Ở đâu đó con người vẫn còn sống!
Các nhóm người chết dần. Chương trình Hạnh phúc toàn dân do chính phủ thế giới sắp xếp, cung cấp cho mỗi nhóm người, nếu nhóm đó yêu cầu được bố trí ở các Korpus. Ban đầu có nhiều Korpus trên trái đất, khi người ảo chết dần, những người tạo ra chương trình thông tin ảo và các bộ não rút số lượng Korpus cho đến khi còn cái cuối cùng. Các Korpus ban đầu phải cung cấp cho mọi người nơi ở và chăm sóc y tế.
Mọi người được tuyên truyền hướng đến phong cách sống hiện đại ở Korpus. Trước hết đó là cuộc sống sinh học. Cuộc sống này không tiêu hao nguồn dự trữ ngày càng ít dần. Các nhóm người không có khả năng thích ứng với sự thiếu hụt nguồn và sự cấp thiết phải thân thiện với môi trường sống. Ai chống lại các quy luật của Hạnh phúc toàn dân, tiêu hao quá mức nguồn dự trữ và không tuân thủ các quy luật phong cách sống thân thiện về sinh thái, bị nhắc nhở và cuối cùng quân đội sẽ kéo đến bắt buộc tằn tiện với nguồn dự trữ và không được làm ô nhiễm môi trường. Kỷ nguyên băng hà kế tiếp làm giảm đi điều kiện năng lượng của loài người. Cuộc sống thiếu năng lượng trở nên khó khăn. Thay vì dầu hoả phải dùng hydro, chất này được sản xuất từ điện và điện chỉ có thể được sản xuất từ quang năng, thủy năng hoặc phong năng. Chi phí cho năng lượng tăng nhanh và mức sống mà mọi người vẫn quen có, không thể duy trì được. Năng lượng nguyên tử không còn và các cuộc thử nghiệm năng lượng hạt nhân kết thúc thảm họa với những thiệt hại và các vụ nổ lớn. Người ta bắt đầu tính toán liệu có tốt hơn không khi dọn đến Korpus và sống ở đó trong môi trường dịch vụ được đảm bảo mà không đòi hỏi nhiều về năng lượng. Họ phải rời bỏ ô tô, thỉnh thoảng mới được dùng những ngôi nhà lớn khó sưởi ấm của mình. Việc tìm các nhóm người không có gì mới. Các nền văn minh thành thị biến mất, người của rừng nguyên thủy và miền núi chết hết từ lâu. Dù vậy việc tiếp tục tìm kiếm các nhóm người vẫn trở thành giải trí. Trước đây điều đó có nghĩa là việc kiểm tra xem họ có tuân thủ các điều kiện sống sinh thái không. Sau đó mời họ kết nối với khu vực thông tin, thường thì họ được nhận các phương tiện thông tin miễn phí. Những người sáng tạo chương trình đã xây dựng các đề án giáo dục cho những người này. Bởi vì phần lớn họ sống cuộc sống khó khăn, trước hết là người của núi rừng mong muốn được dọn về Korpus.
Nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra việc phát hiện được nhóm mới. Thông thường trong núi sâu hoặc rừng già. Đó là những người khốn khổ nhưng sinh đẻ khoẻ và sự sinh sôi đó đã bù đắp cho sự giảm sút tự nhiên của họ trong môi trường sinh tồn khó khăn. Nếu phó mặc cho số phận, họ có thể sống như thế mãi mãi. Thế nhưng cơ hội cuộc sống ngọt ngào không phải lao động và lo toan biến chất họ đến mức, ở thế hệ sau đã không còn dấu vết nào về họ.
Ngày nay, nỗ lực tìm kiểm nhóm người đã khác. Nó là kết quả của sự diệt vong các fyzikal cuối cùng. Đó là hy vọng rằng đâu đó vẫn còn người sống, những người có thể làm phong phú quỹ gen của những fyzikal, giải cứu, tạo ra nhóm người triển vọng có thể phục hồi nhân loại. Đã có niềm tin rằng những fyzikal sống ở Korpus là những người được làm sống lại, ngoại trừ khả năng sinh con. Một số bộ não nghiêng về thử nghiệm này, số khác lại không, nhưng sự thâm nhập các quan điểm lúc nào cũng ủng hộ chương trình này.
Sau một cuộc thâm nhập não như thế, khi chính phủ mới, tức là Human1 đến Human15, đã soạn thảo chương trình hành động, trong đó sắp xếp cả việc tìm kiếm các nhóm người thất lạc. Điều đó có nghĩa là chế tạo ra hai chiếc máy bay, lớn hơn một chút so với những cái hiện nay, bay quanh trái đất và tìm kiếm khắp nơi. Về cơ bản, đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Đúng là vệ tinh đã lập bản đồ bề mặt trái đất rất tốt. Việc quan sát bằng vệ tinh đem lại thông tin về những khu vực mở, tức là dễ nhìn. Nhưng còn rừng già? Các thung lũng trong núi? Chính đấy là nơi cần phải tìm hiểu, thăm dò. Cần tiếp cận gần hơn và phóng to các công trình, cũng có thể đến khoảng cách trực tiếp, để không có mâu thuẫn. Như vậy là cần nghiên cứu những khu vực mà vệ tinh chưa lập bản đồ, hoặc những nơi có dấu hiệu hoạt động của người. Nhập vào hệ thống thông tin những dữ liệu có bình luận, thính giả được biết máy bay đang ở đâu, đang bay trên khu vực nào và có bản đồ kèm theo.
Phần lớn đó là những hình ảnh chán phèo, tất nhiên hấp dẫn hơn nhiều là những chương trình về thiên nhiên được phát đều đặn. Các fyzikal thỉnh thoảng vẫn xem các chương trình đó trên monitor, nhưng bởi vì nó cứ giống nhau mãi, nên họ chuyển sang chương trình khác. Nếu có gì lý thú thì họ sẽ được báo lại.
Bogadyr yêu thích thiên nhiên, do đó anh xem cả chương trình, John bé xem cùng anh. Nó hỏi: ”Bác ơi, có cái gì trong rừng thế, trông như những tảng đá ấy?”
“Đó là những thành phố trước đây, bây giờ bị rừng che khuất.”
“Đó là nhà hả bác?”
“Đúng, tương tự như các căn hộ.”
“Sao họ không cho thấy hình ảnh thật rõ ràng?”
“Chắc là nó không hấp dẫn lắm cho chương trình này. Họ đi tìm người…”
“Thế nhưng người làm sao có thể sống trong rừng như thế, trong mấy túp lều và không nhìn thấy họ?”
“Cái này truyền hình nhiệt sẽ cho thấy.”
“Đó là cái gì ạ?”
“Đó là một con mắt thần, phản ứng với nhiệt độ. Điều đó có nghĩa là nếu có người ở đó, nhiệt độ con người cao hơn nhiệt độ các cây cối xung quanh và truyền hình nhiệt sẽ phản ứng. Cháu biết mà, cháu đã từng bắn rơi một chiếc máy bay đấy thôi.”
John bé xấu hổ. “Tại vì lúc ấy cháu còn nhỏ... Máy bay đo đạc cả trái đất như thế ạ?”
“Không, chỉ những nơi đáng nghi. Một mặt bằng ánh sáng, tức là các hình ảnh, mặt khác bằng mắt thần.”
“Thế về đêm thì sao?”
“Về đêm truyền hình nhiệt dù cũng có phản ứng, nhưng không có ánh sáng, thế nên máy bay đậu ở đâu đó trên cành cây và đợi đến sáng. Sáng ra nó sẽ bay tiếp theo chương trình. Đến trưa nó lại tìm chỗ, tháo pin mặt trời ra và sạc pin rồi bay tiếp.”
“Nếu về đêm có con báo nó tấn công máy bay thì sao?”
“Thứ nhất, loài vật không tấn công những thứ như thế. Đó không phải là con mồi của chúng, nó không phải là vật sống. Con vật không quan tâm đến những thứ không cần thiết như con người. Con vật phải tự nuôi sống, phải đi săn. Còn thì tất nhiên là máy bay với con mắt thần sẽ nhìn thấy kẻ thù nếu có và sẽ di chuyển đi nơi khác nếu ở trong tình trạng nguy hiểm.”
Hôm sau Bogadyr lại ngồi với John bé bên monitor và lần này xem phong cảnh lý thú hơn. Máy bay bay từ các khu rừng già Ấn độ đến Tibet. Trên hình họ thấy những rặng núi cao. Đúng là thực sự lý thú. Máy bay không thể lên quá cao vì nó không được làm cho điều kiện không khí loãng, sẽ bị thiếu nhiều năng lượng, nó đậu trên sườn núi và mở pin mặt trời. Trong khi đó cho camera quay xung quanh và chuyển về Korpus khung cảnh thiên nhiên vùng núi tuyệt đẹp. Phía dưới là thung lũng và bên kia có những công trình nào đó. Trông gần như làng quê, nhưng những ngôi nhà dính vào nhau. Chắc hẳn đó trước là tu viện. Thỉnh thoảng camera quay lại, hướng vào công trình này và quay cận cảnh. Một hình ảnh không đẹp. Cửa sổ kính vỡ, hẳn từng trải qua cơn bão. Bụi bặm trên tường sau hai thế kỷ chắc chắn dầy đến nửa mét. Trước cửa ra vào có chiếc ghế đá phủ đầy bụi. Trên đó khi xưa người ta ngồi và nhìn ngắm xuống thung lũng. Chắc hẳn họ đã cầu nguyện. Bên cạnh còn một phần cái gì đó, có lẽ là ống xoay niệm phật. Điều gì từng xảy ra với những người này? Chắc hẳn họ đã ra đi từ lâu. Sau đó máy quay hướng vào phía trong cánh cửa và cận cảnh. Tại đó có bức tượng thì phải, ngồi vắt chân và nhìn vào khoảng không phía trước. Không còn có ai đến cầu khẩn bức tượng này.
Rồi có gì đó chuyển động trên sườn núi, những chấm đen. Máy quay chĩa vào, đó là những con dê. Chúng ăn cỏ hoàn toàn thoải mái, không có người chăn. Đã bao nhiêu thế hệ không có người chăn như thế rồi. Hình như chúng không bị phiền toái gì.
“Tu viện là gì hả bác?” John hỏi.
“Cháu biết không, đó là nơi mà đại khái là người ta ở đấy, chăn dê và cúng ông thần nhỏ mà cháu đã nhìn thấy rồi đấy.”
“Tại sao họ làm vây?”
“Bác không biết, chắc là lúc đó họ cảm thấy mãn nguyện, có lẽ vậy, tóm lại là họ thấy dễ chịu.”
Máy bay sạc pin xong và cất cánh, lượn xuống thung lũng rồi lại bay lên cao. Trong thung lũng nước chảy xiết, xung quanh cây cối um tùm. Trên sườn núi thỉnh thoảng xuất hiện ngôi nhà. Máy bay cho camera quay tiến sát cận cảnh một vài chi tiết. Phần lớn các ngôi nhà đó bụi phủ đầy, một số đổ nát và đâu đó đất đã sạt lở, lấy đi một phần.
Người bình luận nói: “Khả năng sống sót của các nhóm người ẩn dật tồn tại chủ yếu trong hai trường hợp. Hoặc trong rừng già, hoặc trong các vùng núi. Nhất là ở Tibet. Những người này trước đây sống trong các tu viện, chùa chiền và vùng xung quanh. Niềm tin của họ không cho phép liên lạc với thế giới và họ từ chối một thời gian dài kết nối với khu vực thông tin của Hạnh phúc toàn nhân loại. Cũng có nhiều trường hợp như vậy. Chính tại đây tồn tại xác suất cho rằng họ có thể duy trì sự sống đến hôm nay. Cũng may mắn là Tibet cởi mở và các hình ảnh của vệ tinh có thể thực hiện đến mọi chi tiết. Nhưng chúng ta có thông tin từ thời trước đây một trăm năm, rằng các thày tu Tibet sau đó chuyển vào những khu vực thuận lợi hơn và họ lui xuống dưới vùng núi Himalaja. Có điều kiện đó là do vùng dưới núi được giải phóng bởi cư dân trước đó, họ chuyển xuống thấp hơn tới biển, dần dần tập trung xung quanh các Korpus. Nhưng theo kế hoạch, máy bay khảo sát sẽ bay qua các tu viện Tibet nằm kín đáo trong các thung lũng, nơi không được cho là có người ở. Sau đó sẽ tập trung vào vùng dưới núi Himalaja, như vậy sẽ khó khăn hơn nhiều vì rừng cây bao phủ.”
Máy bay vượt qua thung lũng và bay đến đèo, tại đây nó gặp vấn đề. Ở đó đang có cơn bão khá mạnh và những bông hoa tuyết bắt đầu bay quanh camera. Máy bay là là mặt đất. Người vận hành điều khiển nó đang bận nhiều việc. Dường như nó sẽ không vượt qua được đèo, nhưng rồi cũng qua, vụt sang phía bên kia và bắt đầu hạ thấp. Những bông tuyết biến mất, một vùng rộng mở hiện ra, ở giữa lại là một khu nhà.
Bogadyr và John nhìn các ngôi nhà xích gần lại. Hình ảnh cũng trùng hợp. Ổ đây tất cả cũng đầy bụi. Không có một mống người nào. Máy bay hạ cánh trên mái một cái nhà và sạc pin. Trong lúc đó camera theo dõi vùng lân cận. Giữa các ngôi nhà là đường phố, với những bức tường đổ nát. Phần lớn các mái nhà bị hỏng. Chỉ còn cái tháp vàng của mái chùa vẫn đứng đó. Máy bay chui vào trong và hạ xuống đất. Ở đó tối. Truyền hình nhiệt tại một góc đã thu được một sinh linh nào đó. Trông như con dê, nhưng không nhìn thấy sừng của nó. Chắc rằng con dê bị ốm, không động đậy, nó sẽ chết sớm mất. Máy bay bật đèn pha, camera nhìn bao quát khu vực. Trong một góc đúng là có con dê đực già đang hấp hối. Bỗng nhiên từ trong bóng tối hiện ra bức tượng Đức Phật ngồi. Hoàn toàn bằng vàng, rực sáng dưới ánh rọi của đèn pha như mặt trời trên bầu trời ảm đạm, chỉ có phần ngang bị phủ bụi. Các bức tường xám xịt, các bức tranh không nhìn rõ. Máy bay quay ra và bay ra khỏi ngôi chùa. Nó đậu trên mái nhà để ngủ. Rõ ràng là tại thành phố này không có ai sống.
Ngày thứ hai nó lại bay qua hai thành phố như thế, qua các đường phố và nhìn vào các ngôi chùa. Bụi bặm cho thấy không có sự sống. Đó là cách kiểm tra để thấy ở Tibet không còn ai cả. Rồi nó quay trở về, chọn một thung lũng khác. Đầu tiên nó phải bay lên thật cao, đậu trên một sườn núi đứng. Camera lấy được cảnh đẹp hoang dã xung quanh.
“Bác ơi, tại sao chúng ta không sống trong núi?” John nói. ”Ở đó đẹp quá.”
“Ở đó lạnh. Chúng ta sẽ phải sưởi ấm và mặc ấm. Đó là những điều hạn chế và cũng sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng hơn.”
Bây giờ camera cho một hình ảnh toàn cảnh. Có thể thấy cả một phần bầu trời với trăng sao.
“Bác ơi, thế sao ban ngày lại nhìn thấy sao, mà bầu trời lại tối?”
“Cháu biết không, thế này nhé. Ở trên cao kia, không khí loãng, tức là không có sự tán xạ ánh sáng… Hừm, cháu nên tập đọc và tự đọc mọi thứ hoặc ít ra nghe các chương trình giáo dục. Cháu không làm gì cả, chỉ toàn lang thang trong rừng... Cháu cần học hỏi nhiều hơn về rừng nếu muốn thành người canh rừng…”
Máy bay lượn qua sườn núi và tiến đến thung lũng. Nó thực sự lao xuống và sau đó bay cao dần lên. Phía dưới là rừng. Thung lũng ngày càng hẹp hơn, đến khi bay giữa vách núi thẳng đứng xuống vực hẹp. Phía dưới có thể nghe thấy tiếng gầm gào của thác và ghềnh. Nước trong sông dâng cao, trở thành dòng nước lớn. Máy quay không chỉ lấy dòng sông, mà cả những vách thẳng đứng cả hai phía. Đột nhiên máy bay tiến vào khoảng không rộng mở. Núi ở lại phía sau và phía dưới trải ra khu rừng già rộng mênh mông, nuốt chửng cả dòng nước lớn. Nhưng máy bay không hạ thấp xuống khu rừng. Nó quay lại vùng núi và hạ cánh trên sườn cao đầy ánh nắng để nạp lại năng lượng mặt trời đang lặn.
Giọng bình luận kết thúc chương trình hôm nay bằng những lời: “Ở Tibet trong vòng hai thế kỷ qua nhiệt độ giảm xuống nguyên năm độ. Miền đất trở thành hầu như không có cư dân. Điều đó không có nghĩa là một số nhóm cư dân không thể duy trì. Nhưng như chúng ta đã thấy, họ không duy trì được. Hôm nay tạm kết thúc, ngày mai chúng ta sẽ thấy chân núi Himalaja.”
Mong buổi phát, hôm sau John từ sáng sớm đã sang nhà Bogadyr. “Sao sang sớm thế cháu?” Bogadyr hỏi giọng không vui.
“Cháu muốn nhìn thấy việc đi tìm người…”
“Nhưng từ chín giờ cơ mà…”
John không có khái niệm về thời gian. Thời gian của nó không bị bất cứ cái gì hạn chế. Nó làm gì nó thích. Bây giờ nó đang cáu vì chương trình phát quá muộn, hôm qua nó đã gặp vấn đề không có mặt lúc chín giờ. Nó ngồi xuống, đung đưa chân và huýt sáo. Mặc dù mười chín tuổi, nó vẫn cư xử như đứa trẻ. Nó cứ đặt những câu hỏi trẻ con: “Bác ơi, tại sao những người đó lại sống trong tu viện, chùa chiền? Tại sao họ tụng kinh? Điều đó có nghĩa là gì?”
Bogadyr cho rằng cách cư xử của John là do việc giáo dục bị lơ là. Nhưng những đứa trẻ khác giải toả tính tò mò của mình bằng đọc sách và các chương trình giáo dục. Có phải là vì John không học đọc chăng? Mà nó cũng không quan tâm đến các chương trình giáo dục. Vì thế Bogadyr nói với nó: ”John, cháu không còn là trẻ nhỏ mà cứ hỏi mãi. Khi nào việc tìm người kết thúc, bác sẽ tìm chương trình giáo dục cho cháu. Ở đó cháu sẽ biết tất cả.”
“Không đâu, cháu không muốn đâu, ở đó có bao nhiêu thứ chán phè…”
“Nhưng cũng có cả về tu viện, chùa chiền và tín ngưỡng…”
“Nhưng cháu sẽ không nghe cái đó,” John quả quyết.
“Nhưng khi hỏi về điều ấy, chắc cháu quan tâm…”
“Được, bác sẽ tìm cái đó cho cháu. Nhưng cháu không muốn nghe những thứ nhàm chán khác đâu...”
“Bác sẽ không tìm gì cho cháu cả, cháu tự tìm lấy. Tìm chương trình thì cháu biết mà,” Bogadyr nói, rồi mới nhớ ra là John không biết đọc để tìm theo đầu đề. Tức là không biết cái nọ ảnh hưởng đến cái kia ra sao. Nhưng anh không muốn đưa John trở lại cuộc sống ảo, ở đó nó không có khó khăn này và để theo dõi các chương trình giải trí, nó không cần phải đọc. Vì thế, anh chữa lại: ”Được rồi, bác sẽ tìm cho cháu.” Anh bắt đầu tìm trong phần danh sách và sau một lát đã có trên monitor chương trình về các tu viện, chùa chiền và có những hình ảnh giống những hình ảnh hôm qua. John chăm chú nghe. Nó cũng thích thú với bài giảng về đạo Phật. Thật đáng ngạc nhiên, có vẻ như nó hiểu điều đó. Nó không dốt nát.
Chương trình về các tu viện, chùa chiền kết thúc trước khi bắt đầu chương trình về tìm kiếm con người. John hoạt khẩu: “Họ nói là những người đó cầu khẩn ông Trời. Đó là bức tượng. Nhưng đó chỉ là biểu tượng đại diện. Trong thực tế, ông Trời vô hình. Ông trời là toàn năng và tạo ra tất cả, điều khiển mọi thứ. Là đấng tối cao anh minh, tức là biết tất cả. Điều đó rõ ràng rồi.” Sau đó nó ngừng nói và trầm ngâm. “Lúc ở trong rừng và đến đêm khi đi ra biển, đã có thể xảy ra chuyện cháu ngã từ vách núi xuống, nhưng cháu không ngã. Có thể là ông Trời giữ cháu lại. Có thể Ngài đã cứu cháu...”
“Cũng có thể, nhưng cũng có thể là tình cờ...” John suy ngẫm.
Đúng lúc đó chương trình tìm kiếm người bắt đầu. Máy bay ghi hình thiên nhiên từ sườn núi. Trời râm, phong cảnh đã sáng. Phía dưới là khu rừng già rộng lớn. Khi xưa khu vực này đông dân và cánh đồng bao phủ cả vùng. Ngày nay không có dấu hiệu nào về cư dân. Máy bay vút lên và lượn từ sườn núi xuống phía dưới. Những cây cối đầu tiên xuất hiện, rồi đến những bụi cây lúp xúp và sau cùng là khu rừng già rậm rạp. Mục tiêu không phải được chọn ngẫu nhiên. Những hình ảnh của vệ tinh cho thấy tại một điểm có khu đất trống đáng ngờ. Máy bay vẫn đang bay trên những thành phố và làng mạc đổ nát bị cây cối che phủ. Tại một thành phố như thế, máy bay đậu lên một ngọn cây cao và quay vòng quanh. Cây này hẳn rất già. Khi xưa có lẽ mọc trong vườn. Hiện nay những bức tường đã đổ nát, những bụi cây mọc lên. Bên cạnh là ngôi nhà lớn, không có cửa sổ, nhưng vẫn còn nguyên. Không nhìn thấy mái. Có lẽ nó vẫn đấy.
Bỗng nhiên có ai đó xuất hiện trong cửa sổ. Chỉ là một khoảnh khắc, nhưng khuôn mặt trông giống mặt người. John bật lên, hồi hộp, camera trượt đi. Không thể như thế được! Người vận hành làm gì thế? Camera quay vòng quanh, tuy nhiên không hướng vào ngôi nhà.
Bogadyr hồi hộp đến mức lúng túng bấm vội nút trên điện thoại và gọi người vận hành.
“Trời đất, anh không nhìn thấy sao, trong cửa sổ ngôi nhà đó có người ?”
“Đấy là con khỉ, nhưng nếu anh muốn, chúng tôi sẽ đưa máy quay về đó.”
Sau một lát, camera đi qua tường ngôi nhà, nhưng không có gì xuất hiện nữa. Bogadyr cáu quá. Anh gọi người vận hành: ”Tôi muốn xem lại hình ảnh cửa sổ ngôi nhà.”
“Vâng, dĩ nhiên rồi, chúng tôi sẽ cung cấp cho anh, song bây giờ chúng tôi không thể làm chậm chương trình. Anh sẽ nhận nó sau này.”
“Không, anh đưa nó lên monitor ngay. Tất cả mọi người đều muốn thấy. Chúng ta đang tìm kiếm người mà?”
“Được, nhưng chỉ một đoạn thôi.”
Một lát sau, khuôn mặt trong cửa sổ hoàn toàn mờ, không rõ nét xuất hiện trên monitor. Rất có thể là người, cũng có thể là khỉ. Bogadyr tay vẫn cầm điện thoại đang kết nối: ”Trước đó hình ảnh tốt hơn. Chắc chắn là tôi nhìn thấy khuôn mặt một cách rõ ràng, còn đây là lúc camera đã trượt.”
“Tôi lấy làm tiếc, không có hình ảnh nào tốt hơn cả...”
“Hãy mở đoạn ghi hình lần nữa và chậm thôi!”
“Xin đừng giận, ông Bogadyr. Khán giả sẽ bực mình vì chúng tôi chỉ phục vụ một người, phải tiếp tục phát.“ Người vận hành tắt máy và không tiếp cận được.
Máy bay vẫn đậu trên cây platan một lúc, theo dõi những bức tường của các ngôi nhà, nhưng bức tường ngay bên cạnh thì nó không quay. Liền đó xuất hiện mấy khuôn mặt trên mái một ngôi nhà. Hiển nhiên đó là những con khỉ nhỏ và đen, trong cửa sổ chắc chắn không phải chúng. Khuôn mặt đó sang hơn và chiếc cửa sổ có phần khung dưới chắc chắn phải cao tám mươi xăng-ti-mét, thì không có con khỉ nào cao đến thế. Bogadyr tự trách mình sao lại không tự ghi hình. Sửa chữa ngay, anh đấu thiết bị ghi hình của mình với monitor và máy khuếch âm.
Không lâu sau máy bay tiếp tục cất cánh. Thành phố tan hoang lại xuất hiện, cuối cùng có một cái gì đó rất đáng chú ý. Đấy là một thành phố bỏ trống chưa lâu... Trên đường phố mặc dù cũng có cây mọc lên, nhưng những ngôi nhà trông như có người ở. Đâu đó cửa sổ không kính, chỗ nào cũng bụi, tuy vậy các mái nhà chưa bị hỏng, có lẽ chỉ một vài chỗ. Thành phố này bị bỏ không từ khi nào? Sao không có bình luận gì về điều đó. Hôm trước mọi cái đều được giải thích chính xác về khu vực bị bỏ trống đã lâu, còn ở đây? Không gì hết. Chỉ nêu tên thành phố là Vazapir. Máy bay lướt tiếp qua các đường phố và dõi vào ngôi chùa, nhưng chỉ qua khung cửa sổ kính đã vỡ, cửa ra vào làm từ gỗ cứng, chắc sẽ còn tốt đến cả thế kỷ.
Đỉnh vàng của chương trình đã đến. Một ngôi làng trông như người ta mới rời bỏ nó ngày hôm qua. Ruộng đồng chưa có cỏ dại. “Không thể thế được!” Bogadyr nói. “Ở đó có thể vẫn còn có người.“ Thậm chí khu vườn trông như được chăm sóc trồng cà-rốt. Nó có thể có từ năm ngoái. Tất nhiên là máy bay không quan sát điều đó. Nó hạ cánh bên một túp lều. Chờ đợi. “Người vận hành bây giờ đang nghĩ gì? Anh ta chắc có thông tin từ vệ tinh rằng có cái gì đó ở đấy? Anh ta sẽ làm gì? Anh ta sẽ cư xử thế nào nếu gặp phải con người?”
Máy bay ghi hình lối vào túp lều. Cửa ra vào để mở, cửa sổ đóng. Không có gì xảy ra. Chờ đợi. Có thể người vận hành sợ làm động gì đó. Túp lều chắc chắn có người ở. Phía trước nhà là đụn cỏ khô còn tươi. Chắc ai đó muốn cho dê ăn. Sau đó có tiếng kêu cầu khẩn, con dê đã đói. Người đâu? Máy quay đứng hướng về lối đi vào. Nó không động đậy.
Bỗng nhiên điều kỳ lạ xảy ra. Có gì đó rơi vào máy bay. Camera hướng lên phía trên. Nó lơ lửng quan sát bầu trời xanh. Một lần nữa nó chĩa vào toàn cảnh, có lẽ trong vô vọng nó muốn bắt được hình ảnh nào đó. Nhưng không tìm thấy gì, chỉ vọng lại những tiếng đập. Rồi im hẳn và hình tối dần đến tắt ngấm. Kết thúc.
Bogadyr nhìn thấy John trừng trừng dõi vào ô hình trống. Nó không thể cựa quậy, mắt mở to, hướng ra cửa sổ: ”Ở đấy chắc chắn có người.” Nó thốt lên. “Không ai khác có thể làm việc đó ngoài con người. Điều gì đã xảy ra?”
“Chắc chắn là con người rồi,” Bogadyr nói. “Đơn giản con người đập vào máy bay bằng cái gậy hay cái rìu. Chỉ cần ngắt một mạch nào đó là xong. Làm hỏng chắc không khó khăn gì. Có thể người đó am hiểu kỹ thuật. Người đó biết đập vào đâu.”
“Bác nghĩ rằng người đó biết về chúng ta ư? Và về Korpus?”
“Khó kết luận,“ Bogadyr phân vân. “Chắc hẳn người đó từng tiếp xúc với một số dấu hiệu của nền văn minh, không thể sống tách biệt hoàn toàn, biết về các máy bay. Vì nó bay thường xuyên và ghi hình thiên nhiên mà.” Rồi anh sực nhớ ra phần ghi hình của mình. Từ giờ, nó sẽ là thần hộ mệnh chủ yếu của anh. Nó là chứng cứ về sự tồn tại của con người. Anh bật lại ngay lập tức và tắt chương trình có lời xin lỗi của người vận hành, rằng đã xảy ra sự cố trên máy bay. Thậm chí anh cho rằng có sự cố tình làm hỏng.
Trong phần ghi hình không có gì khác ngoài những gì anh nhìn thấy. Không có hình ảnh trực tiếp của con người, như vậy Korpus không phạm tội. Chỉ tồn tại những bằng chứng gián tiếp.
Không còn gì tiếp theo nữa, máy bay mất tích. Bogadyr lấy làm lạ, chiếc máy bay thứ hai làm gì? Anh không biết việc nó cũng bay, nhưng không chuyển hình ảnh cho công chúng. Nó bí mật nghiên cứu một số địa điểm. Anh không biết rằng chiếc máy bay này sau đó cũng đến cùng những địa điểm và quay được nhiều hình ảnh lý thú hơn nhiều, kể cả người bạn bay bị hỏng của nó.
Bogadyr nhận định về sự tồn tại của con người. Khả năng tìm ra họ. Ở khu vực dưới dãy Himalaja chắc chắn nhiều nơi có người.
Một lần sau đó, John dừng anh lại và nói: ”Bác ơi, ta cùng đi chứ?”
“Đi đâu?”
John thể hiện rất rõ ràng: “Thì đến chỗ có người ấy, những dãy núi phía dưới ấy…”
Dù rằng Bogadyr cũng cảm nhận tương tự như vậy, nhưng anh không muốn đi khỏi đây, nơi anh có vợ và những người tình. Anh khuyên giải John: “Cháu biết không John, có thể tồn tại người nào đấy, nhưng sẽ được gì? Khả năng người đó chỉ sống một mình. Nếu ở đó cộng đồng còn sống thì chắc hẳn phải có bọn trẻ con chạy nhảy và phụ nữ ngoài cánh đồng.” Đương nhiên bản thân anh không tin vào điều đó. Một mình không thể ở đó được. Những người khác phải ở cách đó không xa.
Sự tan rã của các fyzikal
Mọi người bắt đầu gọi Stanin là Olejda nhỏ. Vì nó còn béo hơn nhà triết học ngày nào, vận động khó khăn. Cũng vài lần nó thử ăn kiêng với kukla trên đầu, nhưng không thể thay thế món ăn thật. Nó không thể nhịn được. Cũng khó nói cái gì khiến nó rời khỏi cuộc sống lưu động của những người fyzikal, liệu đó là vì béo hay vì kukla. Chắc là cả hai.
Trở thành người đàn bà lặng lẽ và tội nghiệp, Alena chăm sóc Stanin và luôn miệng kêu việc đó làm mình mệt mỏi. Cô thuyết phục nó hãy chuyển đến Korpus, ở đó có “sự chăm sóc toàn diện.”
Nada và Arkad là những người đầu tiên dọn đến Korpus. Arkad không cử động được ở trên giường, trong khi Nada không phục vụ anh. Thỉnh thoảng Nora đến căn hộ của họ, cô kể cho mọi người nghe ở đấy khủng khiếp như thế nào, ở đấy lộn xộn và hôi thối ra sao. Việc chuyển đến Korpus là giải pháp. Con của họ giao cho Mona còn Nora giúp đỡ cô. Hai đứa sinh đôi khi đó đã lớn, chúng đi lại Korpus thăm bố mẹ.
Mona phải để bé Nada mỗi năm một tháng ở Korpus chữa bệnh trong phòng có điều hòa. Con bé ở đó cùng với Zazim cũng chữa trị bệnh tương tự. Cả hai đều bị dị ứng. Nana dị ứng với nốt đốt côn trùng, còn Zazim dị ứng với phấn hoa. Để bọn trẻ chịu ở trong soba, chúng phải được xem các chương trình giải trí với kukla trên đầu. Mona thường ở đó với chúng và cũng được vui vẻ. Cô cũng thích vì không phải lao động trong căn hộ. Tuy rằng có nhiều việc cô để cho robot làm, nhưng Human1 luôn luôn khẳng định với cô rằng không có robot cho mọi công việc và chỉ có ở Korpus thì mới đảm bảo có „sự chăm sóc toàn diện”. Sự thiếu vắng của cô không làm phiền gì Bogadyr. Anh chuyện trò với Tana. Chỉ tình yêu dành cho Bogadyr và tính ghen tuông của Mona khiến cô đi đi lại lại giữa Korpus và căn hộ. Bọn trẻ con sống một thời gian với cô trong căn hộ, nhưng khoảng thời gian này đã rút ngắn bởi mức độ bệnh dị ứng của Zazim ngày càng xấu đi và Mona không muốn ở căn hộ.
John nhỏ đã quen với việc bị giam cầm ở soba. Nó ở đó lâu hơn để xem các chương trình. Khi mười bốn tuổi, nó bắt đầu có những thiên lệch về bạo lực. Nó hành hạ đám con gái. Là do nó mở các chương trình bạo lực rồi áp dụng trong môi trường thông thường. Tất cả chỉ muốn nó để yên và vui vì nó ở Korpus. Bố mẹ nó cũng sớm theo nó về đấy. Họ giải thích rằng họ không thể để nó ở đấy một mình. Trong khi đó họ có quan tâm mấy đến nó đâu. Thực ra là vì họ muốn thoát khỏi công việc ở căn hộ.
Nora và Slava tạo thành một đôi kín tiếng và tội nghiệp. Khi không thành công trong việc sinh con, họ càng trầm lặng và né tránh mọi người hơn. Thỉnh thoảng họ cũng mời khách đến thăm, nhưng chỉ trong chốc lát. Các vấn đề với John nhỏ và tật nghiện rượu của Nadin/Nada càng khiến họ nghĩ rằng cần xa lánh mọi người. Tóm lại đây không phải là xã hội dành cho họ. Chỉ có Slava thỉnh thoảng giao tiếp với Bogadyr. Cả hai gắn kết với nhau bởi những kỷ niệm những năm trước đây và thường chỉ còn hồi tưởng lại. Nhưng Nora ghen cả với điều đó. Cô lo sợ nhỡ Slava lại „đổ” khi có những người phụ nữ không có ràng buộc là Tana và Zita. Cô không muốn kiểm soát tại chỗ cái cớ của Slava là đi gặp Bogadyr và trở thành người đàn bà lúc nào cũng theo dõi chồng. Tốt nhất là Slava đừng có bất cứ quan hệ nào buộc cô phải gây ra hành vi nực cười khi kiểm soát.
Nhóm còn lại quanh mấy cô gái trẻ Bogdana và Nasta. Tana và Zita cố gắng bảo vệ chúng trước những điều xấu xa và giữ chúng cách xa bọn trẻ còn lại. Họ dạy chúng đủ thứ, những thứ mà chúng đã tự biết, thực ra cũng không có gì nhiều, nhưng so với mức độ văn minh thông thường thì như thế là đủ. Hơn nữa trên monitor họ chiếu những phim về lịch sử và cả các chương trình giáo dục. Đồng thời chúng cũng tự học. Ngược lại, những đứa trẻ khác không biết đọc và không biết viết. Cả hai bé gái được học hành vì vậy đi quanh các căn hộ với cái mũi vểnh lên và ít khi chúng chào ai.
Bogadyr đi lại trong khu vực Korpus và các căn hộ như con chim câu đi lại trên những chiếc xà. Anh ngủ tại căn hộ của mình đã trở nên trống rỗng. Anh tiêu khiển với Tana và Zita bằng mọi cách, nhưng dĩ nhiên là bí mật kẻo mấy bé gái trông thấy. Thỉnh thoảng anh nói chuyện với Slava, đến Korpus gặp Mona, người mà anh vẫn yêu nhiều nhất trong tất cả, nhưng cũng lại là người yếu đuối và suy nhược nhất.
Một hôm Slava thông báo với Bogadyr rằng họ dọn đến Korpus. Họ không muốn sống ảo, nhưng chỉ vì không biết tại sao phải sống trong căn hộ. Tập thể gắn kết, nhưng giờ tan rã rồi, họ không có lỗi trong chuyện ấy. Họ sẽ vẫn đi dạo vào thiên nhiên như trước đây và sẽ đến thăm nhau. Đằng nào thì Bogadyr cũng biết, tất cả mọi người rồi sẽ kết thúc ở đó. Còn đây là cố gắng thử nghiệm với Bogdana và Nasta mà anh ủng hộ. Hy vọng cuối cùng mà anh gắn bó. Những người khác anh không quan tâm, có lẽ trừ vợ mình.
Bogadyr thể hiện như bố của Bogdana, anh thích đi dạo chơi với nó và cho mấy người ảo chưa hề ra khỏi Korpus kia thấy mình. Cũng vậy thôi, những người này chẳng còn quan tâm đến cái gì, chẳng qua chỉ là cuộc dạo chơi trước mặt những xác chết. Bogdana mười tám tuổi mặc bộ váy có ren, giống như mẹ nó ngày xưa. Những miếng ren ấy cũng khiến khối thứ cắn rứt lương tâm. Không có nó, ai mà biết được liệu có Bogdana ở đây...
Bogdana lấy làm tiếc rằng người đàn ông đẹp đẽ và cường tráng kia là bố mình, nên không thể làm tình với cô. Cô mơ về yêu đương như một cô gái thành thị của thế kỷ XIX theo các cuốn tiểu thuyết và những thông tin được tìm thấy một cách bí mật. Chỉ thiếu những chàng trai viết những bức thư bí mật. Đơn giản là họ hoàn toàn thiếu vắng, họ không còn. Và người đàn ông khoẻ mạnh lại là bố cô. Thật không may. Khi đọc tiểu thuyết trên monitor, lúc nào ở đó cũng có bao nhiêu đàn ông, thế mà ở đây chẳng có ai. Mẹ cô nói cô phải có con. Nhưng phải có đàn ông chứ. Tìm đâu ra?
Nói khác đi cô cũng muốn có con. Trong tiểu thuyết cũng rất nhiều con. Có người phụ nữ có đến mười hay mười hai con. Còn ít nhất là bốn con. Trong thâm tâm cô nghĩ, bốn là đủ.
Thỉnh thoảng Nasta đi cùng với họ. Bogdana ghen tị với Nasta rằng khi lớn lên, nó có thể yêu Bogadyr. Nhưng tạm thời điều đó không làm Nasta bận tâm. Nó mới mười sáu và vẫn còn những ý nghĩ trẻ con. Thậm chí nó vẫn còn bí mật chơi với búp bê, có quyển sổ nhỏ để ghi lại những kỷ niệm.
(còn tiếp)
Nguồn: Nhân mạng cuối cùng và đồng loại. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc: Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Mgr Nguyễn Thị Mùi (Lenka Nguyen),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza). Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.
Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info
|