Chương XI: Ông già trên đồi bắt đầu kể chuyện mình
Tôi sinh tại một làng thuộc quận Xơmơxêt, gọi là làng Mác, vào năm 1657. Cha tôi là một nhà điền chủ thượng lưu như người ta thường gọi; người có một sản nghiệp nhỏ, lợi tức đồng niên khoảng 300 bảng, lại lĩnh canh một sản nghiệp khác gần đấy trị giá tương đương. Người rất cẩn thận và cần cù, lại là một nhà điền chủ thạo việc, kể ra cũng có thể sống một cuộc đời khá đầy đủ, thoải mái, nếu không bị một bà vợ bạt mạng, mồm loa mép giải đầu độc cuộc sống gia đình. Có lẽ vì thế mà người đau khổ, nhưng không phải vì thế mà người nghèo túng đi; vì hầu như người giam hãm hoàn toàn bà ta trong nhà, thà đành tâm vĩnh viễn chịu đựng bị rầy la trong gia đình mình, còn hơn chiều theo những cái ngông cuồng của bà ở ngoài để cho sản nghiệp bị hao hụt.
“Bà Xantipơ này (bác Pact’rigiơ nói: đây là tên bà vợ của Xôcrat) sinh với cha tôi được hai con trai, tôi là con thứ hai. Người định cho cả hai chúng tôi được hưởng một nền giáo dục tốt đẹp, nhưng không may làm sao, anh tôi lại được mẹ tôi cưng nhất thành ra hoàn toàn lơ là việc học. Sau năm, sáu năm theo học tại trường mà anh tôi hầu như chẳng tấn tới gì hết; thầy giáo phải bảo với cha tôi là cho anh ấy đi học thêm cũng vô ích. Cuối cùng, cha tôi đồng ý cới mẹ tôi “cứu” anh thoát khỏi tay tên bạo chúa – anh tội gọi ông giáo như vậy, mặc dầu thật ra ông ta đã trừng phạt người học trò quá ít so với thói lười biếng của anh ta, và hình như là quá nhiều so với điều anh ta muốn. Anh tôi luôn mồm than thở với mẹ về nỗi mình bị đối xử khắc nghiệt, mà bà thì bao giờ cũng tin lời con trai.
Pact’rigiơ xen vào:
- Đúng, đúng. Tôi đã gặp những bà mẹ như thế. Chính tôi đây cũng đã bị các bà ấy lăng mạ một cách rất bất công; các vị cha mẹ kiểu ấy là phải bị trừng phạt như con cái họ mới đúng.
- Bấy giờ mới mười lăm tuổi, anh tôi vĩnh biệt việc học hành cùng mọi sự khác, trừ cây súng và con chó săn, mà về súng thì anh tôi sành lắm. Nói ra có lẽ ngài không tin, nhưng không những anh tôi có thể bắn rất trúng một cái đích cố định mà còn hạ được cả một con quạ đang bay trên trời. Anh tôi lại rất tài trong việc phát hiện thỏ rừng trong bụi, nên sớm nổi tiếng là một tay săn cừ khôi trong vùng. Cả hai mẹ con lấy làm hỉ hả về cái tiếng tăm này lắm, chẳng khác gì anh tôi được coi là một học giả uyên thâm nhất.
Tình hình anh tôi như thế khiến cho mới đầu tôi nghĩ mình muốn tiếp tục học tập ở trường thì cũng khó hơn, nhưng không bao lâu tôi thay đổi ý kiến. Vì tôi học tập khá, tiến bộ nên công việc cũng trở thành dễ dàng, tôi cảm thấy thích thú trong việc làm bài đến nỗi phải nghỉ học là tôi thấy khó chịu vô cùng. Mẹ tôi chưa hề yêu quý tôi bao giờ, nay thấy tôi được cha tơi cưng hơn, bà lại nhận thấy hoặc ít nhất thì cũng cho rằng tôi được một vài vị thượng lưu có học thức, đặc biệt là vị mục sư của xứ đạo, chú ý hơn là anh tôi, thành thử nom thấy mặt tôi là bà ghét cay ghét đắng. Bà làm cho những ngày tôi ở nhà đến là khó chịu; và suốt năm, những ngày thứ hai bị bọn học trò gọi là ngày đen tối nhất thì tôi lại coi là ngày sánh sủa nhất.
Cuối cùng, tôi cũng học hết các lớp ở trường Tôntơn; rồi tôi được chuyển sang trường cao đẳng Ixơtơ tại Ôcfo, và lưu học tại đó bốn năm. Sau đó, xảy ra một chuyện khiến cho tôi phải chấm dứt việc học hành; quả thực, tôi có thể coi đó là khởi điểm của mọi sự xảy ra trong đời tôi sau này.
Cùng học với tôi trong trường trung học có một công tử Giooc Grixham, một chàng thanh niên được dự kiến kế thừa một tài sản rất lớn. Nhưng theo di chúc của ông bố, cậu ta chỉ được toàn quyền sở hữu khi nào đã đủ hai mươi lăm tuổi. Tuy nhiên, những người đỡ đầu cho cậu tỏ ra rộng rãi, nên cậu cũng không lấy làm tiếc hận gì về nỗi ông cụ thân sinh đã quá cẩn thận. Họ cấp cho cậu mỗi năm năm trăm đồng bảng trong thời gian cậu lưu học tại trường đại học. Tiếng là đi học, nhưng cậu chỉ ngựa nghẽo, trai gái hoang tàng, hư đốn chẳng khác gì cậu đã được hoàn toàn làm chủ tài sản của cha để lại. Ngoài số năm trăm đồng được những người đỡ đầu cấp cho, cậu còn tìm cách tiêu thêm một nghìn đồng nữa. Cậu đã quá tuổi hai mươi mốt, tha hồ mà vay nợ, chả khó khăn gì.
Ngoài nhiều thói xấu tạm dung thứ được, anh chàng này có một cái tật quái gở. Cậu ta thú nhất là được làm hư hỏng cuộc đời của những người trẻ tuổi ít tiền hơn mình, bằng cách lôi kéo họ vào những sự tiêu pha bừa bãi mà họ không thể nào có đủ tiền được như cậu ta; mà hễ làm hư đốn được một người trẻ tuổi càng đứng đắn, càng tốt bao nhiêu thì cậu ta càng thấy thú vị và lấy làm hãnh diện bấy nhiêu. Người ta vẫn bảo đó là tính cách của quỷ dữ, lùng sục đây đó để tìm mồi vậy.
Thật là bất hạnh cho tôi, lại bập ngay vào cậu công tử này. Chúng tôi chơi bời với nhau thật là thân thiết. Thấy tôi nổi tiếng chăm chỉ học hành, cậu ta cho tôi là một đối tượng đáng thèm muốn để thực hiện ý định xấu xa. Bản thân tính khí tôi cũng tạo điều kiện cho cậu ta dễ dàng thực hiện ý định thành công; vì tôi có chăm đọc sách thật, mà cũng thấy thú vị lắm, nhưng tôi cũng có thể tìm thấy thích thú nhiều hơn trong những khoái lạc khác, vì tính tôi vốn sôi nổi, nồng nhiệt, hơi có cao vọng, lại hết sức đa tình.
Chưa chơi bời thân thiết với công tử Gioóc được bao lâu, tôi đã tham dự vào mọi thứ trò chơi của cậu ta; và một khi tôi đã sa chân vào những nơi ấy thì tính khí tôi cũng như lòng hăng hái của tôi không cho phép tôi chịu thua kém bất cứ một ai. Tôi không chịu đứng sau bất cứ ai trong mọi thứ trác táng. Chẳng bao lâu tôi trở thành nhân vật nổi bật trong mọi cuộc hành lạc, phá phách đến nỗi tên tôi bao giờ cũng đứng đầu danh sách những kẻ phạm lỗi; và lẽ ra đáng được thương hại, coi như một môn đệ bất hạnh của công tử Gioóc, thì tôi lại bị kết tội là kẻ đã lôi kéo một vị thượng lưu trẻ tuổi, đầy triển vọng như thế vào con đường sa đọa. Cậu ta chính là tay chủ trì mọi trò bậy bạ, nhưng lại không bao giờ bị coi là như vậy. Cuối cùng, tôi bị ông Phó hiệu trưởng sạc cho một mẻ, suýt nữa thì tôi bị đuổi học.
Ngài cũng dễ thấy tôi sống như thé, nhất định không sao đi đôi với sự tiến bộ trong việc học; và tôi càng đam mê chơi bời bao nhiêu thì càng dần dần lơ là việc học tập bấy nhiêu. Kết quả là như vậy, nhưng không phải chỉ có thế. Hồi này việc tiêu pha của tôi đã vượt ra ngoài thu nhập trước kia của tôi, kể cả những món tiền tôi xoay được thêm của cha tôi, bằng cách nói dối tôi cần có tiền để chuẩn bị cho kỳ thi tú tài văn chương sắp tới. Tuy vậy, vì tôi cứ xin tiền luôn, và xin nhiều quá, nên dần dần cha tôi cũng để tai nghe những lời đồn đại tứ phía về hạnh kiểm của tôi hồi này; mẹ tôi thì lại càng ra sức mà “đổ dầu thêm”.
- Ấy vị thượng lưu lịch sự, nhà học giả làm rạng rỡ gia thanh rồi đây sẽ làm cho nhà này mở mày mở mặt đấy. Tôi đã bảo cho lắm vào chỉ tổ thế thôi. Thế nào rồi nó cũng làm cho cả nhà này tàn hại, vì nó mà thằng anh đã không được chu cấp mọi thứ cần thiết, để em được học hành đến nơi đến chốn, thế đấy, vậy mà nó trả lãi cho chúng ta như vậy đấy. Tôi đã bảo rồi còn là lãi, còn là lắm lãi kiểu ấy mà, nhưng ông cứ thích thế cơ, hẳn tôi đã làm cho ông hài lòng rồi chứ?
Thành thử mỗi khi tôi xin tiền; cha tôi đã không cho mà lại còn mắng nhiếc, khiến cho công việc của tôi có lẽ sớm lâm vào cảnh gay go hơn; nhưng ví thử cha tôi lấy toàn bộ thu hoạch của người mà cấp cho tôi, thì cũng chỉ đủ cho một kẻ muốn đua đời với công tử Gioóc tiêu pha trong một thời gian rất ngắn. Tôi đang lâm vào cảnh nguy ngập về mặt tiền nong mà không có cách nào gỡ ra được; tình hình ấy rất có thể giúp tôi trở lại sáng suốt và chăm chỉ học tập như cũ, nếu tôi biết mở mắt ra mà nhìn, trước khi tôi bị mang công mắc nợ đến mức không còn hy vọng gì gỡ được nữa. Quả thật, đó là cái nghệ thuật lớn lao của công tử Gioóc; nhờ nghệ thuật ấy, cậu ta đã hoàn thành được việc làm sa đọa nhiều người, rồi sau đó chính họ lại bị cậu ta cười vào mặt, gọi là phường ngu xuẩn, phường công tử bột dám đua đòi với kẻ giàu có hơn mình. Nhằm đạt kết quả này, thỉnh thoảng chính cậu ta lại ứng cho tôi một ít tiền, để giữ lấy uy tín cho người thanh niên bất hạnh là tội trước mặt kẻ khác; cứ thế cho tới khi, chính vì cái uy tín ấy mà tôi chết hẳn không cứu được nữa.
Số phận tôi rủi ro thế nào thì đầu óc tôi cũng điên rồ thế ấy; hầu như tôi không còn từ một việc xấu xa nào mà không nghĩ đến cứu vãn tình thế. Tôi cũng đã đắn đo suy tính ngay cả đến chuyện tự tử và chắc chắn là tôi quyết định làm chuyện ấy rồi nếu như không vì một ý nghĩ đáng xấu hổ hơn, tuy rằng có lẽ không đáng tội bằng, mà tôi gạt bỏ ý định trên.
Đến đây, ông già ngần ngừ một lúc, đoạn kêu lên:
- Bao năm qua mà vẫn chưa gột hết được sự hổ thẹn vì hành động ấy, nay kể lại, tôi vẫn phải đỏ mặt.
Jôn bảo ông già bỏ qua những việc gì đã khiến ông đau lòng khi kể lại; nhưng Pact’rigiơ thiết tha kêu lên:
- Ấy thưa cụ, xin cụ cứ cho chúng tôi được nghe; tôi lại muốn nghe chỗ ấy hơn cả phần còn lại. Tôi xin thề sẽ không bao giờ hé môi nói nửa lời về việc ấy.
Jôn định mắng bác thì ông già đã kể tiếp:
- Tôi có một người bạn cùng phòng, một anh chàng trẻ tuổi, tính tình thận trọng, sống giản dị; tuy chẳng được gia đình cấp đỡ nhiều lắm, nhưng vì tằn tiện nên anh ta cũng dành dụm được đến bốn mươi ghini. Tôi biết anh ta cất số tiền trong ngăn kéo bàn học. Tôi bèn rình cơ hội móc trộm chìa khóa trong túi quần anh ta lúc đang ngủ, thế là tôi chiếm lấy món tiền. Sau đó tôi lại bỏ trả chìa khóa vào túi anh ta rồi giả vờ ngủ, tuy tôi không sao nhắm được mắt, chỉ vờ nằm trên giường cho tới khi anh ta trở dậy đi cầu kinh; công việc này đã lâu tôi không còn thói quen làm nữa.
Bọn ăn cắp nhát gan thường vì quá cẩn thận mà hay bị khám phá, trong khi những tên bạo gan hơn thì lại thoát. Ấy là trường hợp của tôi. Ví thử tôi táo gan phá vỡ cái bàn viết của anh ta, có lẽ tôi lại không bị nghi ngờ; nhưng rõ ràng là trong vụ này, kẻ trộm phải có chìa khóa, thành thử ngay lúc mới biết mình bị mất tiền, anh ta đã tin chắc chỉ có người bạn cùng phòng lấy trộm. Anh ta vốn nhát sợ, lại yếu hơn tôi nhiều, và tôi tin rằng về mặt táo tợn cũng kém tôi, nên anh ta không dám nói toạc vào mặt tôi, e bị tôi cho xơi đòn. Anh ta mới lập tức tìm đến ông Phó hiệu trưởng, xin thề về việc mất cắp và tình hình bị mất như thế nào, và rất dễ dàng xin được tờ lệnh bắt giữ một kẻ đã khét tiếng về thành tích bất hảo trong trường. May mắn cho tôi, tối hôm ấy tôi không ngủ ở trường; vì ban ngày tôi đưa một thiếu nữ đi xe ngựa tới Witny và đã ngủ cùng đêm tại đó; sáng hôm sau trở về Ôcfo, gặp một tên bạn cánh hẩu cho biết tin tức về vụ của tôi, tôi liền quay ngựa chuồn thẳng.
Pact’rigiơ hỏi:
- Thưa cụ, thế anh ta có nhắc gì đến tờ lệnh truy nã không?
Jôn yêu cầu ông lão cứ kể tiếp, đừng để ý đến những câu hỏi xen vào. Ông lão tiếp tục kể:
- Bấy giờ, không còn hy vọng gì trở lại Ôcfo, tôi nảy ra ý định đi Luân Đôn một chuyến. Tôi đem ý kiến này ra bàn với người bạn gái; mới đầu cô ta không chịu, nhưng sau, thấy tôi chìa ra nhiều tiền, cô ả bằng lòng ngay. Thế là chúng tôi đi tắt đường quê đến đường cái quan Xirenxextơ. Chúng tôi đi thật hối hả nên chỉ cách một đêm, đêm hôm sau nữa chúng tôi đã ngủ ở Luân Đôn rồi. Các ngài cứ nghĩ xem, sống ở nơi ấy, lại cặp kè với gái như thế, trách gì chỉ sau một thời gian rất ngắn, số tiền tôi tước đoạt một cách phi pháp kia đã cạn sạch.
Bấy giờ tôi lâm vào hoàn cảnh còn tuyệt vọng hơn trước nhiều; tôi bắt đầu phải lo tính đến cả những nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Và điều khiến cho hoàn cảnh tôi thêm đau lòng là người tình của tôi cũng phải chia xẻ sự thiếu thốn với tôi, mà hồi này tôi lại đang say mê cô ta quá. Phải nhìn người đàn bà mình yêu lâm vào cảnh cùng khổ mà bất lực không cứu giúp được, đồng thời lại biết rằng chính mình đã đẩy người ta vào tình trạng ấy, có lẽ là một điều tai họa khủng khiếp, nếu ai không từng trải qua thì không thể lấy trí tưởng tượng mà hình dung nổi.
Jôn kêu lên:
- Tôi hoàn toàn tin như vậy và tôi cũng thành thực thông cảm với cụ.
Đoạn, anh đi đi lại lại trong phòng hai ba lần; cuối cùng anh xin lỗi rồi ngồi phịch xuống một cái ghế, kêu lên:
- Cảm tạ Chúa, tôi đã thoát được điều đó.
Ông già kể tiếp:
- Vì nhẽ ấy mà tính cách của tôi càng thêm đáng sợ, và trở thành hết sức không sao chịu nổi nữa. Thà rằng chính tôi phải chịu đựng sự giày vò của những dục vọng không thỏa mãn, ngay cả sự đói khát nữa, còn đỡ đau khổ hơn là đành phải bó tay trước những ước muốn kỳ quái oái oăm nhất của một người đàn bà mà tôi mê đắm một cách kỳ lạ, đến nỗi tôi cứ nhất định muốn cưới cô ta làm vợ, mặc dầu tôi thừa biết ả là nhân tình của đến một nửa số bè bạn của tôi. Có lẽ vì ả thương hại tôi về nỗi hàng ngày phải lo lắng cho ả, nên ả quyết định chấm dứt nỗi khốn khổ hộ tôi. Quả thật, chẳng bao lâu, ả tìm được cách cứu tôi thoát khỏi tình cảnh bối rối đáng buồn: vì trong khi tôi đang nặn óc xoay sở để cung cấp mọi thứ cho ả, thì ả đã có lòng tốt... lừa dối tôi với một tên nhân tình cũ ở Ôcfo, nhờ sự quan tâm chăm sóc chu đáo của tên này, tôi lập tức bị tóm cổ bỏ tù.
Trong nhà lao, lần đầu tiên tôi bắt đầu suy nghĩ một cách đúng đắn về những lầm lỡ trong cuộc sống vừa qua, về những lỗi lầm tôi đã phạm phải, về những tai vạ tự tôi đã quàng vào cổ và về những nỗi đau khổ mà nhất định tôi đã gây ra cho một người cha tốt bụng nhất đời. Kèm theo đó, ngẫm đến nỗi bị nhân tình phản bội, tôi cảm thấy vô cùng kinh hoàng đến nỗi tôi thấy ghê tởm cuộc đời, chẳng còn thiết sống. Và nếu như chọn lựa cái chết mà không phải chịu kèm theo sự nhục nhã thì tôi đã có thể vui vẻ mà đón lấy nó như đón một người bạn thân yêu nhất. Không bao lâu đã tới ngày xử án: theo điều lệnh habeas corpus (định quyền giam giữ) tôi được đưa về Ôcfo, để chờ đối chứng và định án. Nhưng, thật đáng ngạc nhiên quá, chẳng thấy một ai tố cáo tôi, thế là sau mấy phiên tòa, tôi được thả bổng vì thiếu sự kháng cáo của bên nguyên. Tóm lại, anh bạn cùng phòng của tôi đã rời Ôcfo, và chẳng biết vì lười biếng hay vì lý do gì khác, anh ta đã không buồn quan tâm đến chuyện này nữa.
Pact’rigiơ kêu lên:
- Có nhẽ người ấy đã không muốn để cho tay mình vấy máu của cụ đấy, và như thế là phải. Nếu như vì tôi làm chứng mà một người khác bị treo cổ, thì sau đó, suốt đời tôi chẳng bao giờ có thể nằm ngủ một mình, vì sợ phải nhìn thấy hồn ma của hắn hiện về.
Jôn nói:
- Pact’rigiơ, tôi cũng sắp được biết bác can đảm hơn hay là khôn ngoan hơn đấy.
Pact’rigiơ đáp:
- Cậu có thể nhạo tôi tùy ý, nhưng nếu cậu nghe tôi kể một câu chuyện thật ngắn sau đây, một câu chuyện hoàn toàn có thật, có lẽ cậu sẽ thay đổi ý kiến. Trong xứ đạo, nơi tôi sinh ra...
Jôn muốn bắt bác im đi, nhưng ông già bảo, cứ để bác kể chuyện, còn ông trong khi ấy, sẽ hồi tưởng nốt phần còn lại trong câu chuyện của mình.
Pact’rigiơ bèn kể chuyện như sau:
- Trong xứ đạo, nơi tôi sinh ra có một bác tá điền tên là Briđơn; bác ta có đứa con trai tên là Franxi, một chàng trẻ tuổi đầy triển vọng. Tôi cùng học trường sơ học với anh ta, thế mà tôi còn nhớ là anh ta đã đọc được quyển Thư tín của Ôvit, và thỉnh thoảng có thể sáng tác hai câu thơ tiếng La tinh không cần tra từ điển. Không những thế, anh ta còn là một thanh niên rất tốt, không ngày chủ nhật nào quên đi lễ nhà thờ, và được coi là tay hát nguyện hay nhất trong toàn xứ đạo. Kể ra thì thỉnh thoảng, anh ta cũng hơi quá chén một tí, đó là khuyết điểm duy nhất.
Jôn kêu lên:
- Được rồi, nhưng kể đến chỗ có ma đi.
Pact’rigiơ đáp:
- Xin cậu đừng lo, tôi sắp nói đến đây. Vậy thì cậu cần biết bác tá điền Briđơn lạc mất một con ngựa cái non, con ngựa lông màu hồng, nếu tôi không nhớ lầm. Ít lâu sau, anh chàng Franxi đi chơi chợ phiên ở Hinđơn vào ngày... tôi không nhớ rõ là ngày nào, ngẫu nhiên, gặp ngay một người cưỡi con ngựa của ông bố. Franxi lập tức kêu lên: “Bắt lấy kẻ trộm”; chỗ ấy là giữa chợ, người kia không có cách nào trốn thoát. Ấy thế là hắn bị bắt, và bị đem ra trước pháp luật. Tôi còn nhớ quan tòa là ngài Wilaobai Nôilơ, một vị thượng lưu tốt bụng, đứng đắn. Ngài bắt hắn bỏ tù, và bắt Franxi nộp món tiền ký quỹ. Hình như họ gọi như thế; cái chữ La tinh mới khó đọc chứ, gồm re và coghosco; nhưng nội dung lại khác so với nguyên nghĩa khi dùng tách rời, cũng như nhiều danh từ phức tạp khác. Vậy thì, cuối cùng, đến lượt quan tòa Pêgiơ xử phiên phúc thẩm; thằng kia bị đòi ra tòa, Franxi cũng bị đòi ra làm chứng. Nhất định là tôi không bao giờ quên được nét mặt của vị quan tòa khi ông bắt đầu hỏi anh Franxi muốn tố cáo điều gì về người bị giam giữ. Ông ta làm cho anh chàng Franxi run bắn người lên. Vị quan tòa bảo: “Được, anh kia muốn nói gì nào? Chớ có đứng đấy mà ầm ừ mãi, phải nói lên chứ?”. Tuy vậy, sau đó ông đã tỏ ra rất ôn tồn với Franxi, và bắt đầu quát tháo thằng kia. Lúc ông hỏi hắn có muốn kêu điều gì cho mình không, thì hắn bảo rằng hắn bắt được con ngựa. Ông quan tòa đáp: “Ái chà, chú mày mới thực là vận đỏ, ta đi lại trong vùng này bốn mươi năm nay mà chưa bắt được một con ngựa nào; nhưng mà anh bạn ạ, ta sẽ nói cho chú biết rằng vận đỏ hơn là chú tưởng; vì không những chú bắt được một con ngựa, chú còn bắt được cả một sợi dây thừng treo cổ nữa đấy, ta cam đoan với chú như vậy”. Nhất định là chẳng bao giờ tôi quên được câu nói ấy. Mọi người nghe nói cười phá ra, không làm sao mà nhịn được. Ngài còn nói bông đùa đến hai chục câu nữa, tôi không nhớ xuể. Ngài tỏ ra sành sỏi về thịt ngựa, và về mặt này có một cái gì đó khiến cho ai cũng buồn cười. Rõ ràng vị quan tòa này phải là một người đáng quý, đồng thời là một tay hiểu nhiều biết rộng. Quả thật, được dự nghe những phiên xử quyết định sự sống chết của con người, thật là thú vị. Thú thực, có một điều tôi thấy hơi quá đáng, tức là tòa không chịu nghe tiếng nói của luật sư biện hộ cho bị cáo, tuy ông ta chỉ yêu cầu được nói vài lời rất ngắn. Vị quan tòa không chịu nghe ông ta, mặc dầu ngài cho phép một công tố viên lên án can phạm có đến hơn nửa giờ đồng hồ. Thú thực, tôi thấy thế là quá đáng. Vì có lắm người quá: vị quan tòa này, cả phiên tòa, các bị bồi thẩm, các luật sư này, rồi lại cả những nhân chứng nữa, ngần ấy người chống lại một kẻ tội nghiệp, mà kẻ ấy lại đang bị xiềng xích nữa cơ chứ. Thế là hắn ta bị treo cổ, đã hẳn là chẳng còn cách nào khác. Anh chàng Franxi đáng thương kia chẳng bao giờ có thể yên tâm về việc này. Chẳng bao giờ anh ta dám ở một mình trong chỗ tối, lúc nào cũng cứ tưởng như nhìn thấy hồn ma tên kia hiện ra.
Jôn kêu lên:
- Chuyện của bác chỉ có thế thôi ư?
Pact’rigiơ đáp:
- Không, không. Cầu Thượng đế che chở cho tôi... Bây giờ tôi mới kể đến chuyện quan trọng. Một đêm kia, Franxi từ một quán rượu bước ra một con đường hẹp, dài và tối, anh ta chạy đâm sầm vào con ma; bóng ma nom trắng toát lao vào Franxi. Franxi vốn người lực lưỡng, cũng lao vào bóng ma; hai bên quần nhau một trận ra trò, anh chàng Franxi đáng thương bị một trận đòn thảm hại. Cuối cùng, anh ta cũng tìm cách bò được về nhà, nhưng phần vì bị đánh đau, phần vì sợ, anh ta ốm liệt giường mất đến hơn nửa tháng; đầu đuôi câu chuyện này hoàn toàn sự thật, có cả xứ đạo làm chứng...
Nghe chuyện, ông già tủm tỉm cười, còn Jôn thì cười phá ra, thấy thế, Pact’rigiơ kêu lên:
- Các người có thể cười, cũng như một số người khác, đặc biệt là ông chúa đất, ông ta cũng chẳng hơn gì một tên vô thần. Sáng hôm sau, thấy một con bê mặt trắng nằm chết ngay trên con đường ấy, thế là ông ta cho ngay là Franxi đã vật nhau với con bê, làm như con bê có thể đánh được người. Vả lại, Franxi với tôi nhất định đó là con ma, anh ta có thể thề trước bất cứ một tòa án Cơ Đốc giáo nào về chuyện này, mà lúc ấy, anh ta chỉ mới uống đâu có nửa lít rượu. Cầu Chúa che chở cho chúng ta, và giữ cho chúng ta khỏi nhúng tay vào máu.
Jôn nói với ông già:
- Thưa cụ, bác Pact’rigiơ đã kể xong chuyện, tôi hy vọng bác sẽ không ngắt lời cụ nữa, nếu cụ vui lòng cho nghe tiếp.
(còn tiếp)
Nguồn: Tom Jones, đứa trẻ vô thừa nhận, tập 2. Trọn bộ 3 tập. Tiểu thuyết của Henry Fielding. Trần Kiêm dịch từ nguyên bản tiếng Anh: THE HISTORY OF TOM JONES, A FOUNDLING. Nhà xuất bản MAC DONALD, London, 1935. NXB Văn học, 1984.
|