tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
26.11.2019
Vlastimil Podracký
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại


Bỗng nhiên thấy cái gì đó khiến anh sững người. Bờ hồ cây cỏ mọc đầy và ven bờ là bùn lầy, nhưng ở một chỗ các bụi cây thấp hơn hẳn. Đó là một đoạn được phân định rõ ràng. Trông cứ như có ai đó đã chặt cây cỏ cách đây không lâu. Có lẽ là năm ngoái? Anh đứng dậy tiến đến. Các bụi cây thấp nên dễ dàng đến tận bờ và ở đây anh phát hiện chiếc cầu nhỏ cho người câu cá. Còn nguyên vẹn hoàn toàn. Anh không sợ dẫm lên đó, vì cầu được làm từ những tấm gỗ vẫn chưa bị thối và rõ ràng là gần như còn mới nguyên. Tại đây anh hình dung ra người câu bắt cá trên sợi dây cước. Cái này ai đó dựng lên chưa lâu, trong đầu anh chợt thoáng nghĩ: John, đúng John biết bắt cá với sợi cước. Nó từng bắt cá trong vùng vịnh yên tĩnh ở biển. Không thể là ai khác ngoài nó. Thể nào anh cũng tìm thấy nó! Bogadyr không biết đánh cá kiểu này, anh phải tìm ra John, để nó bắt cá cho anh! Thậm chí anh còn thèm ăn cá. Anh nhanh chóng quay trở lại nơi mình cư trú.


Anh ăn no, uống nước, ngồi trên bậc thềm suy  nghĩ. John có thể sống ở đâu, nếu nó ở thành phố này? Chắc cũng trong một căn hộ. Đúng rồi, chắc hẳn rồi, trong nhà của bố nó. Anh biết là nhà nào. Bố nó từng mô tả cho nó, thậm chí nó có cả ảnh. Tiếc quá, Bogadyr không có tấm ảnh đó. Anh loáng thoáng nhớ lại bức ảnh vì chỉ nhìn lướt qua. Đúng, cái nhà giống như nhà này. Chắc chắn nó phải ở khu quanh đây.


Anh không chần chừ lao đi tìm. Hẳn anh phải nhận ra ngôi nhà có người ở! Cửa sổ của nó phải được sửa lại, con đường phải được dọn sạch cỏ. Anh chỉ đeo dây lưng và vũ khí rồi đi ra phố. Trên đường mấy phương tiện giao thông đỗ đó, đã hoen rỉ. Vỉa hè còn tương đối nguyên vẹn, nhưng từ mặt đường có nơi cây cọ đã mọc xuyên lên, những cây này là những cây đầu tiên đục qua nhựa đường. Bogadyr xem xét kỹ lưỡng từng con đường rồi lần theo tiếp vài con đường khác. Anh để ý thấy một cái vườn bị cỏ mọc đầy được ngăn bằng dải cây cối thấp hơn nhiều. Anh tiến đến con đường có thể bước đi dễ dàng. Nhưng nó không hướng về căn nhà, mà lại đi quanh, mất dần trong một cái vườn khác. Trông như con đường mòn của súc vật. Thế nhưng loài vật nào có thể sống ở đây? Anh có nhìn thấy con gì đâu. Bogadyr lại ra đường và xem xét các ngôi nhà khác. Trong lúc hoàng hôn bắt đầu xuống. Anh vội quay về để không bị muộn vì chiều mùa đông nhiệt đới tối rất nhanh. Anh quyết định sẽ xem xét từ nhà này đến nhà kia, còn có thể làm gì khác nữa? Mặc dù con đường anh đi còn dài, nhưng số phận John phải được giải mã, nhất là anh đã tìm thấy dấu vết về sự có mặt của nó. Anh bỗng sực nhớ ra một chi tiết quan trọng. Thì John cũng phải nhóm lửa. Có thể buổi tối anh sẽ thấy gì đó. Anh trèo lên mái nhà quan sát... Bầu trời tối dần. Bắt đầu thấy lành lạnh, nhưng cố chịu đến lúc tối hẳn, anh vẫn không thấy gì hết. Có thể tối nay John không nhóm lửa.


Anh ung dung nằm trong chiếc giường dễ chịu của mình, chìm vào giấc ngủ. Trong đêm, đầu anh lại xuất hiện một tình tiết khác. Đám cỏ cây trên con đường mòn mà lúc tối anh tìm thấy, cũng cao bằng đám bên hồ. Nó được cắt tỉa cùng một thời gian. Rằng con đường mòn không dẫn đến ngôi nhà mà đi quanh, không có ý nghĩa gì cả. John có thể đi tắt qua con đường mòn đến hồ nước hay khu rừng, không việc gì phải đi theo đường phố. Bogadyr không thể ngủ tiếp, anh phải ra đó theo con đường mòn.


 


Trời vừa rạng sáng, nuốt một miếng thịt và uống nước, đeo dây lưng, anh hối hả tìm lại nơi hôm qua vừa đến. Anh nhận biết dấu chân của mình trong đám cỏ và sớm có mặt tại địa điểm cũ. Đi quanh căn nhà có cửa sổ vỡ kính và cửa ra vào bị hỏng, anh bỏ qua, ở đây làm sao có người ở được! Dần dần anh đến bức tường trước đây ngăn cách các khu vườn. Con đường mòn dẫn đến nơi có lối đi xuyên qua bức tường. Bogadyr nhảy qua những mẩu tường thấp còn lại, bước vào khu vườn bên cạnh. Tại đây ngôi nhà nằm giữa các lùm cây, từ ngoài phố không nhìn thấy được, hình như nó có lối dẫn vào ở đâu khác. Khi đến gần, anh sững người, mình đã thấy nơi này ở đâu rồi! Có thể trên bức ảnh, như John lớn cho anh xem ngày nào đó. Có thể là bức ảnh mà con trai anh ấy cho xem. Hay thấy nó trong một phim hay trò chơi nào? Đúng, những cái cây cao nghiêng nghiêng trên ngôi nhà. Bây giờ vào buổi sáng, ngôi nhà nằm trong bóng mát. Sau nhà địa hình thấp dần, tạo tầm nhìn đẹp xuống cảnh quan. Lần đầu Bogadyr nhìn thấy toàn phong cảnh sau thành phố và núi cao ở chân trời. Đó là một địa điểm tuyệt đẹp. Anh hình dung ra cuộc sống tươi đẹp của gia đình. Bể bơi, nơi bọn trẻ con té nước nhau, bãi cỏ sưởi ấm dưới ánh nắng mặt trời, nơi làm lửa trại vào hội hè buổi tối với bạn bè. Và cái tầm nhìn mãi đẹp kia.


 


Đến gần hơn, phát hiện ngôi nhà có các cửa sổ được bít bằng những tấm gỗ, anh lạnh ớn người, mình đã đến đích! John tạo nơi ở trong ngôi nhà thân thương của gia đình nó. Nhưng nó đâu? Cửa đóng. John đi rồi sao…? Hay nó ở trong nhà?


Bogadyr đi quanh nhà và dừng lại trước lối vào. Phải làm gì đây? Anh hét to: ”John ơi, John ơi!” Tiếng vọng lại từ khu rừng phía sau. Thân cây to bự rợp bóng nửa ngôi nhà. Câu trả lời duy nhất là tiếng chim ríu rít trong vòm cây. Mặt trời chiếu sáng cảnh quan bên sườn núi và bóng râm dưới núi thu lại dần.


Bogadyr tiến về phía cửa ra vào. Anh rút cái rìu nhỏ từ thắt lưng, bắt đầu dùng nó đập vào cửa. “John ơi, John ơi!” Anh biết là vô ích. Tất cả cho thấy John không có đây. Nhưng anh không thể đi được, anh tìm nó bao nhiêu lâu rồi! Anh phải tìm cho ra số phận của nó. Anh đẩy cửa. Cánh cửa cọt kẹt mở ra. Bogadyr lạnh người. Đương nhiên anh thấy sợ, không biết điều gì chờ đợi anh sau cánh cửa. Anh cẩn trọng đẩy cho cửa mở hẳn, bước vào căn phòng giống như nơi anh đang trú ngụ. Nơi đó hơi tối, các ô cửa sổ bị chèn hết. Chỉ phía bên kia có ô cửa sổ nhỏ với ánh sáng rọi rõ căn phòng có thể nhìn thấy được. Bogadyr nhanh chóng khám phá các vật dụng trong phòng. Ở đây hai chiếc tủ và bên tường cái giường chưa xếp gọn. Trên sàn bên cạnh giường có cái gì đó. Bogadyr sợ hãi muốn lùi bước. Anh lo sợ nếu khám phá ra sự thật khủng khiếp. Anh cố gắng hết sức tiến đến đồ vật nằm trên sàn.


Ôi, rõ ràng rồi! Đó là những gì còn lại của một con người. Từ ống quần lộ ra xương chân và trên cái sọ còn lại một nhúm tóc. Quần áo là của John, cả màu tóc. Phải rồi, sự thật quá khủng khiếp. Tại đây, bên cạnh cái giường của mình, John đã chết. Hoặc là bị rơi xuống, hoặc là nó muốn bò lên giường, nhưng không kịp.


Không bao giờ Bogadyr biết được nguyên nhân cái chết ấy. Rất có thể John bị bệnh nào đó, con rắn cắn hay nó đã bị thương, không đi săn được và chết vì đói. Kể cả từ bộ xương mà anh chôn cất trước lối vào nhà cũng không thể phát hiện được gì. Bộ xương còn nguyên vẹn. Không thể nhận định đây là cái chết cưỡng bách.


 


Những đồng loại của nhân mạng cuối cùng


 


Bogadyr rời bỏ sự thoải mái nơi trú ngụ ở Newbourg nhanh nhất có thể. Anh không muốn ở lại đây lâu nữa, cái bóng chết chóc đang rình mò anh từ mọi góc. Ai biết được tại sao John chết? Có thể nó bị đầu độc bằng chất gì đó? Thực phẩm của Bogadyr đã cạn dần. Trên đường, anh dừng lại bên suối và lấy nước vào tất cả các dụng cụ, rồi đi xuống đồng bằng, nhưng theo hướng khác. Trên bản đồ có con đường được vẽ dẫn đến đích của mình, anh nhanh chóng đi qua những khúc khuỷu và vui đón khí hậu ấm áp vùng đồng bằng. Định hướng theo la bàn và ở ngã ba anh lại đi theo đường khác để duy trì chặng đường của mình dễ dàng hơn. Hướng: vùng dưới núi Himalaja.


 


Mana cũng đã hết, anh lại phải đi săn. Trong một địa hình không quen biết đó là việc khó khăn. Khi đến bờ con suối, anh ra khỏi đường và đi dọc theo dòng nước. Anh muốn tìm một địa điểm có thể thấy dấu vết thú lông đen. Sau khoảng nửa ngày lang thang trong địa hình lộn xộn anh đã thành công, ở đây đất mềm và bắt đầu có bùn lầy. Anh tìm thân cây vừa ý, trèo lên, ngồi không thoải mái lắm trên vòm cây. Đợi hoàng hôn xuống, anh phát hiện ra rằng mình không thể sống sót trong hoang dã. Không thể tiếp tục thế này được! Anh không có nơi nào an toàn. Trên cây thì không thoải mái mà thực ra không thể ngủ được vì lo lắng sợ bị rơi xuống, dưới đất lại nguy hiểm. Phải làm thế nào đây? Đôi mắt khép dần, nhưng anh sợ rơi xuống nếu thiếp đi. Tiếng ủn ỉn đánh thức anh tỉnh dậy. Khoảng năm con lợn đang bì bõm trong bùn lầy. Anh chọn con ngon lành, ngắm bắn. Con lợn sững lại.


Anh đợi cho những con khác đi khỏi để xuống nhặt con bị bắn. Chưa kịp xuống khỏi cây, anh lại nhìn thấy mấy con chó rừng hoang* đang vô tư tiến đến con lợn, đếm được tám chú. Anh khựng lại và quan sát chúng. Đương nhiên anh không muốn bắn vì trông chúng như những con chó anh thường thấy trên các chương trình trong các khu nhà ở hoặc như những con kéo xe. Đó là những con vật có ích cho con người. Ngày nào đó anh cũng muốn có một con chó, nhưng luật Korpus không cho phép nuôi súc vật, vì nghe nói đấy là hành vi hành hạ. Bây giờ những con vật này bị buộc phải lang thang trong rừng và đi săn. Có thể nhìn thấy những khác biệt nhất định về diện mạo và kích thước giữa chúng, chắc là con lai của các chủng loại chó. Một số con có lông màu nâu sẫm, một số lông gần như trắng. Trông chúng không được khỏe lắm, gầy gò. Bogadyr quyết định sẽ để lại cho chúng con vật săn được. Anh ở lại trên cây quan sát.


Con to lớn với bộ lông màu nâu bóng ngả bạc tiến gần đến con lợn và hít ngửi nó. Có lẽ nó nhận ra con này đã chết. Nó túm lấy lông con lợn và kéo ra khỏi bùn lầy đến cái cây mà Bogadyr ngồi ở trên. Chắc hẳn đây là con đầu đàn. Bogadyr nhớ lại quyển Miền hoang dã và đặt cho nó cái tên Akéla. Sau đó những con khác chạy đến. Chúng cứ đánh hơi mãi và không muốn nhào vào ăn, chúng chạy quanh, cái mũi hếch lên. Ngay sau đó đã rõ tại sao. Dưới ánh trăng xuất hiện đàn chó sói. Akéla gầm gừ, hẳn là nó muốn tăng thêm dũng cảm cho đồng bọn. Lũ sói đến gần. Bắt được con lợn đối với chúng hẳn là khó, những con vật khác cũng khó bắt được. Sắp đến cuộc chiến giành con mồi. Bầy chó không sẵn sàng bỏ qua. Chắc hẳn đã lâu chúng chưa có gì ăn và quyết tâm vào cuộc chiến sống còn cuối cùng. Nhưng cơ hội của chúng lại quá tồi. Bầy sói đông hơn nhiều, ít ra là mười hai con, trông chúng rõ ràng khỏe hơn, tiến lên trong đội hình chặt chẽ. Đi đầu là con đực to lớn và hai bên nó hai con khác, chỉ đi sau con đầu đàn một chút. Bogadyr vui vì ở Newbourg anh đã nạp đủ pin cho hai khẩu súng (một khẩu của John), đủ để bắn bầy sói. Akela bắt đầu sủa. Trông nó đang lùi bước. Bogadyr không muốn điều này. Trước tiên anh phát một liều vào con sói đầu đàn, nó từ từ đổ xuống. Hai con tiếp theo không để ý điều đó và các con khác đi quanh cũng vậy. Anh phát liều tiếp theo vào con khác. Con này chưa chết ngay, nhưng bắt đầu quằn quại. Những con khác lại vẫn không để ý. Bogadyr thấy không thể nào khác được. Anh nhảy từ cây xuống, ngay trước mặt đàn chó. Lũ này, thật đáng ngạc nhiên, trông như không để ý đến điều đó. Anh tiến đến gần bầy sói và bắn chết con nữa. Đến lúc này chúng mới đứng sững lại trừng trừng nhìn anh. Chúng sẽ làm gì? Chúng sẽ chạy bổ đến chỗ anh? Chỉ cần con to nhất nhảy vào, vật anh ra và những con khác bắt đầu cắn xé. Nhưng rồi chợt nhận ra chó sói là loài nhút nhát. Anh nhớ lại hình ảnh trong một chương trình có lần đã xem. Anh bốc lấy ít đất, ném vào bầy sói, quát lên: ”Xéo đi, xéo xéo...,” dậm dậm mạnh chân. Bầy sói chạy tán loạn.


Chưa kịp trấn tĩnh, Bogadyr đã cảm giác có cái mõm chạm vào chân. Nhìn thấy Akéla, nâng chân lên và dụi vào đấy, anh vuốt ve lông nó. Akéla nằm ngửa ra. Đó là tín hiệu quy hàng. Bogadyr xoa xoa vào bụng. Anh đã quen nựng như thế con Lump mà người bố dượng khi anh còn trẻ đã nuôi. Các con khác cũng chạy đến. Chúng nó đều muốn được Bogadyr cưng nựng.


 


 


Chiếc cầu qua Brahmapútra


 


Con đường mà Bogadyr lựa chọn bắt buộc phải đi qua các dòng nước lớn – sông Hằng hoặc Brahmapútra. Anh chọn Brahmapútra, vì trên bản đồ trông nó hẹp và ít nước hơn.


Chắc sẽ có cái cầu nào đó bắc qua con sông này. Sau khoảng hai tuần lang thang trong rừng và liên tục săn bắn cho bầy chó mà anh làm quen, lang thang cùng chúng, anh đến dòng sông rộng chắc là  Brahmapútra. Anh nhìn con nước chảy, cân nhắc liệu trong vùng núi Tibet có còn tuyết không và khoảng khi nào tuyết tan. Những thông tin mà anh có đều đã cũ. Lạnh đi toàn cầu có nghĩa là tuyết sẽ tan chậm hơn. Chắc phải sau khoảng một tháng nữa. Anh nghĩ cùng lắm sẽ bơi qua con sông. Hy vọng Akéla và bầy đàn của nó biết bơi và sẽ bơi qua cùng. Anh khởi hành theo con đường ngược dòng sông.


 


Ở đây bên dòng sông là khu rừng già rất rậm rạp. Những tán cây cọ ngả nghiêng bên dòng nước, cây cối um tùm không thể lọt qua. Bogadyr thấy tiếc vì không có bản đồ các con đường. Có nó anh sẽ đi lại thuận tiện hơn, cũng giống như trước đó. Các con đường tại nhiều nơi còn khá nguyên vẹn và hơn nữa có thể dự đoán được những con đường nào sẽ đưa anh đến cái cầu. Sau ngày hôm đó, anh quyết định ngủ lại. Nhưng trước hết phải cho lũ bạn bốn chân ăn. Trước tối, anh đánh dấu ở nơi có mặt nước, để sáng hôm sau xem nước có lên không. Ngồi bên bờ, lũ bạn tập trung xung quanh. Anh cưng nựng Akela một lúc, nhưng những con còn lại cũng muốn thế. Anh phải dần dần thay phiên nựng chúng. Như thế, anh duy trì được quan hệ bạn bè với tất cả. Rồi con Novar bắt đầu dụi vào chân, có nghĩa là lệnh đi săn. Anh đứng dậy, Novar cùng Dakar chạy về phía bụi rậm, hẳn là chúng đánh hơi thấy dấu vết. Các con khác và Bogadyr chạy theo. Vẫn như mọi khi, không theo kịp chúng được, anh không dẻo dai như chúng. Nhưng chúng lại biết anh có những ưu điểm khác. Rồi con Novar vùng chạy hết sức. Bogadyr không theo kịp nữa. Không bao lâu, anh tụt lại sau cùng. Tuy thế quy luật đi săn đã rõ ràng và tất cả ai tham gia đều biết phải cư xử ra sao trong tập thể. Sau đó ba con chủ yếu – Novar, Dakar và Akéla vùng chạy. Các con khác theo chúng. Lần này cuộc săn không lâu. Novar vật được con lợn đực to béo, nhưng con này không chịu thua dù đã bị thương, nó vùng dậy chống lại bầy chó. Novar biết, nó có thể dám tấn công cả con to lớn. Bình thường không dám thế, nhưng có Bogadyr nên nó biết rằng nó có thể làm được. Vừa nhìn thấy con lợn, Bogadyr rút ngay khẩu súng ra, nhằm chùm tia lazer vào tim con vật. Nó dừng lại ở tư thế chiến đấu, tuy nhiên bầy chó nhận ra nó không còn sống nữa. Con Novar thúc mũi vào con vật làm nó ngã xuống. Bogadyr tiến đến, cả bầy chó kính cẩn lùi bước. Anh vác con lợn lên vai, quay đầu đi về. Akéla chạy trước anh, như con đầu đàn với cái mũi sát đất nó chạy theo dấu vết của mình trở lại bờ sông. Các con khác theo sau. Bogadyr quẳng con lợn bên bờ và bắt đầu pha thịt. Anh lột da, cho các bạn mình những miếng thịt. Miếng đầu tiên phải cho Novar, miếng tiếp theo cho Dakar rồi Akéla. Cuối cùng anh cắt một miếng cho mình, phần còn lại cho những con khác cùng ăn. Bụi cây ướt, khó nhóm lửa nên anh lôi cái bếp ra và đốt cồn khô lên. Anh nướng trên đó miếng thịt dành cho mình, ngồi trên bờ và suy nghĩ về số phận. Lang thang trong rừng như thế này có phải là số phận của anh không? Anh đâu muốn thế. Anh có tìm thấy người không? Anh luôn tin vào điều đó. Điều gì sẽ xảy ra sau Brahmapútra. Chắc vẫn thế, cũng như ở đây, trước khi anh đến vùng dưới núi. Sẽ làm gì với bầy chó khi anh đến chỗ có người? Trời tối dần, mặt sông che phủ lớp sương mỏng. Bogadyr mở màn ra, nằm lên cái võng. Anh ngủ thiếp đi hoàn toàn mãn nguyện, an toàn với bầy chó.


 


Đang đêm anh thức dậy vì bị thúc vào lưng. Có con chó nào đó va vào phía dưới cái võng. Bogadyr ngồi dậy. Bầy chó đứng tụ lại, lông dựng đứng lên, răng nhe ra. Có gì đó xảy ra phía sông, vì chúng đều hướng ra đó. Bogadyr tiến ra. Thoạt đầu không nhìn thấy gì. Nhưng bỗng nhiên dưới ánh trăng anh để ý thấy bên bờ sông hiện ra khúc gỗ mà lúc tối không có đó. Quan sát kỹ hơn, anh phát hiện hình dáng con cá sấu. Chắc điều đó đã kích động bầy chó. Anh hiểu ra chó không bao giờ chọn nơi qua đêm ở bờ sông, nơi hay xuất hiện cá sấu và hà mã. Giờ đây chúng nghe lời anh trong mọi chuyện. Chúng cũng tin vào sự bảo vệ của anh. Ngay cả lúc này anh cũng phải bảo vệ chúng. Tốt nhất anh nên chuyển sâu hơn vào trong đất liền, song bây giờ đang đêm nên không thể và con cá sấu hẳn đang đợi con mồi. Có thể đây là nơi nó nghỉ qua đêm và không có hứng đi săn. Nhưng làm sao xác định được? Ở con vật, con người khó mà biết. Tốt hơn là loại bỏ con cá sấu. Anh rút khẩu súng lazer ra, tiến đến gần sông ngắm cho chính xác hơn. Con cá sấu đã phản ứng, nó vụt quay lại, há rộng cái mõm. Chắc không muốn tấn công mà chỉ doạ nạt. Có thể muốn đuổi bầy chó đi, nó không thích sự có mặt của chúng. Cái mõm há to của con cá sấu càng dễ cho Bogadyr hạ thủ. Anh ngắm trúng vào mõm bấm cò. Tiếng xèo xèo của thịt bị cháy sôi lên. Con cá sấu lảo đảo. Dòng nước sông từ từ quét đuôi, kéo nó xuống. Ở đó nó bắt đầu quay quay rồi biến mất. Khi Bogadyr trở về võng, bầy chó đã ngủ yên. Biết rằng anh sẽ thay chúng giải quyết hết mọi tình thế nguy hiểm. Chúng chỉ có bổn phận canh gác và ra hiệu.


Bogadyr nhận ra không thể bơi qua sông. Ở đó đầy cá sấu và hà mã. Anh phải tìm khúc sông cạn an toàn hay cái cầu, hơn nữa môi trường bên cạnh sông nguy hiểm. Kiểm tra cái cọc xem mực nước sông ra sao, anh xác định nó vẫn như thế.


 


 


Họ lên đường đi sâu vào nội địa đối ngược với dòng nước. Anh cần tìm địa hình và tìm đường dễ đi hơn. Về đêm họ nằm nghỉ trong khu ít cây cối. Bogadyr chia cho bầy chó phần thịt của ngày hôm qua. Chúng sẵn sàng gặm cả thịt để đã rất lâu có mùi mà anh không thể ăn. Bogadyr tự lấy một miếng phía trong đùi cho mình, nướng trên lửa.


Hôm sau là một ngày đói. Mấy ngày tiếp theo bầy chó không được ăn, Bogadyr cũng cố cầm cự tối thiểu hai ngày. Anh hy vọng họ sẽ lại đến gần con sông, nơi có thể bắt được con gì đó dễ dàng hơn. Tất cả đi hết khả năng. Nơi nào cây cối rậm rạp hơn, anh chặt dọn đường và bầy chó theo sau. Nơi nào cây cối thưa hơn, bầy chó chạy phía trước và luôn ngoái lại xem Bogadyr đi thế nào. Rồi chúng điều chỉnh việc đi lại theo anh. Cuối cùng gần tối họ đã đến con đường. Như thường lệ, các cây cọ mọc lên từ nhựa lát đường, nhưng phần còn lại của đường đủ lớn để có thể đi nhanh. Tốc độ bây giờ tăng lên ba lần. Con đường bắt đầu thấp dần, Bogadyr hình dung họ sẽ đến con sông. Điều đó không xảy ra, họ chỉ đến được con suối. Bầy chó uống nước ừng ực. Bogadyr đổ đầy nước vào các thứ đựng và uống cho đã. Anh quyết định ngủ lại, đó là nơi thuận lợi. Lần này không có gì để nướng nên họ đi nằm sớm. Không lâu sau tiếng chó sủa làm anh thức dậy. Cả bầy chó lao vào bụi cây. Chúng đang theo đuổi con mồi nào đấy. Bogadyr ngồi trên võng, nghe xem xảy ra chuyện gì. Sau khoảng nửa tiếng anh nghe thấy tiếng tru. Rõ rồi, anh phải ra theo chúng. Anh đi theo tiếng động và cũng khá khó khăn định hướng để đến với chúng. Anh phải dùng đèn pin. Rồi Akéla xuất hiện. Nó hít hít anh, chạy vào bụi cây chỉ đường. Bogadyr không theo kịp nên Akéla phải dừng lại vài lần chờ chủ. Cuối cùng nó cũng dẫn anh đến đích. Ở đó có con hươu nhỏ bị quật ngã, bị cắn vào cổ rất chuyên nghiệp. Bogadyr rút dao ra và bắt đầu pha thịt con mồi. Bởi không biết công trạng của việc săn, anh ném các mẩu thịt ra đất và bầy chó nhặt theo thứ tự nhờ công lao. Akéla trông nom thứ tự và luôn đuổi con nào muốn chạy ngang. Phần thịt còn lại Bogadyr bọc vào mikroten và cầm nó trở lại võng. Akela lại dẫn đầu. Bogadyr treo thịt lên cây cao, cuối cùng nằm xuống ngủ.


 


Buổi sáng tất cả lại uống no nước suối, Bogadyr thay nước mới vào các bình đựng. Rồi anh nhóm lửa, nướng thịt, cho chó ăn, vì thịt nướng bổ dưỡng hơn kể cả đối với chó. Sau bữa sáng họ lên đường đi tiếp. Bogadyr lo rằng họ đang xa dần con sông, nhưng anh phải làm gì? Trước hay sau thì con đường cũng phải trở về dòng sông, hoặc gặp con đường khác và con đường khác đó sẽ đến dòng sông. Điều đó đã xảy ra, đến tối họ đến ngã ba đường. Con đường cắt ngang rộng hơn, nó có hai sọc. Điều này thuận tiện hơn cho việc đi tiếp, vì lúc nào cũng có thể chọn sọc nào dễ đi hơn. Bogadyr định hướng và đi theo hướng dẫn đến con sông. Khi gần tối, trên cả hai phía đường lại xuất hiện những ổ mấp mô cây mọc lên, các phần còn lại của bê tông và gạch. Lại là thành phố. Quyết định ngủ lại, anh không muốn đi giữa các đống đổ nát, nơi có rắn và khỉ. Anh cùng với bầy chó ưu tiên hơn một địa điểm trước đây từng là khu vườn có biệt thự ngoại ô. Anh chia phần thịt còn lại cho chó và mình cũng ăn một miếng. Thịt không thơm ngon, nhưng sau một ngày nằm trong túi kín vẫn còn dùng được. Anh treo võng lên một cây sung bề thế khi xưa là thứ tô điểm cho khu vườn này. Bầy chó giãn ra, nằm xung quanh. Lần này trăng sáng vằng vặc. Bogadyr không thích những chỗ như vậy, cứ như các thần linh của những thành phố này theo dõi mình. Người ta không chết bởi cái chết cưỡng bức, đó không phải là tâm hồn của những nạn nhân vô tội. Phần lớn chết bình thản trên giường. Mặc dù thế nó vẫn gợi đến bạo lực. Đó quả là bạo lực! Con người đã định hình trong trí nhớ rằng ở đâu không xảy ra bạo lực, ở đó cuộc sống tiếp diễn. Ở đâu có bạo lực, ở đó có cái chết. Nhưng ngược lại với hình dung này, trong trường hợp này thì cuộc sống không tiếp diễn cả ở nơi không có bạo lực. Đơn giản bản thân người ta đã quyết định để nòi giống của họ không tiếp tục.


 


Buổi sáng Bogadyr có tâm trạng tốt hơn buổi tối mặc dù không còn gì để ăn và phải uống nước cũ. Họ tiếp tục tiến vào thành phố. Cuối con đường dẫn từ đồi và giữa cây cối đã lấp lánh mặt nước của dòng sông. Bầy chó vùng chạy vì đã khát. Anh đến nơi sau khi chúng đã uống đủ và lội tắm xong. Chúng lắc mình, nước bắn xung quanh. Bogadyr nhìn quanh trên bờ.


Ở đây con sông tạo ra cái vịnh nhỏ nên anh không nhìn thấy phần lớn bờ sông. Ở khúc đến con đường bên cạnh còn lại một phần của cây cầu, từ phía này chỉ còn một nhịp. Thế thì không hay rồi! Dù sao anh cũng đi đến phần còn lại của cây cầu, ra đến chỗ cuối có thể ra được để nhìn bao quanh bờ sông. Trước mắt anh mở ra một khúc khác. Bỗng nhiên anh nhìn thấy một cái gì đó lạ lùng. Anh đi trong thiên nhiên hoang dã, nhìn thấy đủ thứ, nhưng cái này anh chưa nhìn thấy bao giờ. Đối diện với ánh nắng xuống thấp, anh nhìn thấy con voi bên trên sông. Lấy tay che nắng, anh bình tâm. Đó là cây cầu, hẳn là cầu cho tàu hoả, giữa cầu con voi đang hiên ngang bước qua phía bên kia. Điều đó cho thấy cây cầu vững chắc. Anh quyết định sẽ qua cầu luôn hôm nay.


Nhưng quyết định không thể thực hiện được, vì bầy chó chạy tán loạn. Chúng bắt đầu đi săn giữa đám đổ nát. Ở đây nhiều chuột và bầy chó đuổi theo khỉ. Bogadyr đi lại phía cây cầu. Nhưng cũng không dễ dàng gì. Một đàn lợn lòi đang đi qua cầu. Phía trước mấy con lợn đực với những cái răng nanh chìa ra khỏi mõm. Đối diện với chúng là con sơn dương to lớn đang muốn đi qua. Chúng gặp nhau ở giữa cầu. Lợn đực nhe răng ra doạ, sơn dương giương cao sừng đáp lại, không ai muốn lùi bước. Trong cuộc chiến cân não, đám lợn lòi đã chiến thắng, sơn dương quay đầu chạy trốn những bước dài. Bogadyr dễ dàng hạ gục một con lợn và bắt đầu huýt sáo. Anh nghĩ gọi được cả bầy, nhưng không con nào xuất hiện. Thỉnh thoảng anh thoáng thấy Akéla luồn lách trong đám đổ nát, ngay cả nó cũng không nghe lời. Anh tự nhủ sẽ làm theo cách của mình, dùng mã tấu chặt cành cây, nhóm lửa và bắt đầu nướng con lợn. Anh chầm chậm cắt từng miếng ăn, còn lại gói vào mikroten, ngồi hưởng thụ nửa ngày như vậy, ngọn lửa đang lụi dần mà bầy chó không thấy đâu. Đêm dần buông thì con Akéla xuất hiện. Bogadyr cho nó miếng thịt, Akéla như để phải phép gặm thịt và thỏa mãn nằm xuống. Những con khác vẫn không thấy đâu, trong khi con Akéla cũng không có vẻ gì xúc động. Nó nằm, mõm ghếch lên chân, ngó nhìn Bogadyr.


“Được, kệ chúng mày!” Bogadyr tự nhủ, mở màn ra, nằm xuống, hơi lo lắng. Bầy chó từng bảo vệ anh. Ở đây có thể xảy ra bất cứ chuyện gì. Nhưng rồi bình tâm rằng có Akéla đang canh cho mình.


 


Nắng sáng đánh thức anh dậy. Akéla nằm cạnh. Bogadyr gói ghém đồ đạc, cho Akéla một miếng và cũng ăn rồi lên đường đến cái cầu, sẵn sàng đi sang phía bên kia. Nhưng con Akéla đứng ở đầu cầu, lúc đầu nó quay về phía anh, rồi nó quay mình. Khi thấy Bogadyr không phản ứng gì, nó chạy đến chỗ anh, dùng mõm nhẹ nâng ống quần và quay trở lại. Tóm lại là nó không muốn qua cầu. Tất nhiên rồi, Bogadyr nghĩ, đối với mấy con chó thì đây là nơi săn tuyệt vời, hơn nữa không bị bất cứ đàn nào chiếm giữ. Hẳn là nó không muốn rời bỏ khi chưa săn hết. Cuối cùng anh đầu hàng. Anh quay trở lại để đi tìm nơi trú ngụ nào đó. Anh quyết định sẽ nghỉ ngơi vài ngày, xem xét cây cầu, thấy nó còn vững chắc và sẽ chịu được trận lụt nữa. Cây cầu không còn lan can nếu như trước đây từng có, ở giữa đường ray chắc hẳn giữ vững được cả cây cầu. Đường ray còn khá mới. Bogadyr nhận ra thành phố chắc đã lâu không có người ở, nhưng giao thông đường sắt còn hoạt động thêm một thời gian. Trong khi các thành phố khác vẫn còn người ở và tàu hỏa đi về.


Akéla lại bỏ rơi Bogadyr ngay sau khi đạt được điều buộc anh từ bỏ việc qua cầu. Anh bắt đầu dựng nơi ở, chặt củi để có lửa, cả một ngày trải qua với công việc. Tối đến nhóm lửa và bắt đầu hun thịt, anh còn săn được hai con lợn nữa, điều đó không khó khăn gì, chỉ cần đến cây cầu và đợi vài tiếng đồng hồ. Anh hun thịt trọn hai ngày. Tối đến con Akéla bao giờ cũng xuất hiện, như một sĩ quan  liên lạc, nó nằm cạnh anh và gặm phần thịt được chia. Hôm sau Bogadyr chỉ cho nó phần xương. Nhưng Akéla vẫn bình thản, nó vùi xương vào đống đổ nát.


Ngày thứ tư Bogadyr không còn gì để làm. Anh quyết định sẽ bỏ lại đàn chó đi một mình. Thịt có đầy đủ. Anh đóng gói đồ đạc và đi đến cây cầu. Khi đang ở giữa cầu, con Akéla xuất hiện. Nó chạy đến chỗ anh, lại huých vào anh và quay trở lại. Nó dụ anh đừng đi. Bogadyr lúc nào cũng chỉ vuốt ve nó, nhưng vẫn cương quyết đi tiếp trên cầu. Khi anh sang bờ bên kia, Akéla quyết định theo anh. Khi họ đi trên con đường đổ nát, nó chạy bên cạnh anh có vẻ hài lòng. Cuối cùng Bogadyr cũng vui rằng mọi việc kết thúc như vậy, một con chó với anh là đủ. Việc gì anh phải cần tới tám con? Tất nhiên anh cần có chó, vì anh đã có kinh nghiệm việc một mình trong thiên nhiên hoang dã rất nguy hiểm. Thật ra đây là một tình cờ may mắn mà anh lại gặp bầy chó này. Anh đi trên đường, Akéla theo sau, nó không cảm thấy bất cứ thiệt hại nào vì không có bạn ở đây. Họ đi đường rừng cả ngày và lại nghỉ ở một nơi thích hợp đâu đó. Akéla cho thấy rằng đi săn không cần thiết. Nó nằm xuống và ghếch mõm lên hai chân trước. Bogadyr ngồi cạnh.


Sáng, Bogadyr nghiên cứu bản đồ và phát hiện ra con đường đang đưa họ xa dần con đường đến vùng chân núi Himalaja. Anh cần con đường nào đó hướng về phía Tây nhưng không muốn theo các con đường nhỏ có thể chỉ sẽ kết thúc ở ngôi làng nào đó, vì vậy anh đi tiếp trên xa lộ. Chắc chắn con đường đó sẽ dẫn anh đến thành phố lớn. Thành phố không xuất hiện, nhưng mấy con chó xuất hiện. Chúng dần dần sát nhập với họ. Chúng gặp lại Akéla và hân hoan nhảy lên người Bogadyr. Anh phải nựng chúng. Một ngày trôi qua với những chào đón như thế và không đi được nhiều. Đến tối thì đã có đông đủ. Họ nghỉ lại trong hoang dã, Bogadyr không cho chó ăn thịt và một mình anh thưởng thức món thịt hun. Đàn chó trông không có vẻ là cần ăn, chúng không xin xỏ. Buổi sáng, sau những kilomet đầu tiên, Bogadyr nhìn thấy cây cầu bị gẫy dẫn qua xa lộ. Điều này cho thấy có triển vọng. Anh nhanh chóng tiến theo hướng này. Quả thực ở đây có hai xa lộ chéo nhau. Sau một lát nghỉ ngơi, họ lên đường cùng bản đồ theo con đường mới về phía Tây. Gần tối Bogadyr vui mừng vì đã đi được một đoạn đường khá xa. Anh quan sát bầu trời, xem mùa mưa sắp đến chưa. Mặc dù trên bầu trời mây kéo nhiều hơn, nhưng như thế lại dễ chịu. Trước khi mặt trời lặn, từ một cái gò nhỏ, Bogadyr nhìn thấy một khu vực không bị cây cối mọc chèn ở phía trên xa lộ, trong khoảng cách mờ mờ, một thành lũy màu xám của cái gì đó mà anh có thể coi đó là trận mưa. Điều này không làm anh vui nên anh đi nằm với cảm giác không hay rằng sứ mệnh đi đến nhóm người dưới chân núi Himalaja không thể thực hiện trước mùa mưa. Anh không thể hình dung mùa mưa trong rừng. Ẩn nấp vào đâu? Phải đi săn suốt! Chả lẽ anh trở về thành phố bên cây cầu?


Họ ngủ lại gần xa lộ, buổi sáng Bogadyr lại ngắm nghía đám mây đen trên bầu trời. Thay vào đó, một hình ảnh tuyệt vời hiện ra trước mắt. Dãy núi cao, một khối thành lũy khổng lồ và các đỉnh màu trắng của chúng long lanh như bọt trên các lớp sóng đại dương.


 


Cuộc gặp gỡ của những đồng loại cuối cùng


 


Cuối cùng thì Bogadyr với bầy chó của mình đã đến thành phố chưa bị hoang tàn hẳn và có lẽ những người cuối cùng rời bỏ nó trước đây chừng sáu mươi năm gì đấy. Đó là thành phố mà khi xưa máy bay trinh sát đã quay hình, với cái tên là Vazapir. Anh có thể chọn bất cứ nhà nào để ở. Những kinh nghiệm trước đây nhắc anh nên tránh các thành phố, bởi vì các thành phố là ổ của rắn rết, bọ cạp và khỉ. Lũ khỉ tỏ ra đặc biệt nguy hiểm, vì chúng có thể chui vào bất cứ đâu và lấy cắp đồ đạc. Chó bất lực trước chúng. Điều thuận lợi là cây ăn quả trong vườn. Trái cây là sự thay đổi được chào đón trong thực đơn. Thế nhưng ở đây ít trái cây. Bầy khỉ chắc chắn đã không chịu ngơi tay và ăn hết trái cây khi còn chưa kịp chín. Bogadyr chỉ tìm thấy vài quả. Nếu muốn có trái cây, anh phải bảo vệ chúng trước bầy khỉ, trước hết là với chuối.


 


Tại đây, Bogadyr quyết định trú ngụ trước khi chuẩn bị cho chặng đường cuối cùng và trước khi anh ăn hết phần thịt hun của những cuộc đi săn trước. Bầy chó tự săn được chuột. Bogadyr lần nữa hái ít trái cây trong vườn, thưởng thức ngon lành. Mặc dù cây ăn quả bị đủ các loại cây mọc chèn nên quả nhỏ, vỏ dày nhưng so với rừng già thì đây là sự thay đổi đáng mừng. Anh đi thăm một ngôi chùa phật giáo với bức tượng Phật bằng vàng. Ngôi chùa trông giống như những ngôi chùa khác, trông còn rất nguyên vẹn. Tại đây anh còn tìm được các văn bản bằng ngôn ngữ thế giới, những tờ báo và sách vở nào đó. Anh quyết định sau đó sẽ nghiên cứu những thứ này.


Sứ mệnh của mình đối với những con người mà anh đang hướng đến, cần phải định nghĩa thế nào đó, cần giúp đỡ họ. Nhưng bằng cách nào? Có ý tưởng nào không để mang đến cho họ, để cứu rỗi họ? Chỉ cần những thông tin về Korpus và cuộc sống ở đó là đủ chăng? Càng xích gần đến nhóm người, anh càng lo sợ. Càng ngày anh càng thấy sứ mệnh của mình đáng ngờ.


 


Bogadyr tìm thấy tủ sách, đuổi hết lũ khỉ ra khỏi đó, bắn chết vài con và vứt qua cửa sổ cho chó. Anh dọn vào trong cùng với đồ đạc của mình, bảo vệ căn phòng trước lũ khỉ bằng cách kéo tủ chắn những ô cửa sổ bị vỡ kính và đóng chặt cửa ra vào. Từ tầng trên, nơi trước đây có người ở, anh mang xuống chăn và đệm, để có thể ngủ lại. sau đó mới cho mình được ăn lót dạ. Anh có mang theo thịt hun, cắt ra chén và uống với nước đun sôi trữ trong bình. Để hài lòng chỉ còn thiếu bánh mì ngon, anh hãy còn mấy quả quýt và táo.


Các kệ chứa đầy sách. Anh có thể ở đây cả năm và chỉ nghiên cứu. Nhưng mong muốn tìm thấy tin tức nào đó từ thời kỳ trước khi thành phố bị bỏ trống, anh lật qua các tờ báo. Một số tờ viết bằng chữ Phạn*, một số bằng tiếng Anh, nhưng thông tin của thế kỷ cuối cùng phần lớn bằng ngôn ngữ thế giới. Thật là tốt, vì nếu không, anh sẽ chẳng biết được gì. Ngày đầu anh tập trung vào báo chí và sắp xếp chúng theo ngày tháng. Anh mừng rằng ít ra những tờ báo và tạp chí nào đó đã được phát hành, phương tiện thông tin này không bị vứt bỏ, khi đã có các phương tiện điện tử để sử dụng, từ những phương tiện đó lúc này anh không thể đọc được gì. Ngày cuối cùng anh tìm thấy là năm 3042, tức là trước đây một trăm linh năm năm. Sau đó không còn gì. Khi anh xem lướt qua những số cuối cùng này, anh không tìm thấy điều gì cơ bản. Đó là những tin tức thông thường về các sự kiện trong thành phố. Có bài nói về giá dầu tăng, mọi người kêu ca rằng mức sống của họ không bền vững do việc tăng giá và thiếu nguyên liệu. Thậm chí ở đó còn có bài của một nhà tư tưởng lỗi thời với tuyên bố rằng hành tinh quá đông người, rằng mức sống cao là chịu đựng được nếu dân số giảm đi. Trẻ con làm giảm mức sống và đem lại khó khăn. Cũng cần phải giải thích thế nào đó sự không quan tâm đến việc sinh con. Lập luận là trái đất quá đông người, mà từ lâu từng không quá đông như vậy.


 


Những tài liệu tìm thấy trước đó trong chùa cũng không đem lại điều gì cơ bản. Chỉ có một số người đến đó, các tài liệu liên quan đến các văn bản tín ngưỡng. Không nói gì về cuộc sống. Tại sao những người suy nghĩ theo tín ngưỡng lại có ít con? Chắc họ cũng giải thích thế nào đó, như những người vô thần. Sẽ là điều lý thú việc họ nhìn nhận vấn đề đó như thế nào. Nhưng điều như vậy anh sẽ biết được từ nhóm người cuối cùng mà anh đang tiến đến. Nhóm này chắc chắn mộ đạo, nếu không thì khó duy trì.


Khi giở từng trang tạp chí tín ngưỡng Sứ mệnh của Đức Phật, anh để ý một đoạn rất ngắn. Ở đó phân tích rằng niết bàn có thể đạt tới bởi những hình dung được kukla trên đầu thức tỉnh thì kém giá trị hơn là niết bàn đạt bằng sự hy sinh, ăn chay và cầu kinh. Nhưng lại có một thày tu phản đối, ông này quả quyết rằng chính những phương pháp mới để đạt được hạnh phúc tuyệt vời bằng các phương tiện kỹ thuật là rất lợi ích, bởi vì bằng cách này thì gần như ai cũng có thể đạt được, trong khi niết bàn cổ điển bị từ chối đối với hầu hết các tinh thần. Từ đây thấy rằng cuộc sống ảo ngay từ khi đó đã tác động đến cả các thầy tu. Bogadyr có thể hình dung để đạt những cảm giác tuyệt vời của niết bàn bằng chương trình thích hợp mới dễ dàng làm sao. Nhưng không liên quan đến các thầy tu. Đằng nào thì họ cũng không sống cuộc sống bình thường và họ đạt được niết bàn bằng cách nào về phương diện đảm bảo tương lai thì cũng không phải là điều cơ bản. Ngoài các thầy tu, ở đây còn phải có các tín đồ nữa chứ! Những người này có lẽ đã có thể sống trong hy sinh và né tránh những điều cám dỗ của các Korpus.


 


Cuối cùng, anh tìm thấy bài nói chuyện với các nhà biên tập khi kết thúc công việc của mình và đóng cửa tạp chí. Nguyên nhân là sự thờ ở của độc giả. Chắc độc giả không còn nhiều. Cũng như vậy, trong một số nào đó trước đấy có nói về việc huỷ giao thông thành phố vì sự thờ ơ của hành khách và việc đóng cửa siêu thị cũng vì lý do này. Tóm lại là không có người. Nhưng đáng chú ý nhất là cuộc nói chuyện với nữ biên tập viên trẻ tuổi đã từ chức. Người lãnh đạo hỏi cô sẽ làm việc gì tiếp theo. Cô trả lời:


“Tại Vazapir thật kinh khủng, không thể đi lại trên những con đường này được, toàn ổ gà. Có lẽ đến hai mươi năm nay không có ai sửa cả. Giao thông thành phố không hoạt động và gần như không có gì để mua sắm. Nếu tôi muốn đặt mua một món hàng nào đó, họ phải mang đến cho tôi bằng đường hàng không. Đắt khủng khiếp. Bạn bè thân thiết của tôi đã bỏ đi...”


“Cô sẽ làm gì, đi về đâu?”, người phụ trách hỏi.


“Tôi sẽ đi Goa, ở đó mọi thứ đều hoạt động. Ở đó họ có đủ thứ làm ra các nguyên liệu tái sinh. Ở vùng lân cận họ trồng các cây năng lượng và chế biến chúng. Họ không phụ thuộc vào dầu hỏa, đơn giản họ sản xuất nó ra từ thực vật.”


“Cha mẹ cô đang ở đâu?”


“Họ đang ở Goa rồi. Ở đó có cả Korpus. Họ được chăm sóc tuyệt vời...”


“Chà!”, Bogadyr nghĩ. “Thành phố và cạnh đó là Korpus. Hay đấy!”


Cuối cùng trong cuộc nói chuyện, người phụ trách lại hỏi: ”Cô không thấy phiền là đi khỏi thành phố nơi mình sinh ra và trải qua tuổi trẻ à?”


“Tôi thấy thế nào ấy, nhưng không thể làm gì khác. Quả thực không thể sống ở đây được. Tại sao các chuyên viên không kịp thời lo liệu việc sản xuất các nguyên liệu tái tạo? Tại sao không thu hút người ở nơi khác đến? Tôi thấy rõ rồi. Họ thấy mình ở nơi khác. Tiền mà chúng ta trả cho họ, họ gửi tại các thành phố khác mà theo đó là các thành phố có triển vọng. Đơn giản là sau đó họ trốn đi. Họ hoàn toàn không nghĩ đến chúng ta...”


 


Các thành phố như vậy chèo kéo người của nhau hay sao? Các thành phố đó tạo cho họ những điều kiện thuận lợi và một trong những điều kiện đó là năng lượng tương đối rẻ.


Đã rõ ràng rằng cả Goa cũng tiêu tan dần, giống như tất cả các thành phố và Korpus đứng ngoài việc đó, nơi mà Bogadyr sống cho đến nay. Không phải là ở chỗ Goa không có nguyên liệu tái sinh như Vazapir, mà là cái gì khác. Do con người diệt vong. Cô biên tập viên đó chắc khó có con và nếu có, thì chỉ một. Một nửa phụ nữ đã không có con. Từ cuộc nói chuyện đó trên các trang tạp chí hoen ố được in ra trước đây một trăm mười lăm năm vẫn còn lại khoảng năm thế hệ trước khi diệt vong hoàn toàn. Bằng cách tính toán đơn giản thấy rằng, nếu mỗi thế hệ mới giảm đi ít hơn một phần tư thế hệ trước (ít hơn một nửa phụ nữ có con), sau năm thế hệ thì từ một nghìn người chỉ còn lại một người. Bởi vì sau thời kỳ này không có gì thay đổi, tình hình chỉ có ngày càng xấu đi, tất cả các thành phố tiêu tan và cả các Korpus, ngoại trừ một cái.


Cô biên tập viên, cũng như mọi người, tìm lỗi ở người nào khác. Theo cô, những vấn đề nảy sinh không phải ở chỗ các thế hệ trước mà cuối cùng cả cô và thế hệ của cô có rất ít con. Lỗi là ở ban đại diện. Một bài ca y hệt như bất cứ khi nào trong lịch sử. Ngày nào đó các cuộc chiến tranh xảy ra do các nước dân chủ không muốn chuẩn bị cho chiến tranh, trong khi những nhà độc tài lại trang bị vũ khí rất nhiều. Họ không muốn nhìn thấy hiểm họa. Sau đó thất bại thì không phải họ có lỗi, mà ai khác có lỗi. Xưa kia người ta đổ lỗi mình bần hàn là do người giàu, những người bóc lột họ, nhưng trong khi đó họ đẻ rất nhiều con, để sau đó đất nước với trình độ văn minh của thời ấy không thể nuôi nổi. Có thể dễ dàng tính ra việc chia tài sản của người giầu cho người nghèo thì sự cùng khổ sẽ không khắc phục được. Thế nhưng như đã thấy, những con tính đơn giản đã gây khó cho cả những người rất học thức. Do đó cũng không thể trách cô biên tập viên, cả thế hệ của cô, cả những thế hệ tiếp theo, rằng họ không tính toán, để bản thân họ không trở thành kẻ có lỗi. Sự mù quáng có ý thức là bệnh hoạn của loài người đã gây ra sự diệt vong của họ. Kể cả trong những tài liệu ở Vazapir cũng không có một chữ nào về sự diệt vong và lời kêu gọi duy nhất nào để điều đó không xảy ra. Chắc có ai đó đã nói về điều này, nhưng người đó không được đưa vào các phương tiện thông tin, vì rằng điều đó không lý thú và sẽ không có ai đọc.


 


Bogadyr ngồi thoải mái trên đệm và suy nghĩ, đôi mắt dần dần nhắm lại. Sau chuyến đi anh đã mệt nên ngủ say. Có tiếng cào mạnh đánh thức, anh đứng dậy ra mở cửa. Đó là Akéla, nó vui mừng nhảy cẫng lên người anh. Bogadyr vuốt ve nó một lát và cho nó miếng thịt. Anh quyết định sẽ lại đóng cửa lại, lũ khỉ có thể trở lại bất cứ lúc nào. Điều đó không ảnh hưởng gì đến Akéla. Nó thích ở với Bogadyr hơn là ở với các bạn của mình vì đã già, sức lực kém dần và tình bạn với người đem lại cho nó sự nể trọng của các thành viên khác trong bầy đàn. Thực sự ra tại lần gặp gỡ đầu tiên và đầy kịch tính, nó đã trao sự lãnh đạo bầy đàn cho Bogadyr. Liệu ngay từ lần ấy nó đã thấy rằng, sự thống lãnh của nó rồi cũng sẽ kết thúc? Akéla hài lòng ép mình vào chiếc ghế ngẫu hứng, trông có vẻ như nó sẽ vừa ngủ và dĩ nhiên đồng thời vừa canh gác.


Cho đến lúc ánh sáng ban ngày cho phép, Bogadyr nghiên cứu các tạp chí và các tờ báo khác. Rồi anh dừng lại vì trời bắt đầu tối, không nhìn thấy được gì nữa. Nằm trong bóng tối ngày càng dày đặc hơn và suy nghĩ, anh hiểu rằng nhóm người cuối cùng của loài người không cần đến báo chí. Điều gì xảy ra sau cùng, có lẽ được ghi chép trong các phương tiện thông tin điện tử. Chắc đâu đó trong bộ nhớ máy tính ở Korpus có thể tìm thấy cái gì đó tương tự. Nhưng anh vẫn hình dung ra điều đó tương đối tốt, bởi vì thế hệ của họ từng trải qua y như thế, sau một thế kỷ. Người già từ từ bỏ đi và tận dụng sự tiện nghi của các Korpus. Người trẻ cuộc sống ngày càng tệ hơn vì thiếu nguyên liệu tái sinh. Những khó khăn ắt xảy ra với cả nền văn minh, với cả những phương tiện kỹ thuật khi thiếu người. Họ không muốn từ bỏ mức sống của mình. Điều gì lôi kéo họ vào Korpus đến thế? Có thật chỉ là cuộc sống ảo không? Chắc không. Vậy là cái gì? Mãi anh không ngủ được, anh suy nghĩ nhưng không tìm ra nguyên nhân. Anh chìm vào giấc ngủ không yên.


(còn tiếp)


Nguồn: Nhân mạng cuối cùng và đồng loại. Tiểu thuyết giả tưởng của nhà văn CH Séc: Ing. Vlastimil Podracký (Sci-fi 2009). Xuất bản dưới sự bảo trợ của Hội nhà văn Cộng hòa Séc; Đại sứ quán Cộng hòa Séc tại Việt Nam và Hội hữu nghị Việt Nam – Séc. Những người dịch: Mgr Nguyễn Thị Mùi (Lenka Nguyen),Đỗ Ngọc Việt Dũng, MSc. (Do.honza). Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 2019.


Dịch giả Đỗ Ngọc Việt Dũng gửi www.trieuxuan.info







* Psovité šelmy




* Hindi - हिन्दी, - hindština




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »