tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
20.03.2009
Henry Fielding
Tom Jones Đứa trẻ vô thừa nhận tập 2

Quyển Tám: Khoảng hai ngày. Chương 1: Một chương dài lạ lùng bàn về loại văn kỳ diệu là chương dài nhất trong số những chương giáo đầu của truyện này.


 


Bây giờ chúng ta đến một quyển, trong đó, thể theo diễn biến câu chuyện, chúng tôi buộc phải kể lại vài việc thuộc loại khá kỳ lạ, đáng ngạc nhiên hơn những việc đã xảy ra từ đầu truyện đến giờ; cho nên trong một chương mở đầu mà bàn chút ít về loại văn chương gọi là kỳ diệu thì cũng không phải là lạc lõng. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ cố gắng tự hạn chế trong một phạm vi nhất định, vì lợi ích của chúng tôi cũng như của những người khác; và quả thật, không có gì cần thiết hơn thế, khi ở đây những nhà phê bình([1]) thuộc đủ loại khuynh hướng sẵn sàng đi đến những sự cực đoan rất khác biệt. Có người thì cùng với Đaxiê tiên sinh sẵn sàng công nhận rằng một sự việc không thể xảy ra được, đồng thời cũng vẫn có thể có thực([2]); có người lại quá ít niềm tin có tính chất lịch sử hoặc thi ca, cho nên cho rằng chẳng có cái gì là có thể xảy ra hoặc có thể có thực bởi lẽ họ chưa có dịp quan sát thấy điều tương tự như thế.


Tôi nghĩ rằng; trước hết ta có thể đòi hỏi một cách hữu lý mọi nha văn phải tự hạn chế trong phạm vi của sự có thể xảy ra, và phải nhớ rằng điều gì mà con người không thể thực hiện được, thì con người cũng khó lòng tin được rằng mình đã thực hiện. Có nhẽ từ niềm tin tưởng chắc chắn này đã sản sinh ra nhiều câu chuyện về các vị thần ngoại đạo thời cổ (vì đa số những chuyện ấy có nguồn gốc đầy thi vị). Nhà thơ muốn dung túng cho trí tưởng tượng ngông cuồng và phóng đãng, bèn núp vào sau lưng sức mạnh ấy, vì người đọc không đánh giá được phạm vi hoạt động của nó, hoặc đúng hơn, họ cứ tưởng phạm vi ấy là vô biên, do đó, họ không thấy bất bình khi nghe kể lại những chuyện lạ kỳ do trí tưởng tượng tạo nên. Điều này đã được nhấn mạnh để bênh vực cho những phép linh diệu của Hôme. Có lẽ, đó là một sự biện hộ, không phải như Pôpơ tiên sinh quan niệm, vì Uylitxơ([3]) đã kể lại một chuỗi những câu chuyện bịa đặt về người Phêxian([4]), những con người ở đất nước buồn tẻ, mà vì chính nhà thơ đã sáng tác cho những kẻ ngoại đạo vốn vẫn coi những truyện hư cấu có tính chất thơ như những tín điều. Về phần tôi, tôi phải thú nhận tính tôi vẫn rất dễ thương cảm thật, tôi mong rằng giá Pôlyphim([5]) cứ chịu ăn kiêng sữa để bảo toàn cặp mắt của mình thì hơn, mà Uylitxơ cũng không thể lo lắng hơn tôi khi Xiêcxê hóa phép biến đồng bạn của chàng thành đàn lợn: về sau này, tôi nghĩ rằng có thể biến nó được thành mỡ lợn. Tôi cũng thành thực mong rằng Hôme có biết tới cái quy tắc do Horaxơ định ra, tức là chỉ nên đem những nhân tố siêu nhiên vào câu chuyện càng ít càng hay. Như thế, hẳn chúng ta sẽ khỏi phải nhìn thấy các vị thần của ông ta làm những công việc tầm thường, và nhiều khi cư xử một cách khiến cho những vị thần ấy không những không đáng kính trọng mà còn trở thành đối tượng cho người ta mỉa mai khinh bỉ. Thái độ ấy nhất định phải khiến cho tính cả tin của một người ngoại đạo tinh ý và mộ tín bị xúc phạm, và chẳng bao giờ có thể biện hộ được, trừ phi ta đồng tình với lời phỏng đoán, mà đôi khi tôi cũng muốn tin theo, rằng nhà thi sĩ lừng lẫy danh tiếng ấy đã chủ tâm đem lòng tín ngưỡng dị đoan của thời đại và đất nước của chính ông ta biến thành trò hề.


Song tôi đã dừng lại quá lâu ở một lý thuyết không có ích lợi gì cho một nhà văn Cơ Đốc giáo; vì một khi họ đã không thể đưa vào tác phẩm vị khách thần tiên nào như thế, vốn là một phần tín ngưỡng của mình, thì đi tìm khoa thần học ngoại đạo cho những vị thần đã từ lâu bị truất khỏi ngai vàng của sự bất diệt, cũng thật là khờ khạo một cách đáng sợ. Bá tước Saptơbơry có nhận xét rằng một người hiện đại mà viện đến nàng thơ thời cổ đại thì không gì nhạt nhẽo hơn, ông ta có thể nói thêm “không có gì phi lý hơn”. Một người hiện đại có thể viện đến một đoạn thơ ba lát([6]) còn hay hơn nhiều, như một số người vẫn tin rằng Hôme đã viện đến, hoặc một tô rượu mạnh cùng với tác giả cuốn Hudibrax; có lẽ thứ rượu này còn gây được cảm hứng cho người ta làm thơ làm văn nhiều hơn là mọi thứ rượu mùi của suối Hipôcrin hoặc núi Hêlicôn([7]).


Đối với chúng ta, những người hiện đại, những nhân tố siêu nhiên duy nhất được phép sử dụng là những hồn ma, nhưng tôi cũng khuyên các tác giả nên hết sức tiết kiệm. Hồn ma cũng giống như chất thạch tín, hoặc những thứ độc dược khác trong y học, phải hết sức thận trọng trong khi dùng. Tôi cũng khuyên không nên đưa một chút nào hồn ma vào tác phẩm, nhà văn không nên sử dụng khi họ biết bực bội hoặc xấu hổ vì tiếng cười hô hố của người đọc.


Còn như những yêu tinh và những nàng tiên, cùng những thứ đào kép tương tự, thì tôi cố ý không nhắc đến, vì tôi cũng không muốn hạn chế trí tưởng tượng kỳ diệu kia trong một phạm vi nào hết; so với khả năng mênh mông của nó thì biên giới của bản tính loài người còn quá hẹp; những tác phẩm của nó nên được coi là một sự sáng tạo mới mẻ, và do đó nó có quyền muốn làm gì thì làm với khả năng của nó.


Do đó, con người là một đề tài tối cao, (trừ những trường hợp thật là đặc biệt) cho ngòi bút của nhà viết truyện và các nhà thơ; và trong khi kể lại hình vi của họ, chúng ta cần hết sức thận trọng chớ có vượt quá phạm vi khả năng của kẻ được ta miêu tả.


Cũng không phải chúng ta chỉ căn cứ vào điều có thể xảy ra được là đủ, chúng ta còn phải tự hạn chế trong phạm vi những quy tắc của sự có thể có. Tôi nghĩ rằng dưới đây là ý kiến của Arixtôt tiên sinh, hoặc giả nếu không phải thế thì đó là ý kiến của một bậc hiền triết nào đó, mà càng sinh ra từ lâu đời càng có thẩm quyền: “Không thể tha thứ được cho một nhà thơ khi kể lại điều gì không thể tin được, mà lại bảo điều được kể lại ấy thực sự là chuyện hiển nhiên”. Có lẽ điều này có thể cho được là đúng nếu nói về thi ca, song đem áp dụng cho người viết sử thì không thực hiện được; vì anh ta bắt buộc phải ghi chép sự việc như anh ta thấy, mặc dầu những sự việc ấy có thể kỳ lạ đến mức đòi hỏi phải có một niềm tin khá mạnh về mặt lịch sử mới tiêu nổi. Cũng như việc trang bị không có kết quả của Xecxec([8]) do Hêrôđơtơx([9]) miêu tả, hoặc như cuộc viễn chinh thành công của Alexanđơ([10]) do Arian miêu tả. Cũng như trong những năm gần đây, chiến thắng Agincua([11]) của Hary đệ ngũ, hoặc như chiến thắng Nacva của vua Saclơ Thập Nhị nước Thụy Điển. Càng suy ngẫm về những ví dụ như thế, chúng ta càng thấy đáng sửng sốt hơn([12]).


Tuy nhiên, vì những việc như thế đã xảy ra trong quá trình diễn biến của câu chuyện - hơn thế, sự thực chúng lại là phần chủ yếu - nên người chép truyện thấy sao ghi lại đúng như vậy, không những là chính đáng, mà nếu bỏ quên hoặc nếu thay đổi thì quả thực là không thể tha thứ được. Nhưng cũng có những sự kiện khác không quan trọng hoặc không cần thiết đến thế, những sự kiện tuy được công nhận rõ ràng, nhưng lại có thể mặc cho chìm vào sự quên lãng, để chiều theo tính hồ nghi của người đọc. Ví như câu chuyện đáng ghi nhớ về hồn ma của Giooc Viliơ; câu chuyện này giá đem tặng cho nhà học giả Đrêlincus - ông đã tuyên bố ở đầu bài diễn thuyết về cái chết rằng ông đã từng ngồi trò chuyện với hồn ma của bà Viliơ thì thích hợp hơn là đưa vào trong một tác phẩm trang trọng như cuốn Lịch sử cuộc phiến loạn.


Nói cho đúng sự thật thì, nếu người viết tự bó mình trong việc chỉ miêu tả cái gì thực sự đã xảy ra, hoàn toàn gạt bỏ mọi trường hợp tuy có được chứng minh rõ ràng nhưng hẳn họ phải tin chắc là bịa đặt, thì đôi khi rơi vào sự kỳ diệu, nhưng không bao giờ rơi vào sự không thể tin được. Thường họ gây cho người đọc sự ngạc nhiên, sửng sốt, nhưng không bao giờ gây ra cái thái độ thù ghét vì không tin được như Hôraxơ đã từng nói tới. Do đó, vì rơi vào sự hư cấu mà nói chung, chúng ta vi phạm quy tắc này, tức là rời xa sự có thể có, điều mà một nhà viết sử ít khi, nếu không phải là không bao giờ rời bỏ, trừ phi họ rời bỏ đặc tính của họ mà bắt đầu biến thành nhà viết tiểu thuyết kỳ tình. Tuy nhiên, trong vấn đề này, những nhà viết sử kể lại những sự việc thuộc đời sống chung của xã hội cũng có thuận lợi hơn chúng tôi là những người tự hạn chế trong việc miêu tả những cảnh sống thuộc về đời tư. Nói chung, uy tín của các vị ấy đã được công chúng biết đến từ lâu và những tài liệu ghi chép công khai được hỗ trợ bởi sự minh chứng của nhiều tác giả, đã làm chứng sự thực của những sự việc kia trong những thời đại tương lai. Bởi thế mà một T’rajen, một Antôninơx, một Nêrô hay một Caligula vẫn được hậu thế tin là có thực, và không một ai hoài nghi về những con người tốt đẹp đến thế hoặc xấu xa đến thế, lại đã từng một thời nắm vận mệnh của nhân loại.


Song, chúng tôi, những người chỉ miêu tả những tính cách thuộc về đời sống riêng chỉ tìm kiếm trong những ngóc ngách sâu kín nhất để rút ra những thí dụ về đạo đức, và tật xấu từ những hang hốc và góc cạnh của cuộc đời, thì chúng tôi lại ở trong một trường hợp nguy hiểm hơn. Chúng tôi không được nổi danh, không được ai góp sức minh chứng hộ, cũng không có hồ sơ ghi chép nào để ủng hộ và xác nhận điều chúng tôi nói ra, cho nên chúng tôi thấy nên không những tự bó mình trong phạm vi của sự có thể xảy ra, mà cả trong phạm vi sự có thể có nữa, đặc biệt là khi miêu tả cái gì thật là tốt đẹp và khả ái. Sự đê tiện và sự điên rồ, tuy không bao giờ là quá đáng vẫn dễ được chấp nhận hơn, vì bản chất xấu xa dễ giúp thêm sức ủng hộ và thêm sức mạnh cho người ta tin.


Có lẽ bởi vậy chúng tôi có thể kể lại câu chuyện này mà không đến nỗi nguy hiểm lắm. Có một người tên là Fisơ từ lâu vẫn sống dựa vào sự hảo tâm của Đơcbai tiên sinh và ngay hôm ấy hắn cũng vừa mới nhận một món quà hậu hĩnh từ tay ông ta. Nhằm mục đích chiếm đoạt những gì còn lại trong văn phòng của người bạn, hắn đã nấp trong một gian phòng công cộng của tòa thánh đường, có lối ăn thông sang căn phòng của ông Đơcbai. Ở đây, trong một thời gian khá lâu, Fisơ đã nghe lỏm ông Đơcbai chuyện trò giải trí với bè bạn, tối hôm ấy chính hắn cũng có được mời. Suốt trong thời gian này, không một ý nghĩ dịu dàng biết ơn nào hiện lên để kìm giữ Fisơ không cho hắn thực hiện ý định. Lúc người đàn ông đáng thương kia tiễn khách ra khỏi phòng, thì đột nhiên Fisơ rời khỏi chỗ nấp, rón rén đi theo sau người bạn về buồng riêng và bắn một phát đạn súng ngắn vào đầu ông ta. Điều này có thể tin được, nếu như xương của Fisơ cũng mục ruỗng như trái tim của hắn. Mà có lẽ, ta cũng tin được rằng hai ngày sau, tên mạt kiếp ấy cùng đi xem diễn kịch Hămlét với vài cô tiểu thư; một cô không hề ngờ mình đang ngồi kề sát tên hung phạm, đã kêu lên: “Nếu như tên giết ông Đơcbai có mặt ở đây thì hay biết mấy!”; nghe nói, mặt Fisơ không hề đổi sắc. Trong việc này, hắn đã tỏ ra có một lương tâm sắt đá còn hơn cả chính Nêrô nữa, mà theo Xuêtôniơx nói lại về Nêrô thì “sau cái chết của mẹ, ý thức về tội ác Nêrô đã phạm, lập tức trở thành mạnh mẽ không sao chịu đựng nổi, và cứ tiếp tục thế mãi, mọi sự xưng tụng của các võ sĩ, của Hội đồng quý tộc và của quần chúng cũng không sao xóa nhòa được những nỗi khủng khiếp trong lương tâm y”.


Nhưng mặt khác, bây giờ tôi báo với các bạn rằng: tôi có biết một người, nhờ thiên tài trác tuyệt đã gây dựng được một tài sản lớn lao, bằng một con đường không ai vạch sẵn cho lúc đầu; rằng người kia làm nên như vậy mà vẫn bảo toàn tuyệt đối được sự liêm chính, chẳng những không hề làm hại gì đến một cá nhân nào, mà còn đem lại lợi ích tối cao cho nền thương mại và làm gia tăng rất nhiều cho nguồn lợi công cộng nữa; rằng anh ta đã tiêu đi một phần số lợi tức của tài sản ấy vào việc khám phá ra một khiếu thưởng thức vượt lên trên tất cả, bằng những tác phẩm trong đó tính trang nghiêm cao quý nhất được phối hợp với sự bình dị thuần khiết nhất; còn phần tài sản kia thì dùng để biểu lộ một mối từ tâm vượt hẳn hết thảy mọi người, những việc từ thiện, giúp những kẻ đáng săn sóc chỉ vì họ xứng đáng được giúp đỡ hoặc vì họ thiếu thốn; rằng người ấy hết sức cần cù trong việc tìm kiếm những người xứng đáng mà lâm vào cảnh hoạn nạn, rồi hết lòng giúp đỡ họ, người ấy lại giấu giếm việc làm của mình một cách rất thận trọng (một cách quá thận trọng nữa); rằng nhà cửa, đồ đạc, vườn tược, bàn ghế, sự thù tiếp khách khứa, việc công ích người ấy làm, tất cả đều bộc lộ một tâm hồn đã thấm nhuần hết thảy, và tất cả cùng bao hàm một nội tại phong phú và cao cả, mà không hề cầu kỳ hoặc lộ liễu ra bề ngoài; trong mọi quan hệ đời sống người ấy tỏ ra có đạo đức thích hợp nhất; rằng người ấy có lòng mộ tin vô cùng đối với Đấng sáng tạo, và rất mực trung chính với đức vua; rằng người ấy là một người chồng dịu dàng nhất, một thân nhân tốt, một người  chủ hào phóng, một người bạn nhiệt thành và chung thủy, một người bạn hiểu biết và vui vẻ, rộng lượng đối với đầy tớ, hiếu khách với láng giềng, giàu lòng từ thiện với kẻ nghèo, và đối với toàn thể loài người thì có thiện chí. Giả sử tôi thêm vào đó những tính từ khôn ngoan, can đảm, tao nhã, cùng mọi tính từ đáng yêu khác của ngôn ngữ chúng ta, nhất định tôi có thể nói rằng:


- Quis credet? Nemo Hercule! Ne mo;


Vel duo, vel nemo.


Ấy thế mà tôi biết có một người đúng như tôi vừa tả đấy. Nhưng một thí dụ duy nhất (quả thực tôi cũng không biết một người thứ hai như vậy) không đủ biện hộ cho chúng ta, khi chúng ta viết văn cho hàng bao nhiêu ngàn người chưa hề bao giờ nghe ai nói tới người kia, hoặc một cái gì tương tự như người ấy. Những cái hiếm có ấy nên giao cho bác thợ thảo văn bia, hoặc một nhà thơ nào đó sẵn lòng hạ cố gắn tên người kia vào một đoạn thơ hoặc luồn tên anh ta vào một vần thơ với một vẻ thản nhiên vô tình không chút làm chối tai người đọc.


Cuối cùng, nên sắp đặt các diễn biến sao cho không những chúng phải nằm trong phạm vi lĩnh vực hoạt động của con người  và con người có thể coi là có khả năng thực hiện được, mà còn phải đúng là chính bản thân các diễn viên hoặc các nhân vật đã thực hiện; bởi lẽ cái điều nào chỉ kỳ diệu và đáng ngạc nhiên ở người này, còn đối với người khác lại có thể trở thành khó tin, hoặc không thể có được.


Điều kiện cần thiết cuối cùng này tức là cái mà các nhà viết kịch gọi là sự bảo tồn tính cách, và nó đòi hỏi phải có một trình độ phán đoán đặc biệt phi thường và phải có một sự hiểu biết thật chính xác về bản tính con người.


Một nhà văn hết sức ưu tú đã nói rất đúng rằng nhiệt tình không thể thúc đẩy một người hành động hoàn toàn ngược lại với chính nhiệt tình, cũng như một dòng nước chảy xiết không thể đẩy một chiếc thuyền đi ngược dòng. Tôi dám nói rằng người ta mà hành động hoàn toàn trái ngược với bản tính là điều, nếu không phải là không thể được, thì cũng là khó tin và kỳ lạ như bất cứ một điều gì khó tưởng tượng được. Giả thử đem một phần lớn tiểu sử của Antôniơx tiên sinh gán cho Nêrô, hoặc đem những việc tồi tệ nhất của Nêrô gán cho Antôniơx thì còn có gì chối tai hơn cả hai trường hợp ấy? Ấy thế mà nếu việc thuộc người nào nói về người ấy thì cả hai trường hợp cùng thực sự là kỳ diệu.


Hầu như toàn thể các nhà viết hài kịch hiện đại của chúng ta đều rơi vào sự sai lầm vừa nói. Suốt bốn màn đầu, nhân vật nam giới của họ nói chung đều là những tên lưu manh nổi tiếng và nhân vật nữ giới của họ, là những đồ mạt hạng đáng ruồng bỏ; vậy mà đến màn thứ năm thì nhân vật nam biến thành những vị thượng lưu đáng quý, còn nhân vật nữ trở thành những người đàn bà đức hạnh và đứng đắn; mà nhà viết kịch nhiều khi cũng chẳng buồn làm ơn sắp đặt hoặc giải thích hộ một chút về sự đổi thay quái gở lạ lùng kia nữa. Quả thật, ngoài lý do vở kịch đến đó là phải chấm dứt, chẳng còn một duyên cớ nào khác, hình như việc một tên lưu manh sám hối vào màn cuối cùng của vở kịch cũng tự nhiên không kém gì hắn sám hối vào màn cuối cùng của hắn vậy. Chúng tôi nhận thấy rằng nói chung đó là trường hợp ở Taibơc([13]), tức là nơi mà một số vở hài kịch quả thật vẫn kết thúc một cách đích đáng, vì nhân vật trong những vở kịch ấy nói chung vẫn xuất sắc về mặt có tài không những đưa con người ta đến giá treo cổ, mà còn khiến họ thành được một người anh hùng khi bị đem treo cổ.


Tôi nghĩ rằng, ngoài vài sự hạn chế nói trên, nhà văn nào cũng có thể được phép tha hồ nói chuyện kỳ diệu tùy sở thích; và, nếu họ biết tự hạn định trong phạm vi quy tắc của sự đáng tin, thì càng làm được cho độc giả ngạc nhiên bao nhiêu, họ càng quyến rũ được độc giả chú ý đến bấy nhiêu. Như một thiên tài trác tuyệt đã từng nhận xét trong chương 5 cuốn Batôx “Nghệ thuật lớn lao của bất cứ nền thi ca nào cũng là phối hợp sự thực và hư cấu, nhằm kết hợp được cái đáng tin và cái kỳ lạ”.


Tuy các tác giả có tài văn tự bó mình trong phạm vi sự có thể có được, nhưng không nhất thiết nhân vật hoặc sự kiện họ tạo ra cứ phải là tầm thường; là nhàm như vẫn gặp tại các đường phố, tại mọi nhà, hoặc như có thể đọc thấy ở phần tin tức trong nước trên các báo. Cũng không thể cấm họ trình bày nhiều con người, nhiều sự kiện có thể là chưa bao giờ được đa số độc giả biết tới. Nếu nhà văn tộn trọng triệt để những quy tắc nói trên thì họ đã làm tròn nhiệm vụ, và do đó, cũng đáng để cho độc giả tin cậy phần nào, mà nếu không tin thì tức là độc giả đã phạm tội thiếu trung thực trong việc phê bình. Chính vì thiếu cái phần tin tưởng ấy mà theo tôi nhớ, một số rất đông những bác thư lại và những chú tập nghề đã đồng thanh lên án một nhân vật tiểu thư quý phái trên sân khấu là giả tạo, mặc dầu trước đó, nhân vật này đã được nhiều bà mệnh phụ bậc nhất tán thưởng; trong số ấy có một bà nổi tiếng là hiểu biết, đã tuyên bố rằng đó là hình ảnh nửa số bạn hữu trẻ tuổi quen biết của bà.


Nguồn: Tom Jones, đứa trẻ vô thừa nhận, tập 2. Trọn bộ 3 tập. Tiểu thuyết của Henry Fielding. Trần  Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING. Nhà xuất bản MAC DONALD, London, 1935. NXB Văn học, 1984.


 







([1]) Chúng tôi dùng tiếng này ở đây cũng như ở nhiều chỗ khác trong truyện này để chỉ tất cả mọi độc giả trên đời (tác giả chú thích).




([2]) May thay cho ông Đaxiê, ông không phải là một người Airơlen (tác giả chú thích).




([3]) Uylitxơ: vua xứ Itacơ, nhân vật chính trong tập Ôđitxê của Hôme, tập thơ miêu tả cuộc phiêu lưu của Uylitxơ trong mười năm trên đường từ thành T’roa về quê hương.




([4]) Phêxian: một xứ sở truyền thuyết nói tới Ôđitxê.




([5]) Pôlyphim: nhân vật khổng lồ trong Ôđitxê, kẻ giam giữ Uylitxơ và bị Uylitxơ dùng mưu chọc mù mắt để chạy thoát.




([6]) Ba lát: một thể thơ gồm ba đoạn ngắn, xen kẽ một điệp khúc. 




([7]) Hipôcrin và Hêlicôn: Hipôcrin (Suối ngựa) là một con suối thần chảy từ lòng núi Hêlicôn thuộc xứ Biôxi ra. Theo thần thoại Hy Lạp, do ngựa thần Pêgadơ đập móng vào núi mà phát nguyên dòng suối này.




([8]) Xecxec: vua nước Ai Cập (thế kỷ 5 trước Công nguyên) thất bại trong cuộc chiến tranh với Hy Lạp.




([9]) Hêrôđơtơx: sử gia cổ Hy Lạp, người vùng Tiểu Á (thế kỷ 5 trước Công nguyên) được coi là cha đẻ khoa sử học, là nhà viết lịch sử nghiêm túc nhất thời cổ với một phương pháp bắt đầu có màu sắc khoa học.




([10]) Alecxanđơ: vua nước Maxêđoan, sống vào thế kỷ 4 trước Công nguyên, là một danh tướng có tài chiến trận.




([11]) Chiến thắng Agincua: một trận đánh lớn diễn ra tại vùng Cale nước Pháp (25.10.1415) giữa Pháp và Anh. Vua Hary V bị Phấp vây hãm sau phản công thắng lợi.




([12]) Tinh thần cả đoạn văn này là tác giả dùng lối nói cầu kỳ, bóng bẩy và hài hước để đả kích thói tô vẽ, bịa đặt của một số nhà văn, nhà thơ đương thời thiếu tôn trọng thực tế.




([13]) Khu ph Luân Đôn, là nơi cho đến 1783 vn din ra nhng v x t phm nhân.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »