núi, 1uanh năm gánh lồng bông bằng cái đòn gánh cong tớn hai đầu, vừa đi vừa rao:  Bông nào, bông nào! Anh ta đối xử với mọi người thật thà, song tính tình nóng vội, thường thường nghe thấy tiếng rao, bà già nhà ai đó cầm tiền ra mua, thì anh ta đã đi xa, bực qúa liền mắng cho một câu: Đồ chết rấp, làm gì mà vội thế, hkông biết đi dạo chơi thành phố hay là đi buôn vậy?


Buôn bán làm ăn chẳng ra làm sao.  Khi xảy ra tai họa sói, chủ cửa hàng lương thực ban đêm vác súng hỏa mai canh giữ tường thành, chị vợ vốn đóng cửa ngủ trong nhà, nửa đêm thức dậy đi tiểu, trong nhà để sẵn bô, nhưng sợ dây bẩn, liền ra nhà xí ở đằng sau cửa thải phân của nhà xí mở ra ngoài, một con sói đang chui vào, vuốt sói đã cào nát nửa người bên dười của chị, do mất qúa nhiều máu đã bị chết.  Lúc có loạn phỉ Bạch Lãng, thì một đội phỉ lại thi nhau hãm hiếp con gái anh ta ở trong cửa hàng xay xát, sau khi bọn phỉ rút đi, một bà hành xóm dùng đế giày hơ nóng chườm âm hộ, chườm ra hẳn một bát tinh dịch.  Còn người em thứ, sau khi thổ phỉ rút đi, đã mất tăm mất tích, sống không thấy người, chết không thấy xác, bà con đường phố ai cũng bảo, nếu không bị Bạch Lãng lôi đi, thì cũng bị sói ăn thịt, vợ anh ta truớc sau không chịu tin, luôn luôn cảm thấy chồng vẫn sống, sẽ có hôm nào đó về rao ở cổng:  Bông đây, bông đây!  Nhưng đáng thương cho đôi chân bé nhỏ xíu của người vợ này đã đi khắp mọi nơi, hỏi thăm tất cả những ai đã gặp, hơn nữa hể thấy đâu có miếu là vào thắp hương cúi đầu bái lạy.  Cùng với cuộc xây dựng mới thành Trấn An, chị cũng đắt một trai một gái đến Xuyên Đạo, ở Xuyên Đạo tuy sói ít hơn trên đỉnh núi, song vẫn gặp sói giữa ban ngày ban mặt, Hơn nữa, sói còn đóng giả chó giả người, mấy lần bị mê hoặc.  Ba mẹ con nghe nói trên nột quả núi còn có một ngôi chùa lại đi cầu khấn, giữa ngày mưa, đã chui qua một bãi ngô, bị mép răng cưa lá ngô cào sây sát mặt và hai cánh tay họ, nước mưa lại chảy theo mũi lá rơi vào vết thương đau rát rạt buốt tê tái.  Chị sai con gái đi trước, tay cầm chặt chiếc gậy gỗ, luôn mồm dặn đi cẩn thận, không chạy tản mát, còn đứa con trai cõng trên lưng, thì dùng dải vải cuốn vào mình ba vòng thật chặt mà vẫn còn sợ sói ở đằng sau bắt mất con, liền để hai chân cậu bé cố gắng thò ra phía trước, để hai tay chị nắm lấy.  Bùn đất dính bệt vào đế giày đóng thành tảng, cứ phải lê từng bước, giầy của cô con gái nhanh chóng lún trong bùn không nhấc lên nổi, đã bị mất.  Tuy mẹ luôn mồm giục đi mau lên, song con gái cứ phải dừng lại gải đầu mọc đầy nhọt mưng mủ và cúi xuống nhổ rau bướm gai mọc trên đất nhét vào mồm, nước xanh vãi cả ra mép.  Có lẽ nó đói ghê lắm, nên tiếng nhai rất to, hoàn toàn không chú ý đến mộtg con sói đang đứng ở ụ đất trước mặt, con sói cũng đang nhai, mồm to như cái gáo, há ra ngậm vào hơi so le.  Người mẹ hét lên một tiếng, con gái ngẩng lên nhìn thấy hai cục sáng xanh len lét trong màn đêm, họ đứng sửng lại, không ai nói gì,tiếng nhai cũng mất.  Trong nương ngô ánh mắt người và sói cứ trừng trừng nhìn nhau lâu lắm, chân người đàn bà lún sâu trong đất bùn, người chị lùn hẳn đi, còn sắc mặt bắt đầu đỏ, mắt cũng đỏ lên, đỏ tới mức như màu tương ớt , mái tóc buông thỏng dựng hết cả lên, không có gió, song đứa con cõng trên lưng nghe rõ tiếng đồng lạnh ngăn ngắt của cái chiêng đang lắc lư.  Xoẹt một tiếng, sau đó là mùi hôi thối xộc vào mũi, con sói đã ỉa một bãi phân lỏng, có lẽ con sói đã bị mái tóc của người đàn bà dựng ngược lên làm khiếp sợ đờ đẫn ra, có lẽ bản thân con sói đang ốm, ỉa ra một bãi phân loãng rồi ngồi xuống đất, sau đó lại đứng lên, kéo cái đuôi lấm bê bết đi khỏi.


Cũng trong đêm hôm ấy, họ đã gặp một người hàng xóm ở huyện lỵ cũ trong chùa, người hàng xóm cũng đến cầu nguyện cho người nhà bị mất tích, người ấy bảo:


Gánh bông chết rồi.


Gánh bông là biệt hiệu của chồng chị.  Chị nói ngay:  


Bac doạ tôi.  Bac đừng doạ tôi thế.


Người hàng xóm bảo thật đấy, ở cửa rừng đèo Tắc giáp, bọn phỉ đã trói vào cây hơn hai trăm người, không giết ai, chỉ để làm mồi nuôi sói, sói đã ăn vú và mông, cũng có người bị moi tim phổi ăn.  Gánh bông có cái đầu to, trên cổ có một sợi thừng buộc chặ lắm, cái đầu vẫn còn ở trên cây, nhưng từ cổ trở xuống cũng không còn gì nữa.


Tôi đã nhìn thấy mà – người hàng xóm nói – Đây là số của anh ấy, đẻ ra một cái đã mày ngắn mắt dài là tướng chết non, chị phải hận anh ấy, hận anh ấy đã bỏ chị ở giữa đường.


Người đàn bà ngắc ngứ một trận trong cổ họng, một dòng máu đen phun ra khỏi mồm, đứa con gái đã nhìn thấy một con bướm đỏ đang bay trên trời, bướm đậu trên tường đá nhà chùa, mỗi lúc một to,mỗi lúc một to, cái đầu của mẹ liền đập vào chân con gái, con gái kêu lên một tiếng “mẹ”! Cặp mắt của mẹ cô bé hoàn toàn trắng dã.


Loạn phỉ và họa sói đã hủy diệt một huyện lỵ, mà một gia đình nào trong đó đã chịu số phận bi thảm, cứ mở sách chí của các huyện ở miền Nam Thương Châu ra xem hầu như có thể tìm được những ví dụ như thế ở bất cứ chỗ nào.  Trong ba bốn chục năm từ thế kỷ trước đến đầu thế kỷ này, loạn phỉ ở Thương Châu không dưới mấy chục lần, mà trong mỗi cuộc loạn phỉ thì sói lại gây họa cực lớn.  Những tên cầm đầu thổ phỉ cũ dần dần bị người ta lãng quên cùng với sự trổi dậy của tên đầu sỏ thổ phỉ mới.  Những cảnh dã man, hung tàn và sự truy đuổi đối với máu thịt của sói thì như một cái đinh cứ lún sâu từng tấc từng tấc vào trong ý thức của mọi người.  Tội ác của chúng rõ ràng như thế.  Tôi đã đến Thương Châu ba lần, đã từng đang ngồi xếp bằng ăn cơm tối trong sân của một gia đình, thì ở đầu thôn có người hét: “Sói đến đấy!” Mọi người trong sân bó bát đũa đứng cả dậy, cổng đóng sầm lại, cửa sổ trên tường chái cao hơn đầu người cũng được đóng chặt.  Khi cả nhà đã vào bên trong, chủ nhà nghi ngờ hỏi:


Sói đến thật à?  Bao năm nay sói chưa vào thôn lần nào.


Vác con dao bổ củi sáng loáng chạy đi, quả nhiên cuối cùng chứng minh không có chuyện sói vào thôn.  Tuy chỉ là một đòn kinh hãi, song đã làm cho đám người nhốn nháo hoảng loạn giống như có ai đó trong thành phố đột nhiên hét toáng lên có động đất.  Mà cho đến bây giờ trong mọi gia đình, nếu có trẻ em nô khóc thì bọn người lớn liền dọa: “còn khóc nữa sói sẽ đến đấy!”  Tiếng khóc lập tức im bặt, tuy những đức trẻ này chưa nhìn thấy sói bao giờ, cho đến già, cà một đời người cũng có thể chưa bao giờ nhìn thấy sói.


Xin được tiếp tục kể chuyện về người phụ nữa kia, chị ta rút cuộc bị uất ức mà chết, song con gái và con trai chị ấy thì sống cơ cực lắm.  Đứa con gái được người hàng xóm gặp ở chùa nhận nuôi, không bao lâu theo bố nuôi buôn bán lên tỉnh thành, được hưởng sung sướng, đứa con trai không ai nuôi cứ lang thang đi xin ăn mà lớn dần, cuối cùng đã trở thành một thợ săn có tênntuổi.  Thợ săn ở Thương Châu bốn mùaxuân hạ thu đông đều phải cạo trọc đầu, chân cuốn xà cạp, đi giầy đay, áo hai vạt bằng vải thô đen, tuy có cúc nhưng không cài, dùng một cái thắt lưng thít chặt, thắt lưng dệt bằng sợi nhung trắng dài một trượng hai, khoác khẩu súng săn, dắt con chó săn.  Đương nhiên là chó địa phương, đầu nhỏ lưng thon, chân rất dài, từ lúc còn bé đã cắt đứt đuôi, dáng dấp đen sì xấu như ma mút.  Người đi săn cả một đời săn bắn thú rừng, lúc đẻ con trai, anh ta dùng lông da ngực của một trăm con sói bện thành một cái nệm rất to, phủ kín cái giường lò rộng năm thước dài tám thước, lại còn trùm cả xuống đất.  Con trai lên năm tuổi trở đi, bố đã dẫn đi săn, dạy thằng bé tự tay lột da sói, đôi tay non choẹt thọc vào khoang bụng của con sói bị lột da còn nóng hôi hổi móc ruột ra, để máu bắn lên mặt lấm tấm như hoa đào.  Thằng con lớn nhanh như thổi, điển trai và oách hơn bố, đã trở thành đội trưởng đội săn bắt của Thương Châu.  Lúc đông nhất đội săn bắt lên tới hàng trăm người, quanh năm suốt tháng, họ đi quaChâu qua huyện,   trên người có hơi hung sát, đi đến đâu, động vật hoang dã hoặc ngửi thấy mùi là bỏ chạy, hoặc tụ tập lại báo thù, diễn ra từng câu truyện vừa oanh liệt vừa lý thú lưu truyền trong dân gian.  Chính quyền địa phương chưa bao giờ đầu tư cho Đội săn bắt, song Đội săn bắt có ăn có uống , anh nảo cũng giàu, hơn nữa còn xuất hiện nhiều cửa hàng da chín, nuôi sống khá đông người, thậm chí còn lập một xưởng bút lông sói ở trong thành Thương Châu, xưởng bút lông sói ở nơi khác đều dùng lông chồn lông sóc, còn của họ tuyệt đối là lông sói chính cống, đương nhiên buôn bán càng sầm uất.


Nhưng anh thợ săn điển trai oai vệ bước sang tuổi bốn mươi hai, thì sói càng ngày càng ít, đội săn bắt lần lượt giảm người, đến nỗ ngay cả bản thân họ cũng rất khó nhìn thấy sói.  Mùa đông năm ngoái, ủy ban hành chính Thương Châu đã công bố về việc bảo vệ động vật hoang dã, cấm bắt giết sói, tự nhiên giải tán Đội săn bắt, nghe đâu xưởng bút lông sói cũng đóng cửa theo.  Đội trưởng Đội săn bắt cuối cùng nhận nhiệm vụ phối hợp thu nộp súng săn còn phân tán ở trong các gia đình săn bắn toàn Thương Châu và điều tra số lượng sói còn tồn tại ở cả Thương Châu.  Trong quá trình thu nộp súng săn, gần như anh đã phải cãi nhau với tất cả những gia đình săn bắn.  Thu nộp khẩu súng cuối cùng là ở eo núi Bảy dặm, trời đổ mưa, trên nhà tấm đá, mưa tong tả rích suốt đêm, anh đã nằm mơ trên giường lò tấm đá nóng hổi: vài trăm con sói xúm quanh bàn với anh về da, giọng nói dịu dàng, dai dẳng, hơn nữa con nào cũng chấm đầu ngón chân vào mu bàn tay anh như yêu như giận, nhưng vài trăm lần động vào một chỗ, nên thịt ở mu bàn tay anh nát bét, xương trắng lộ ra ngoài.  Anh giật mình tỉnh giấc, mồ hôi toá ra đầm đìa.  Điều lạ lùng là cũng giữa lúc anh nằm mơ, thì người chủ nhà này sau khi giao nộp súng, đi ra suối múc nước vào lúc tang tảng sáng, trên vách đá sau suối có một con sói đang ngồi, đây là con sói trẻ đẹp, lấy nước suối làm gương soi, dùng móng vuốt chải lông trên người.  Người chủ nhà lập tức nằm sấp xuống đất, ở vào tư thế dương súng bắn, nhưng trong tay không có súng, chỉ có cái đòn gánh nước.  Con sói nhảy xổ tới.  Sói định há to mồm bằng cái chậu tiết, nuốt trửng đầu người, nhưng cái đầu chỉ tỳ đến chỗ sâu nhất trong khoang mồm, cuối cùng người đi săn đã chen con sói vào chân vách đá, cho tới lúc sói ngạt thở mà chết, còn người cũng chết luôn vì mất máu quá nhiều.  Anh đã nuốt nước mắt chôn cất người thợ săn này, lột tấm da sói đó địu trên lưng, đi tổng điều tra sáu tháng giời.  


Tấm da sói này đã làm chăn nệm khi anh ta đi công tác ở ngoài, cứ đến một nơi dải ra ngủ, vừa chống rét, vừa cách ẩm, nhưng thường ngứa ran khắp người trong giấc ngủ, ngồi dậy nhìn, thì lông sói dựng cả lên.  Mới đầu anh không để ý, cho là do da chưa chín, nhưng mỗi khi xảy ra việc gì, lông sói liền sù lên, không làm sao dùng tay vuốt xuống nổi.  Có một lần, rút cuộc anh đã mời người đàn bà anh thầm yêu nằm lên da sói, thất bại rồi, anh mới rõ thì ra chính mình đã bất lực như vậy, khi người đàn bà khóc bỏ đi vĩnh viễn, thì lông sói cũng sù lên, cứng như dăm lúa mạch.  Anh đã vụt đã đánh tấm da sói, dưới trăng sáng gió mát, truyện đã qua trở thành một món lương khô có nhai đến mấy đi chăng nữa cũng không nhai hết, từng giọt từng giọt nước mắt cay sè bỗng dưng rơi xuống.


Lại nửa năm trôi qua, trong danh sách các thành viên của ủy ban bảo vệ môi trường sinh thái thuộc ủy ban hành chính Thương Châu có tên anh, nhưng anh không lân Châu Thành.  Phó Sơn mà người ta nhìn thấy, dắt con chó, ngồi uống rượo một mình ở trong một quán nhỏ cạnh đường cái quan.


Đội trưởng, đội trưởng!


Gọi đội trưởng, anh không trả lời, trân cái đầu xanh xám một đôi tai vừa nhọn vừa rủ xuống, mà còn cao hơn đuôi lông mày, khi gọi anh là Phó Sơn, thì cốc rựou cầm trong ba ngón tay dừng lại ở giữa chừng, hai tay run rẩy, nhưng vẫn không chịu quay mặt lại.  Anh uống nhiều rượu, cơm ăn càng nhiều, bánh bao nhân củ cải xếp lù xù một đĩa to tổ bố chỉ ngấu nghiến một lát là hết nhẵn.  Con chó thì bắt rồi ở dưới gầm bàn, bọp một tiếng, bàn chân trước vỗ lên tường ở sau bàn,từ trên tường rơi xuống không phải con ruồi, mà là cái đinh nó điên tiết sủa gâu gâu!  Trong quán cơm ở cạnh nhà có tiếng cãi chửi nhau ồn ào, bên ấy nhốn nháo một cái là có người chạy sang nói:


Phó Sơn ơi, Phó Sơn, thằng mặt sẹo lại đến gây sự.


Phó Sơn vẫn ngồi im, rượu đổ lên bàn, anh cúi đầu xuống xì xụt hít cạn, con chó bắt đầu nằm xuống, duỗi cái lưng dài dài.  Mọi người không gọi được Phó Sơn sang, nhà bên kia nổi lên tiếng đập bát đĩa vở xoang xoảng, những người kéo đến xem kêu ối một tiếng chạy átn loạn.  Phó Sơn lao người đi, đi đường bao giờ anh cũng lao về phía trước, bước vào cửa anh bảo:


Chắc là sói đến hả?


Trước bàn bát tiên một người xương xương có sẹo ở mặt dẫm lên ghế, trước mặt là rượu và thịt chủ quán bày ra, anh ta không ăn, đưa tay vắt nước mũi đặc quánh bôi vào chân ghế, vỗ vào mặt mình nói:


- Khuất chủ quán này, ta không đòi được nợ, có phải chê ta xấu xí không?  Người anh em này đã từng bị chém một nhát dao vào mặt khi đi đòi nợ đấy! Hôm nay không đòi được thì ngày mai lại đến chứ?


Phó Sơn ngồi ở bàn đối diện, chân trước của con chó cũng gác lên mép bàn.  Phó Sơn nói:


Anh đến đòi nợ hay là đến phá phách quán cơm của người ta đấy hả?


Tên mặt sẹo hỏi:


Ồ, ai thế này?


Phó Sơn tống cho một quả đấm, hắn ngã dúi xuống đất, chưa kịp hoàn hồn, thì thấy một bóng người từ ghế bên kia lao sang, đầu mình liền bị đè xuống nền nhà.  Đầu bị ấn chết dí, song người còn dẫy rất khỏe.  Phó Sơn nói:


Đồ chó! Đến Hùng Nhĩ Xuyên mà hung hăng! Đưa dao lại đây tháo cái đầu này ra!


Răng của tên mặt sẹo vập xuống nền gạch, hắn kêu rối rít:


Đại ca, đại ca!


Phó Sơn bảo:


Ta không to hơn nhà ngươi.


Tên mặt sẹo nói:


Đội Trưởng! Thưa đội trưởng Phó Sơn!


Phó Sơn bảo:


Nhà ngươi cũng biết tên ta ư?


Phó Sơn buông tay ra, tên mặt sẹo sụp xuống lạy:


- Kẻ nào không biết anh, kẻ ấy là thằng mù.  


Hắn đứng dậy rót rượu mời Phó Sơn, Phó Sớn không nhận rượu của hắn.  Phó Sơn bảo:


Chủ quán này, nợ tiền của người ta thì liệu mà trả cho người ta, để người ta khỏi đến đây đập phá!


Nói xong quay người ra khỏi cửa, mọi người vỗ tay bôm bốp.


Suy cho cùng thì Phó Sơn là một thợ săn!


Cũng không coi anh ấy là thợ săn đâu vớ?


Con chó cốn đang gặm một mẩu xương trong đống bát đĩa vỡ, nó gặm tới mức chảy nước dãi, thấy chủ đã đi khỏi cửa, liền bỏ khúc xương lại, ngậm chặt bó da sói, bốn chân bước nhẹ tênh, trông như mụ quản gia, lại giống như thằng hầu. Có người đã thốt lên một câu:


Con chó này phú qúi đấy!


Từ đó con chó có một cái tên rất hay.


Nhưng có ai ngờ, những người đã từng đi săn bắn, dần dần bị nhiễm một thứ bệnh hết sức quái gỡ, đầu tiên là tinh thần sa sút,toàn thân rã rời, giảm thị lực, sau đó là cổ chân cổ tay tê dại, ngày càng héo gầy.  Trong đó có một người họ Tiêu bị nặng hơn cả đã vào Bệnh viện khám.  Bác sĩ cũng không biết rõ bệnh gì, nghi ngờ là làm việc quá nặng nhọc, hoặc điều kiện sinh hoạt kém.  Anh Tiêu nói, có làm việc gì nặng nhọc uqa đâu, không còn luồn rừng săn bắn nữa, cày bừa thì đã có trâu, đốt đèn thì đã có dầu.


Còn đấy – Bác sĩ nói – vậy thì từ nay về sau tốt nhất không ở cùng phòng với vợ.


Anh ta bảo, thế đâu có được, không ở cùng phòng thì ở đâu.


Bác sĩ thấy anh ta hiểu sai ý, liền nói:


Không được “tính giao”.


Tính giao có nghĩa là giao hợp, tiếng Trung đọc là “XÌNG JÌAO”, đồng âm với họ Tiêu cũng đọc là “XÌNG JÌAO”.  Do đó anh Tiêu đã hiểu sai, nên sốt tiết nói luôn:


Ông tôi họ Tiêu, tại sao tôi không được gọi họ Tiêu?


Bác sĩ không thể nói tế nhị, đành phải nói tục, hỏi anh ta có phải đã giao hợp quá mức? Anh ta hạ thấp giọng nói, trước đây tôi là thợ săn, việc giao hợp cơ bản là dùng tay.  Bac sĩ à một tiếng không hỏi nữa.  Anh chàng họ Tiêu về sau đã chết, cơ thể héo quắt lại chỉ bằng em bé bốn năm tuổi.  Tin tức lan truyền đi, Phó Sơn cũng phát giác cổ chân mình mỏi dừ, nhưng Phó Sơn là người như thế nào, anh không dám nói cảm giác của mình với bất cứ người nào, chỉ biết trong đêm trăng sáng sao thưa, một thân một bóng lặng lẽ đến bên bờ sông Ngân hoa nhìn sang bên kia sương mù giăng giăng, một luồng gió thổi đến, ngửi rõ mùi tanh tanh của thú rừng.  Anh biết có một con sói ở trong rừng cây bên kia.  Quả nhiên con sói này bắt đầu ra khỏi cánh rừng, đứng rống dưới ánh trăng, tiếng rống thư thái âm vang.  Phó Sơn nghe hiểu tiếng sói, tiếng sói ấy dịch ra, có nghĩa là: sói mẹ, sói mẹ, mẹ đang ở đâu?  Làm người thợ săn Phó Sơn cảm thấy hổ thẹn vô cùng.  Bởi vì con sói đó rõ ràng đã nhìn thấy anh, hơn nữa còn nom thấy nó dáng chân què, tập tễnh bước đi hơn mười mét, sau đó lượn một vòng hí hững trêu chọc anh.  Phó Sơn không mang súng, lúc này cổ chân anh mỏi nhừ, dỡ không nổi, đã ngã ngồi trên bờ sông.


Mười ngày sau, cuối cùng Phó Sơn đã lại một lần nữa mặc bộ quần áo đi săn, khoác khẩu súng săn đã từng bôi quét máu sói, đương nhiên có cả con chó phú quí đi ra cửa.  Hành lý của anh hết sức đơn giản, trong túi chỉ có tiền và một lá bùa giấy có thấm máu kinh nguyệt của người vợ chưa cưới, sau nữa là một cuộn tấm da sói.  Anh đã đến thành trì của huyện cũ, anh cần phải xem một lần nữa ổ sói chính cống ở Thương Châu.


Câu truyện bắt đầu từ đây.  Phó Sơn đi ngược gió trong cánh đồng xanh ngoài thành trì cũ, gió thổi tới mức rơi một đầu thắt lưng, lông của con Phú qúi quăn hết lại, người nó xiêu vẹo run rẩy chạy nhanh trong bụi gai.  Thời gian là ngày mười bảy tháng ba năm 1998, mây đọng ở trên trời sà xuống rất thấp, nguy hiểm lúc nào cũng sẵn sàng rơi xuống.  Trên đỉnh núi cao không phải cây gì cũng mọc cao to cả, ngoài cây quả trắng trong thành trì ra, thì hầu hết các cây khác chỉ mọc cao quá đầu người là bắt đầu ra chạc, mọc kiềm chế trong mười năm,vài chục năm, mọc lê được đều là những cây thấp bé lùn tịt.  Gai góc toàn bộ đầu là màu rỉ sắt, da sù lên như chân gà, lắc lư tiếng đọng trong gió.  Con Phú Qúi cong chân nhỏ lên đi tiểu, nước dãi bắn rất cao, gió lại thổi đến vài giọt nước mưa phả vào mặt nó.  Phó Sơn nhìn gió và mây bay cứ trào lên cuốn xuống, lại trào lên cuốn xuống từ một gò đồi như nước chảy, trên cây gai bên người móc một dúm lông sói, bước lên phía trước, lại một dúm lông sói nữa.  Từ màu sắc và mức cong xum của lông, Phó Sơn biết đây là vật để lại trước đây rất lâu của sói.  Anh ngẩng lên, há cái mồm không to lắm, nghiêng người về một đám mây trên trời.


Trong ngày xuân yên ả, sự có mặt của Phó Sơn làm cho chín gia đình của thành trì cũ vui mừng hớn hở. Họ đón anh với lễ tiết long trọng nhất, mời anh ngồi trên giường lò, sắp mâm ra, lọc từng bát từng bát rượu ngô tự nấu mời anh uống, sau đó dã khoai tây trong cối đá làm bánh.  Phó Sơn hài lòng với thân thể thô lùn của mình, anh có khuôn mặt vuông chữ điền thô ráp đen sạm, có bộ râu cứng như bàn chải đánh giầy phủ kín cằm, còn có đôi chân chắc như cái vồ nhưng mùa đông lúc nào cũng ra mồ hôi thối thum thủm, chỉ đáng tiếc là không có một cái mồm vuông có thể nhét lọt nắm tay.  Đây là nguyên nhân căn bản anh qui kết số phận mình không tốt.   Anh uống lềin một lúc năm bát rượu “cuốc lũi”, tâm trạng phiền muộn u uất không làm cho anh hào hứng ngay lên được, ngược lại sắc mặt anh u ám, xám ngoét, trong lời ca tựng nhân đức của dân bản, hai nếp nhăn mỗi lúc một sâu, đầu cúi gầm, càng trầm lặng không nói.  Hai con chuột lần lượt từ xà nhà rơi xuống, rơi trúng mâm làm đổ bát rượu.  Bởi chủ nhà hút thuốc uống rượu, nên chuột cũng lên cơn nghiện rượu thuốc, nằm trên xà gỗ ngữi phải mùi rượu khói thuốc, bỗng dưng tuột chân rơi xuống.  Anh đã dùng đủa kẹp chặt một con chuột, đập đập dí dí trên mâm, cho tới lúc đầu con chuột vỡ toác.  Lúc này, bọn trẻ được dịp xỏ chân vào đôi giày đay của anh, giầy đay to rộng, lồng cả giầy của trẻ con vào được,lại còn ôm súng săn đi ra cửa.  Anh chộp luôn khẩu súng, trợnm mắt hỏi: Trên cây có mười con chim đậu, bằn rơi một con, còn lại mấy con?  Bọn trẻ đáp: Chín con! Anh giương súng bắn một phát ra ngoài cửa sổ dòn tan, bầy chim sẻ trên cây qủa trắng ngoài cửa sổ nghe tiếng nổ vỗ cánh bay, lượn mấy vòng trên trời, rồi lại ùa xuống đậu trên cánh rừng khác, chỉ có hai con chim sẻ rơi xuống.  Con chó thì nhảy quớ lên mấy cái, rồi cái mồm tha về từng con. Bọn trẻ reo hò ầm ĩ: Bắn giỏi quá! Còn anh thì bám bệ cửa sổ hắn lên một iếng, nghĩ đến ngày nào hàng vạn con sói đến hủy diệt huyện lỵ này ra sao, oán hận hàng ngàn con sói cùng gào thét công kênhnhau leo lên tường thành ở ngoài cửa Bắc, song thế nào lại sơ xuất không canh phòng ở cửa Đông, để đến nỗi một bầy sói khác đã tập kích vào thành?  Sinh không gặp thời, mình không gặp đuợc những năm tháng đó, bây giờ là nột tay thiện xạ như anh hùng, mà chỉ có thể bắn những con chim sẻ lích cha lích chích.


Sự có mặt của Phó Sơn đương nhiên cũng truyền đến cơ sở nuôi đẻ và bảo vệ gấu mèo lớn, đồng chí chủ nhiệm Thi Đức đến  mời anh.  Nhà khoa học trán hói và đeo kính cận vài đi ốp này đã từng quen biết Phó Sơn, lúc xây dựng cơ sở, thì Đội săn bắt đã ở đây một thời gian, đã từng trèo trên hàng rào của cơ sở liền một lúc hai mươi con sói bị bắn chết, đến nỗi trong vài năm liền sói không dám bén mảng đến.  Thi Đức trông thấy Phó Sơn giơ hai tay lên reo mừng, ông đã chuẩn bị sẵn, bởi trước đây khi Phó Sơn bắt tay ông siết chặt như cái kiềm, đau tới mức ông cứ nghiến răng nghiến lợi mà Phó Sơn vẫn siết chặt, hơn nữa còn cứ lắc lắc liên tục.  Nhưng lần này Phó Sơn không chìa tay ra, anh đã say rượu, chân nam đa chân chiên.


Giúp dân bản xách nước ở sông ngoài thành trì, Phó Sơn đã phát hiện ở đáy sông có một khẩu súng, nhưng thò tay vớt lên lại là một cây Lão quan thảo, lại nhìn xuống đáy sông, dưới đáy sông vẫn có một cây súng, lại xuống mò, không có lão quan thảo, một con cá lưng đen bơi đi. Trên bãi sông từng khóm từng khóm cây gai, răng sói nở hoa trắng, anh biết đó là linh hồn của bầy sói đã chết còn quấn níu ở nơi đây.


Đội trưởng này, anh say rồi!


(còn tiếp)


Nguồn: Hoài niệm sói. Tiểu thuyết của Giả Bình Ao. Vũ Công Hoan dịch. Biên tập: Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương. NXB Văn học, 2003.


www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »