- Trời ơi! Keetje, đã hai hôm rồi bọn trẻ không thể đi học được: Không ăn thì làm sao có thể...?
- Hử! Tôi lên tiếng. Rồi ngồi bật dậy từ chiếc ghế trường kỷ cũ, tôi lấy trên giá áo bộ đồ nghề lủng củng của gái điếm mà một cô gái chết vì bệnh lao để lại nhà chúng tôi. Tôi xỏ chân vào đôi ủng mà đế đã bẹt ra, mặc chiếc áo dài ba diềm có đuôi, vẽ một đường đen dưới mắt, tô hai đốm đỏ trên má, thoa một lớp son đỏ sậm trên môi. Tôi buộc tóc cao đến đỉnh đầu để có vẻ lớn tuổi hơn, vì ở các nhà chứa, các má mìn do sợ cảnh sát, sẽ đuổi tôi đi khi thấy bộ mặt non choẹt mười sáu tuổi của tôi.
Trong khi tô điểm, tôi dò xét mẹ tôi... Bà sẽ đi theo tôi? Tôi không phải đi một mình. Không, không khi nào...
Khi bước ra cửa, tôi nhìn bà. Chỉ lúc bấy giờ bà mới vội đội mũ và khoác khăn choàng lên người.
Ngoài đường, tôi liếc ngang, quan sát bà. Kìa, bà đi theo tôi... Xấu hổ làm sao một người mẹ như thế. Trong thành phố, bà đi sau tôi nhìn những tủ kính trưng hàng mà tôi nhìn. Nếu có ai bắt chuyện với tôi, bà vờ như không biết tôi. Khi tôi đi theo một người đàn ông, bà bám sát gót tôi đến nỗi người ta để ý là bà đi theo tôi. Rồi bà đợi cho đến khi tôi trở ra. A! Thật là nhơ nhuốc! Tôi bước ra thật nhanh để bà phải vất vả mới theo kịp.
- Ô! Keetje...
- Ô! Mẹ làm gì đó? Đi đi, Mẹ làm con chán ngấy!
Rồi tôi vượt lên trước.
Bỗng tôi quay lại. Ô, giá bà đã về nhà và để tôi đi một mình! Tôi đưa mắt dài nhìn dọc theo các cửa hiệu ngoại ô tìm bà và thấy bà tít đằng xa cố đuổi theo tôi. Ghê tởm làm sao! Bà không thấy việc mình làm là đê hèn sao? Ô, tôi ghét bà, tôi khinh bà.Và tôi lại chờ bà.
Bà lấy tay quệt mồ hôi trán, hổn hển:
- A! Keetje.
- Mẹ theo sát con làm gì khi con đi làm đĩ? Có cần mẹ phải theo con, có phải mẹ là mẹ con không?
A! Tởm quá!
Bà nhìn tôi chớp mắt, thu mình lại, tránh không đụng đến tôi.
Ở trung tâm thành phố, tôi vẫn đi trước bà nhưng cố rỉ tai nói bà đừng đi cách xa tôi quá, tôi quá run sợ trước cái việc làm bất đắc dĩ đang chờ tôi, tôi cầm tay bà mà lắc nhẹ:
- Mẹ nhớ đừng đi cách xa con quá nghe mẹ!
Và chuyến đi chài khách bắt đầu.
Trên đường về, nỗi bất bình của tôi lắng xuống. Bà đỡ tôi dậy, dìu tôi như một bà mù, đi dài theo các cửa hiệu đóng cửa.
- Ô! Mẹ, con không thể đi được đôi ủng rách gót này nữa. Ô! Mấy ngón chân đau quá! Cả ở thắt lưng nữa, mỗi bước đi, nó làm con đau nhói ở đầu ngón chân và cả nơi thắt lưng... Con cởi giày ra nhé!
- Đừng, đừng bỏ giày ra, con gái của mẹ ạ, con sẽ bị chai ở chân đấy. Ta hãy ngồi nghỉ một tí trên bực thềm này đi!
Ôi, Mệt quá!... năm tiếng! Ta đã đi suốt năm tiếng đồng hồ!
- Phải, con sẽ ngủ suốt buổi sáng mai... Đi một chút nữa. Đằng kia có một cái quán mở cửa, mẹ mua cái gì ăn và con sẽ có cà phê nóng.
Tôi kéo lê cái đuôi áo dài của tôi trong bụi bặm, chùi son môi và tôi rên rỉ, một bên tay tựa vào mẹ, một bên tay tựa vào mặt các cửa hàng. Tôi không nói gì đến sự kinh tởm của tôi đối với những gã đàn ông không quen biết ấy, tôi muốn chửi vào mặt họ mỗi khi tôi phải giao thân cho họ, cơn giận của tôi nổi lên mỗi khi họ chiếm lấy thân xác tôi. Giữa hai mẹ con tôi, có một sự thẹn thùng kỳ lạ nên không bao giờ đề cập đến vấn đề đó...
Từ dưới cầu thang, mẹ tôi thì thầm:
- Đi sẽ thôi, không sẽ làm bọn trẻ thức dậy.
Tôi gieo mình xuống tràng kỷ. Bà đốt lửa, nấu nước, còn tôi cởi ủng, kéo giãn đầu tất chân ra một tí.
- A! Đau quá, đau quá!...
Bà thay quần áo cho tôi, đặt tôi nằm xuống rồi đắp chăn cho tôi.
- Con sẽ có cà phê ngay.
Rồi bà đến với tách cà phê đầy, một quả trứng và vài lát bánh mì bơ. Bà cho tôi ăn mà không nghĩ đến chính mình.
- Đây, con gái cưng của mẹ, bây giờ thì ngủ đi.
Bà lại đắp chăn và đắp thêm chiếc khăn choàng của bà lên trên chân tôi.
Ngủ! Nhưng ngủ sao nổi. Cái buồn nôn của những giờ phút qua đã ngấm vào người, tôi lăn lộn, vặn người muốn nổi loạn.
- Ngủ đi, cưng của mẹ, ngày mai con sẽ còn cà phê. Rồi mẹ bói bài cho. Ngủ đi con.
Tôi thiếp đi. Hôm sau mẹ tôi nói rằng đêm hôm đó gương mặt tôi tái và căng thẳng đến nỗi bà phải mấy lần đi qua đi lại từ giường bà sang tràng kỷ tôi nằm. Khi tôi thức giấc, bà cúi mình xuống tôi:
- A!
Rồi bà mang cho tôi cà phê, trứng và bánh mì bơ. Bà cầm tách cho tôi và sửa lại gối dựa sau lưng tôi.
- Mẹ bói bài cho con nhé.
Bà trải các lá bài trên đầu gối tôi
- Bảy, một bức thư... bảy, có tin vui...
Bảy, cậu ta là một thanh niên da nâu sậm...
- Nhưng con không thích những người da sậm. Không, con không yêu ai cả... Không!
Rồi tôi bật mạnh gối làm mấy lá bài tung toé xuống đất.
- Toàn chuyện vớ vẩn! Một bức thư ư? Đó sẽ là thư đòi nợ của ông chủ nhà, còn gã đàn ông da màu là viên cảnh sát đấy! Còn mẹ, mẹ chểnh mảng việc nhà vì những chuyện tầm phào này, mẹ tin vào những cái đó à? Một người mẹ như thế sao? Thôi, tốt nhất là ta đi lo cơm chiều cho bọn trẻ.
Tôi nhảy xuống khỏi giường. Bà chớp mắt với cái nhìn van lơn, nhưng vô ích. Tôi đã trở lại sôi sục, kinh tởm và căm giận trút xuống đầu bà những tràng dài oán trách cay độc.
Đấy là đêm lễ Nữ thánh Catherine. Tôi lang thang trong khu phố ẩm thấp của thành phố, cách mười bước phía sau là mẹ tôi. Mỗi khi đoán chừng có một nguời đàn ông nhìn tôi, tôi quanh vào một con đường rẽ, hy vọng anh ta sẽ rẽ theo.
Thỉnh thoảng, trước tủ kính các cửa hàng bánh, hai mẹ con lại gặp nhau và chúng tôi nhìn những chiếc bánh Nữ thánh Catherine bày bán. Đó là những chiếc bánh hình trái tim vuông hay tròn, tráng đường trắng hay hồng, trên đó có những dòng chữ vàng ngoằn ngoèo. Mẹ tôi nói:
- Mẹ tên là Catherine, nhưng mẹ lại không bao giờ có chiếc bánh Catherine nào cả... Keetjee, bọn trẻ sẽ nói gì nếu chúng ta về nhà với một túi đầy ắp những bánh này?
- Cái tuyết lạnh thấu xương đã làm con khủng khiếp, nổi da gà, con giống hệt một con bù nhìn thế này làm thế nào tìm được một gã đàn ông? - Tôi đáp.
Và tôi lại tiếp tục lững thững bước đi, bực bội.
Đến phố Bouchers, một ông khách bắt chuyện với tôi. Đó là môt người vùng Wallonie mà tôi chỉ biết qua loa.
- Qua đêm với anh đi, cô em.
- Qua đêm... Nếu ông cho em mười quan...
- Được, lại đây.
Tôi theo ông khách vào một con đường của thành phố cổ. Tôi định báo mẹ biết là tôi sẽ đi suốt đêm, nhưng không báo được.
Trong bóng tối, ông ta đưa tôi lên một phòng khách. Ông bật đèn và chúng tôi bước vào một căn phòng nhỏ với chiếc giường rất rộng. Ông đưa tôi hai đồng 5 quan. Tôi gói tiền vào chiếc khăn tay, thắt gút lại.
Ông ôm ghì lấy tôi, không mơn trớn dạo đầu, một cách máy móc, có vẻ như làm một việc bất đắc dĩ cũng như tôi. Xong việc, ông ngã đầu vào gối, nằm ngửa. Chúng tôi không nói gì với nhau. Ông rảo mắt và dừng lại trên tấm ảnh một phụ nữ treo ở chân giường. Đó là một mẫu người thị dân, mập mạp ở vùng Flandre, khu thấp của thành phố. Người phụ nữ ấy nhìn chúng tôi mỉm cười.
Thấy tôi theo dõi ánh mắt của mình, ông ta nói:
- Vợ tôi đấy.
Rồi nói thêm bằng giọng địa phương Marolle
- Suỵt!... Đã qua đời...
Và ông ta lại vùi đầu vào gối.
Ông ngồi dậy, mặc quần và ra hiệu tôi cùng ngồi dậy với cử chỉ bảo đi ăn. Tôi khoác áo choàng còn ướt và mang ủng. Ông dẫn tôi đến một cầu thang tối, dẫn xuống tầng hầm rồi bảo tôi đợi. Ông quẹt diêm, thắp một ngọn đèn dầu. Chúng tôi ở trong nhà bếp tầng hầm. Ông chỉ cho tôi một cái ghế, lấy ra một hũ thịt đông lạnh có nước xốt nâu, cắt bánh mì, khui một chai bia rồi chúng tôi cùng ăn khuya. Thật tuyệt. Ông cắt cho tôi từng lát bánh mì và bỏ ngay vào đĩa tôi một miếng thịt khác khi tôi vừa ăn xong miếng đầu. Ông chăm chú nhìn tôi ngấu nghiến nhưng không có nhận xét gì.
Ông cầm lấy chiếc đèn con và chúng tôi trở lên nhà. Ông rỉ tai tôi:
- Suỵt, coi chừng con bé giúp việc... nó đang ngủ.
Rồi ông chỉ tay lên phía tầng trên.
Ông đưa tôi lên tầng một, vào một căn phòng rộng mà mọi góc tường đều có gắn ngăn kéo và những cái tủ có ngăn kéo đặt ở giữa phòng. Ông đến cạnh những cái tủ ấy và mở các ngăn kéo ra. Tôi bật lên tiếng vui mừng và ngạc nhiên: chúng đựng đầy những hoa giả.
- Thợ làm hoa giả mà, ông vừa nói vừa chỉ một ngón tay vào ngực mình.
Ông còn mở những ngăn khác nữa và hiện ra nào là những vòng hoa hồng, cẩm chướng, trà mi - mà về sau tôi mới biết tên khi lượn qua chợ hoa Quảng trường lớn - nào là những đóa hoa có điểm một giọt sương bằng thủy tinh ở chính giữa và trên các cánh, nào là những chiếc lá phủ một lớp sương xám, long lanh.
Với vẻ buồn buồn, ông ta mở các ngăn kéo, còn tôi thì say sưa mơn trớn các đóa hoa. Ông còn mở một ngăn kéo nữa và tôi không thể không thốt lên một tiếng thán phục. Những vòng hoa làm bằng sa tanh trắng trên đầu tô màu hồng, màu hoa cà hay màu đỏ, được trải trên giấy lụa. Theo sở thích của tôi, đó là những vòng hoa đẹp nhất.
- Cho cô em một cái đấy, chọn đi!
Tôi chọn cái màu hoa cà.
- Đây là hoa bìm bìm, ông vừa nói vừa bọc chúng vào tờ giấy lụa.
Chúng tôi lại lên giường, ông bảo tôi ngủ và ông cũng ngủ.
Trời còn tối khi ông ta đánh thức tôi và ra hiệu tôi mặc quần áo. Rồi rỉ tai tôi:
- Bọn người làm sắp đến.
Ông đưa tôi ra cửa ngoài đường rồi nhẹ nhàng đóng cửa khi tôi quay gót...
Tôi không biết rõ mình đang ở đâu, con đường rất dốc, sương giá đóng băng khiến tôi trượt ngã và nuốt phải mấy giọt sương đóng băng. Nhưng rồi tôi cũng đến được quảng trường lớn: ở đó tôi biết nhắm hướng về nhà. Tôi mua thức ăn ngay ở cái quán đầu tiên tôi thấy mở cửa. Về đến nhà chỉ mới sáu giờ.
- Con đấy hả, may quá! Mẹ tôi reo lên. Mẹ đã chờ đến hai giờ sáng trước căn nhà đó; nếu nghe con la lên, mẹ đã la làng đánh động khu phố đó... Con có tiền đó không?
Tôi đưa bà tám quan vì đã mua thực phẩm hết hai quan.
- Con cũng nhận được một bó hoa.
Và tôi đưa cho ba, mẹ xem. Ba tôi nói:
- Con thấy đó, cũng dễ thôi. Tất cả chúng ta đều có cái ăn và con có thể ngủ suốt ngày nếu muốn và rồi tối nay lại ra phố với cái hoa đẹp trên nón...
Tôi cảm thấy người tôi tái nhợt, cha tôi cũng thấy thế và im lặng.
Trên những tấm nệm rơm, lũ trẻ ăn lấy ăn để. Mẹ tôi đã cắt phần bánh mì cho Hein vì nó phải đi làm, Bà rót cho nó một tách cà phê nóng mà nó vừa uống đứng vừa đổ ra trên đĩa. Bà cũng cho tôi một tách và tôi đi kết ngay vòng hoa bìm bìm lên cái mũ nhơ nhớp của tôi.
*
* *
- Em sẽ làm mẫu cho anh vẽ một bức trướng, đứng mỗi buổi ít nhất ba giờ liền không nghỉ nếu được.
- Được chứ, em muốn vậy và sẽ làm được.
- Vậy hãy bỏ quần áo ra, chúng ta bắt đầu ngay.
Anh họa sĩ ghim mảnh vải trên đầu tôi làm mũ hở trùm đầu. Tôi ở trong tư thế đứng, cánh tay trái tì trên thành một chiếc ghế bành, cánh tay phải đưa về trước ngực, bàn tay đặt trên cổ tay trái, đầu xoay hẳn về phía vai phải. Anh cầm bảng màu, đi quanh tôi ít lượt rồi miệt mài vẽ.
- Nhất là đừng cử động cái đầu, mảnh vải đang tạo ra một nếp xếp tuyệt vời sau gáy.
Không bao lâu tôi bỗng như bị vẹo cổ, đau nhói khắp cả đầu. Sau một tiếng đồng hồ, anh nói:
- Quả cô em đã giữ được tư thế đứng một cách tuyệt diệu! Chỉ có những phụ nữ hiếu động mới có nghị lực, nhiều người mẫu đã làm anh lúng túng với tư thế này. Anh cần như thế cho một bức tranh lớn.
- Anh nhận thấy em hiếu động lắm à?
- Không, phải đợi lâu mới thấy điều đó, mắt em, dù có màu sáng nhưng lộ vẻ lo âu và các bàn tay luôn nắm chặt như gọng kềm nếu em không muốn mở ra.
Tôi đã đứng từ hai giờ rưỡi và có cảm giác bị chôn chân xuống đất khi cô gái giúp việc đến thì thầm điều gì bên tai anh chàng họa sĩ.
- Mẹ kiếp! Bực mình quá! Ta phải vẽ xong bức tranh này đã. Nếu ngưng, sẽ không thể tìm lại những nếp xếp nữa.
- Có phải anh lo cho em? Em đã hứa với anh là sẽ không đi đâu trước mười hai giờ.
- Có một bà muốn nhờ anh vẽ chân dung cho con gái bà ta trước ngày cưới của nó, họ đang đợi cùng với vị hôn phu. Mẹ kiếp! Bức thảm của ta...
- Em sẽ không nhúc nhích đâu, anh yên tâm!
Vậy mời họ vào.
Một bà đứng tuổi bước vào, theo sau là cô con gái mập ú. Tôi không thấy chàng trai vì đầu tôi phải xoay theo tư thế bắt buộc. Họ bước tới, không chào tôi, và nhìn từ đầu đến chân. Tay chân trần của tôi ló ra ngoài cái giá vẽ làm họ đặc biệt chú ý. Họ lùi lại một tí, anh chàng - vị hôn phu - bước tới. Tôi nhìn thấy anh qua khoé mắt và nhận ra đó là Albert, con trai một vị tướng mà tôi đã yêu và hiện vẫn còn yêu. Mắt tôi dán chặt vào gương mặt kinh hãi của anh nhưng tôi không nhúc nhích.
Nguyên là một hôm, tôi có gặp một chàng sinh viên rất trẻ mời tôi đi dã ngoại với anh hôm sau. Khi xuống xe lửa, một thanh niên khác tóc vàng, cao, mảnh khảnh với gương mặt thanh nhã, lông mi vàng cong và làn da tươi mát đang đợi chúng tôi. Anh có những cử chỉ lịch sự, tỏ ra trọng nể tôi, giọng nói anh trong trẻo và dịu dàng. Anh nói tiếng Flamand bóng bẩy nên chúng tôi có thể chuyện trò với nhau: anh chàng đưa tôi đến thì nói tiếng Pháp mà tôi chỉ vừa mới bắt đầu võ vẽ đôi tiếng thôi. Càng nói chuyện, anh chàng tóc vàng càng ngạc nhiên về những gì tôi đã đọc. Anh giải thích với bạn mình và anh này càng lúc càng tỏ ra cau có.
Hôm sau, anh viết thư cho tôi và từ đó tôi đi dã ngoại với anh ta. Lúc ấy đang mùa đông: tôi thường bụng đói, lưng và chân ướt sũng vì nước mưa tuôn xuống từ nón và váy, trông tôi thảm hại như một con chuột lột. Đến nhà ga, tôi thở hổn hển sau suốt một giờ đi bộ.
Tôi luôn luôn nhìn thấy anh từ xa, ngoái cổ nhìn về phía đường tôi đến. Chúng tôi lên toa hạng nhì và xuống rừng Soignes. Rồi thì chúng tôi chui sâu vào các lùm cây.
Tôi không bao giờ xin tiền anh dù anh chàng kia nói với anh rằng tôi chài đàn ông trên đường phố. Nhưng sau đó anh đưa tôi vào một quán cóc và đãi tôi hai ổ bánh mì dăm bông và một ly bia. Trời! Ly bia trong lúc bụng đói... Nó hành hạ tôi suốt cả ngày.
Tôi biết anh đoán đây là bữa ăn đầu tiên của tôi trong ngày. Anh cũng cảm thấy rằng tôi yêu anh, nhưng ánh mắt anh nhìn tôi qua làn mi dài, với tôi vẫn còn khó hiểu.
Về đến thành phố, anh ta luôn luôn chuồn đi rất nhanh. Rồi đột nhiên anh không mời tôi đi nữa.
Một buổi tối, tôi gặp lại chàng sinh viên đã đưa tôi đi chơi lần đầu tiên.
- Cô đã truyền bệnh lậu cho Albert.
Rồi anh ta bật cười. Tôi không biết đó là chuyện gì, nhưng từ ít lâu nay tôi cảm thấy mình bệnh... Và bây giờ anh đứng gần tôi bên cạnh vị hôn thê của anh, còn tôi, nửa trần truồng, đứng chết trân nhìn anh qua khoé mắt. Cảnh tượng này khiến họ muốn tìm hiểu.
- Albert, hãy nhìn kìa, cô gái nói với vị hôn phu vừa chỉ vào làn da cánh tay tôi.
Bà mẹ thì thầm:
- Đó là những làn da không được tắm rửa nên nổi mụn như thế.
Bây giờ thì tôi có thể nhìn được anh bằng hai mắt của mình. Anh van xin tôi qua ánh mắt u buồn. Họ bước ra xa để xem tranh. Tôi tự cảm thấy mình buồn cười, hèn hạ, thảm hại. Còn anh, anh nghĩ gì khi gặp lại tôi? Chắc anh phải oán hận và ghê tởm tôi đến mức nào vì đã truyền bệnh cho anh. Giờ tôi lại đang đứng trân ra đấy trong tư thế lố bịch mà tôi không thể nào bỏ được! Những giọt nước mắt không thể giấu nổi cứ ứa ra, lăn dài theo má xuống vai, rơi trên các mảnh vải.
“...Tuy nhiên, anh ấy phải biết ơn mình vì mình đã giả vờ như không hề có việc gì...”
Người mẹ thì thấy tôi khóc.
- Có lẽ cô ấy đã nghe con nói về làn da của cô.
- Mẹ tin cô ấy cảm thấy thế à?
Bây giờ họ ở phía sau lưng tôi. Tôi nghe nhưng không thể nhìn thấy họ. A! Giá có được cái ý định phá vỡ hạnh phúc của anh, thét vào mặt anh rằng anh đã không hề chán ghét làn da của tôi chút nào khi anh lăn lóc trên con người tôi trong những bụi rậm, rằng tôi đã truyền bệnh cho anh, và rằng cô ấy chắc sẽ nếm hậu quả... Nhưng tôi không hề hở môi, mắt mờ đi vì lệ.
Họ rời xưởng vẽ không nhìn tôi.
- Cô bé tốt bụng ơi, chàng hoạ sĩ nói, mấy tay trưởng giả đó đã hành hạ em khi nói về làn da em... Nếu em được tắm táp, chải chuốt như họ, thì nước da em sẽ mát rượi như sa tanh...
Chàng lại cầm lấy bảng màu vẽ tiếp trong nửa giờ.
- Đây, 10 quan của em đây, cô bé... Khoan đã, anh giúp em ngay đầu lại và làm thư giãn tứ chi bé nhỏ của em. Em đã đứng đúng tư thế một cách tuyệt diệu: em có muốn làm mẫu cho anh vẽ cô gái trưởng giả vừa rồi không? Họ đã miệt thị em thật đấy, nhưng cái mà anh chồng sẽ chiêm ngưỡng suốt đời là chính đôi vai, đôi cánh tay và hai bàn tay em trong bức tranh của vị hôn thê mình đó: nếu anh đem cả cái khối da thịt của chính cô ta vào bức chân dung thì anh chàng sẽ xấu hổ...
Với bao nỗi lo phiền, tôi không có thời gian quan tâm đến bệnh của mình. Có dịp, tôi mới vào ngay bệnh viện khám xem mình bị bệnh gì. Một y sĩ nội trú khám cho tôi; ông cho biết tôi không có bệnh gì cả, tôi chỉ bị thiếu máu và còn anh chàng kia cũng chẳng hiểu gì về vấn đề của chính mình. Tôi quyết định không làm nghề bán dâm nữa dù cả nhà tôi có phải chết đói. Điều tệ hại nhất là ba mẹ tôi: hai người đã quen với chuyện đó đến độ coi nó như chuyện bình thường, đơn giản... Một buổi sáng, tôi báo trước là tôi sẽ không đi đứng đường nữa.
Ba tôi ngẩng đầu hỏi
- Tại sao lại thôi?
- Vì con không muốn làm một con đĩ suốt đời... Ba mẹ không biết bọn đàn ông ấy một khi họ nhặt được đàn bà, họ đòi hỏi những gì... Họ có thể cho con nhiều tiền hơn nếu con làm theo ý muốn của họ.
Ba tôi gầm lên:
- Mày nói láo, đồ chó chết. Mày phịa ra những chuyện đó để cho cả nhà phải chết đói. Rồi ba tôi tiến về phía tôi đang đứng gần cánh cửa sổ đã mở, quát to:
- Tao tống cổ mày ra khỏi nhà thì mày làm gì nào?
Tôi đứng bật dậy trước mặt ông:
- Vậy thì cứ tống cổ con ra khỏi nhà đi, còn hơn là bắt con tiếp tục mãi cuộc sống ghê tởm này! Cha cứ ném con đi, thế là xong!
Hai người chúng tôi trừng mắt nhìn nhau: ba tôi trong tư thế một đô vật sắp túm lấy đối thủ, còn tôi thì đưa tay cao lên về phía ông, các ngón tay co quắp như móng mèo.
Bỗng ba tôi tái xanh mặt rồi bỏ đi... Thế là xong, tôi đã thắng.
Tay run lập cập, tôi mặc quần áo, ra khỏi nhà đi lùng các xưởng vẽ tìm chỗ làm người mẫu. Rồi tôi nhận vá lại các thảm cũ cho một nhà họa sĩ. Biết đâu tôi sống tự túc được bằng những công việc đại loại như thế ở những tiệm bán đồ cổ.
Đến Montagne de la Cour, tôi vào một gian hàng đồ cổ.
Sau khi nghe tôi nói những việc tôi làm được, người chủ đáp:
- Hẳn là tôi có thể cho cô việc làm, nhưng không phải ngay bây giờ... Nếu cô muốn, hãy trở lại...
Ra khỏi cửa hàng, một cô gái bắt chuyện với tôi:
- Chị đến bán cái gì cho lão ấy?
- Không, tôi đến tìm việc.
- Coi chừng: đó là môt lão dê già bẩn thỉu... lão muốn ngủ không với chị mà không muốn mất cho chị một xu nào đâu!
Biết tôi là người Hà Lan, cô bảo tôi là mẹ cô cũng là người Hà Lan. Chúng tôi có thể hiểu được nhau nên cô đưa tôi về nhà dùng cà phê. Cô giới thiệu tôi với mẹ cô như một người bạn, tôi được tiếp đãi tử tế. Nhà họ bẩn thỉu đến phát gớm. Trong khi uống cà phê ăn bánh mì, bà hỏi hiện tôi làm gì.
- Cháu làm người mẫu ở các xưởng vẽ.
- Bác là thợ may, một mình bác phải nuôi hai đứa con, bác trai không quan tâm gì đến chúng. Hiện nay, Stéphanie mười sáu tuổi, nhưng nó quen ăn không ngồi rồi, không học nghề ngỗng gì cả... Hằng ngày, vì phải đến xưởng làm từ tám giờ, buộc lòng bác phải bỏ chúng ở nhà một mình. Giờ học đầu là tám giờ rưỡi nhưng chúng không đi học. Trưa bác không thể về nhà vì xưởng làm ở tận phía bên kia thành phố; phần cơm của chúng, bác làm sẵn, chúng chỉ việc hâm lại.
Bà nói mà đôi mắt nhớn nhác, bàn tay nóng như lửa. Lúc này bà không có xưởng làm. Tôi cảm thấy ở nhà họ rất thoải mái và biết rằng họ dễ dàng chấp nhận cho tôi sống chung. Tôi đi dạo phố với nguời bạn mới. Tối đến, cô còn đưa tôi về nhà cô và mời tôi ngủ lại vì đã khuya. Tôi vui vẻ nhận lời, tôi sợ phải về nhà mình nên ngủ với hai người: bà mẹ cạnh giường, Stéphanie nằm giữa còn tôi nằm sát con hẻm. Trước khi ngủ, bà còn than phiền vì một lần nữa vì Adolphe vẫn chưa về. Tám giờ sáng, người ta đập cửa dồn dập: hai viên cảnh sát bước vào với người chủ nhà - một mụ phấn son loè loẹt, quản lý một “hộp đêm” ở tầng trệt. Mụ ra lệnh chuyển hết đồ đạc ra ngoài. Tôi và cô bạn tôi, còn mặc áo ngủ, nấp sau chiếc giường.
- Nhìn hai con bé kìa, áo chúng đen như cái chảo, mụ nói với giọng khinh khỉnh.
Mấy viên cảnh sát khiêng đồ ra để trên bậc thềm cầu thang.
- Tôi tử tế lắm mới không cho vất ra lề đường đó nghe, mụ nói tiếp.
Mẹ bạn tôi, mặt vàng như sáp ong, hai gò má đỏ chót, mắt long lanh, mím môi rít lên:
- Vì con trai tôi bị chị quyến rũ từ hồi mười lăm tuổi, nay nó không thèm chị nữa mà chị muốn trả thù ư? Chị không dám quăng đồ tôi ra lề đường chẳng qua vì sợ người ta chú ý đến cái “hộp đêm” tồi tàn của chị thôi! Nếu tôi tìm được chỗ ở, dĩ nhiên chúng tôi sẽ đi; nếu không chúng tôi còn ở lại đây đêm nay.
Khi mọi người đã ra ngoài, mụ chủ nhà khóa cửa và mang theo chìa khóa. Mẹ bạn tôi đội nón, khoác khăn choàng, cũng đi. Tôi ở lại với Stéphanie, trên bậc thềm cạnh đống đồ đạc; nó có bánh mì, một bà hàng xóm cho chúng tôi cà phê. Tối đến, bà mẹ trở về; bà chỉ có thể dọn đến chỗ ở mới vào sáng mai. Chúng tôi khiêng nệm lên gác xép. Bà cảm ơn tôi đã không bỏ họ trong giờ phút khó khăn. Bà không ngớt lăn qua trở lại trên nệm; Stéphanie và tôi cười như nắc nẻ khi nhớ đến năm cái nốt ruồi có lông chúng tôi đếm được trên mũi mụ chủ nhà. Rồi cả ba đều ngủ.
Sáng hôm sau, một người đàn ông đẩy xe ba gác tới chuyển đồ, tôi giúp sắp xếp cái gác xép bà mẹ vừa thuê. Xong, tôi về nhà mình, hài lòng vì đã tìm được bạn trong một thành phố xa lạ.
Sau một thời gian làm việc như điên, tôi đã khâu xong tấm thảm cũ mà tôi phải thêu lại gần như toàn bộ những “trái cây” trên đó. Tôi hối hả đi giao hàng, hy vọng được lãnh tiền công, nhưng ông chủ cửa hàng đi vắng và tôi phải trở về tay không. Ở nhà, mọi người đợi tôi: đã quy định là tôi phải lo chuyện thức ăn đem về. Vào nhà, nhìn gương mặt méo mó của tôi, mẹ tôi biết điều gì đã xảy ra nên chẳng buồn hỏi tôi. Tôi phải đi ngay thăm Jeannette, con bác chăn bò, để cùng vài cô gái khác trong xóm đưa một đứa bé ra nghĩa trang. Jeannette thật tuyệt vời trong chiếc áo dài đen bó người, chiếc mũ kiểu Charlotte Corday(1) kết nơ hình bắp cải bằng the đen. Chính tôi, trong lúc bí đã khâu vội khâu vàng chiếc mũ đó cho bạn.
- Trông cậu xanh quá, Keetje, và đi như mang giày ướt ấy.
Tôi không trả lời, bạn ấy tiếp:
- Đi đám tang với bọn tớ, như vậy bà mẹ sẽ cảm động, khi về cậu sẽ dùng cà phê với bọn mình.
Đối diện với ngõ cụt chúng tôi, trong một cái quán tồi tàn bán rượu, tạp hóa, thực phẩm có một đứa bé vừa chết.
Bốn cô gái khiêng chiếc quan tài nhỏ. Bà mẹ mắt ráo hoảnh, mời các cô uống rượu đổ tùng vì phải khiêng xa và trời đang mưa, mọi người lên đường. Vài người hàng xóm, đàn ông mặc áo khoác chật bó, đàn bà đầu trần, khăn choàng đen nhỏ đi theo cho phải phép.
Tôi cảm thấy rất cách biệt với những người Flamand chưa gột hết vẻ quê mùa đó. Đám ma đi theo một con đường trũng lầy lội.
Mỗi khi tránh những đoạn đường lầy lội, các cô gái khiêng quan tài nghiêng qua nghiêng lại khiến tôi có cảm tưởng có cái gì thiếu tế nhị và bất kính. Rồi bị cơn đói thôi thúc, tôi muốn quay về để dùng bữa ăn đã hứa.
Trên đường, một chị giày bị lún bùn cho nên người ta phải đặt quan tài xuống đất, trên triền dốc cho các chị nghỉ một lát. Chị mất giày mệt nhoài: tôi xin được thay chị
Chị trao mũ của chị cho tôi. Run lên vì ghê và sợ, tôi kê vai vào một góc quan tài và đoàn người lại tiếp tục đi dưới mưa trên bùn lầy. Tôi khiếp hãi nghĩ đến cái hòm đóng không chắc kia đang đày đôi vai gầy của tôi; tôi cảm thấy rợn người khi nghĩ đến đứa em gái tôi đã chết có lẽ cũng được khiêng khệ nệ như thế... Nhưng, thôi kệ! Chắc người ta sẽ nói với bà hàng xóm là tôi đã tận tình giúp đỡ và rồi sẽ được một mẩu bánh mì dăm bông với tách cà phê như những người khác.
Tại nghĩa trang, công việc được làm qua quít một thoáng đã xong. Ra khỏi đó, cánh đàn ông mời các bà ghé nhà ăn một ít còn tôi không được ai hỏi đến. Dáng vẻ cô nương và cách nói năng thanh nhã của tôi khiến họ xa cách tôi. Đến nhà, mọi người mình đẫm mồ hôi, đầu bê bết bùn.
Có bốn cái tách trên bàn và bốn chị khiêng quan tài đã ngồi vào; những người khác không được mời. Tôi đưa mắt nhìn mấy ổ bánh mì dăm bông, cà phê bốc khói mà thèm phát run lên; nhưng tôi đứng đó, trước quầy như để chờ Jeannette. Nó thấy mặt tôi tái mét.
- Keetje, lại đây nào, uống tách của tớ nè: cà phê nóng lắm.
- Cám ơn Jeannette, giờ thì mình ấm rồi, về nhà uống cũng được.
Và tôi ra về. Chị ta nói hơi đớt; chị có đôi má phính đỏ như gấc, đôi vú to mà tôi thèm có, dáng đi khó khăn vì những cục u nơi lòng bàn chân. Trên các lối đi vắng vẻ của công viên mà bọn đàn ông kéo chúng tôi đến, chị coi họ như những tên lưu manh khi họ đưa tay sờ ngực chị.
Tôi thì còn lâu mới dám táo bạo đối với đàn ông. Mỗi khi có gã nào bỏ không đến cuộc hẹn với chị thì về nhà chị cũng vẫn có một mẩu bánh mì mẹ để dành cho; còn số tiền kiếm được chị để mua vài món nữ trang rẻ tiền và bánh trái... Nhưng vào thời mà tôi còn phải bán thân, tôi khóc suốt dọc đường mỗi khi, sau việc làm bất đắc dĩ, tôi về nhà với đôi bàn tay trắng, để một lần nữa bảo bọn trẻ chịu khó nhịn đói đi ngủ mặc dù suốt tối hôm đó, chúng đã phải kể cho nhau nghe những chuyện bắt cướp để quên đi cái bụng đói của mình... Thường tôi lang thang hằng giờ trong các con đường tối tăm nơi ngoại ô không dám về nhà hoặc hy vọng về nhà đã thấy chúng đi ngủ. Đã bao lần, đi dọc ven bờ kênh, tôi tự hỏi có nên lao mình xuống đó không. Những chuyện ấy giờ đây đã chấm dứt. Nếu tôi đi theo Stéphanie, đó là vì tình bạn. Ngày nào tôi cũng tự khen mình đã xóa hẳn nỗi nhục ấy của đời tôi, một lần cho tất cả. Nhưng tôi không thể hiểu được tai sao lại có những người, áo quần bảnh bao, nhà cửa đàng hoàng, có của ăn của để hẳn hoi lại không là những con người lương thiện. Tôi thành thật tin rằng chỉ có cái nghèo đói mới phát sinh ra mại dâm...
Nhưng những người đàn ông ấy, vì nhục dục, đã lượm nhặt bất cứ người đàn bà nào. Điều đó, với tôi, là một sự đê tiện nhuốc nhơ đến tột cùng... Khi thấy họ tục tĩu thô lỗ, đầu óc tôi nổi loạn lên... Tại sao, tại sao họ lại như thế? Họ có tất cả để làm người tử tế kia mà... Vậy tại sao họ lại đối xử như thế với tôi?... Trái lại, đáng lẽ họ phải thấy rằng không phải vì tôi cần có một đôi giày hay vì muốn tiêu khiển mà tôi bán mình cho họ, những người không hề quen biết chứ! Tôi tưởng họ phải đoán biết hoàn cảnh của tôi... nhưng không hề có một ai tìm hiểu gì về tôi cả có lẽ trừ một lần, một sĩ quan... Ông ta đưa trước cho tôi bốn quan. Trong khi tôi gói tiền vào một tờ giấy, ông nhìn cánh tay gầy gò, chiếc áo lốm đốm cứt rệp của tôi. Ông nâng cằm tôi lên, nhìn tôi trong chốc lát, nhưng tôi nhắm mắt để ông ta khỏi đọc tâm trạng của mình... Ông ta cho tôi hai quan nữa. Tôi cũng cảm nhận rất rõ rằng, đối với đàn ông, gái điếm là một hạng người vô thường, không cảm thụ được bất cứ một tình cảm gì của con người, chỉ thích hợp cho những trò hèn hạ... Với họ, không cần phải làm đĩ, chỉ cần là một cô gái nghèo đói, họ muốn làm gì thì làm...
Một hôm, ở xưởng vẽ một chàng họa sĩ, một người đàn bà trong số những học trò của anh ta vừa ra về. Anh bảo tôi xoay lại một bức tranh mà anh đã mua. Anh muốn cho một trong những bạn anh có mặt ở đó xem bức tranh.
- Này anh bạn, tôi không thể cho anh xem bức tranh này trước mặt cô ấy, nhưng này, nhìn xem!... Nó không có một tí giá trị nghệ thuật nào cả mà chỉ là đồ tục tĩu!
Rồi riêng hai người với nhau, họ phân tích khía cạnh dơ dáy của bức tranh và cười. Bà vừa ra về là một phụ nữ bốn mươi tuổi; tôi mười bảy, họ không biết gì về cuộc sống của tôi... Cho nên thực lòng, tôi cho là mình bị họ liệt vào hạng người đê tiện đó. Nhưng nếu tôi giàu và là nghệ sĩ, tôi sẽ không bao giờ mua bức tranh đó chỉ vì nó chỉ là đồ “tục tĩu.” Cho nên tôi vừa ngơ ngác vừa thích thú khi Stéphanie coi bọn đàn ông như đám lưu manh. Tôi cũng cảm thấy rằng, nếu tôi không muốn “làm gái” nữa, tôi phải cẩn thận giấu nhẹm đi những gì tôi đã làm; rằng, nếu không thế, tôi sẽ không bao giờ thoát khỏi cái “nghề” này, rằng tôi sẽ luôn luôn bị ngờ vực và khinh bỉ, bị coi như một tội phạm và sẽ không có một người đàn ông nào đưa tay kéo tôi ra khỏi đó một cách đường hoàng. Riêng phái nữ, trong số vài người mà tôi đến nhà làm mẫu, họ giữ một khoảng cách lịch sự, tôi đoán họ tự cho là họ thuộc một đẳng cấp khác biệt nên không có gì để hy vọng về phía họ. Tôi có thể tìm được một chỗ làm như làm nguời giúp việc nhà chẳng hạn và bản thân tôi được thoát nạn: được, nhưng còn bọn trẻ... và cha mẹ tôi..., mặc dầu còn căm giận, tôi vẫn thấy thương và tội nghiệp... Giờ đây, mỗi ngày Hein kiếm được một quan; Dirk chơi phong cầm trong các quán rượu ngoại ô; Naatje thỉnh thoảng ngồi làm mẫu thiên thần cho các họa sĩ. Nhưng như thế chưa đủ... tôi cần phải ở lại với các em tôi cho đến khi chúng lớn khôn hơn.
Mọi lúc mọi nơi, những ý nghĩ ấy lởn vởn trong đầu tôi và thường khi, trong lúc tôi ngồi làm mẫu, anh chàng họa sĩ hỏi tôi tại sao tôi lại có nét mặt sầu não và kinh hãi như vậy.
Một tối thứ hai, Stéphanie đưa tôi đến buổi dạ vũ sinh viên. Ở đó, mọi người đều vui nhộn với nhau. Những chàng đẹp trai ấy đối xử bình đẳng với chúng tôi. Tôi cần nhất điều đó, không còn bị coi như những người thấp kém hay khả nghi nữa! Một đêm, anh chàng sinh viên đầu tiên có nhã ý mua cho tôi một cặp khuy cài tay áo ở cửa hàng tạp hóa. Anh ta không bao giờ biết được cử chỉ dễ thương ấy đã khiến trái tim tôi đập mạnh đến thế nào. Một anh chàng khác đưa Stéphanie và tôi về ngôi nhà nông thôn của anh ở cửa ngõ thành phố, để ăn lê. Thấy những chùm nho trong nhà kính, tôi kể anh nghe cậu em trai Klaasje của tôi bị bệnh đậu mùa và bác sĩ bảo rằng nho rất tốt cho nó.
- Anh không dám cho em những chùm này vì chúng chưa chín và mẹ anh sẽ giận nếu anh hái.
Nhưng khi đưa chúng tôi về, anh ghé cửa hàng bà bán rau mua cho tôi một chùm nho đẹp:
- Đây, cho em...
Những sự quan tâm tế nhị như thế khiến tôi hãnh diện và sung sướng. Dĩ nhiên, tôi có những bạn tình trong số họ. Hiến dâng cho họ là niềm vui của tôi. Sắp xếp các sự việc thuận chiều, tôi tin chắc mình sẽ đứng lên được... Hơn nữa ngôn từ chải chuốt, giọng nói thanh nhã của họ thu hút tôi; tôi nhận thấy họ có trình độ giáo dục cao hơn các chàng họa sĩ, điêu khắc mà tôi ngồi mẫu.
Tuy nhiên, các chàng nghệ sĩ quan tâm đến tôi một cách khác. Một người trong bọn họ biếu tôi quyển từ điển Pháp – Flamand và quyển Chuyện của một đứa con Đất nước của Erckmann Chatrian. Tối tối, tôi đọc nó và tra từ điển từng chữ một; nhưng tất cả động từ trong đó đều ở nguyên thể khiến tôi lúng túng. Họ nói về tất cả các vấn đề trước mặt tôi, họ thảo luận về hội họa, rủ tôi đến Viện bảo tàng, rồi khi tôi đọc trôi chảy tiếng Pháp, họ cho mượn sách. Từ khi tôi lớn lên, chỉ những sinh viên cùng tuổi mới quyến rũ được tôi. Với họ, chúng tôi khiêu vũ, ca hát trong các quán rượu và hiến dâng như trước kia, điều mà thôi không thể làm được với những người lớn hoặc nhỏ tuổi hơn. Tuy nhiên, sắc đẹp tôi đã thắng. Tôi ngồi mẫu rất nhiều trong các xưởng vẽ dù tôi không phải là mẫu người thích hợp cho các họa sĩ vùng Flandre, họ chỉ thích những người phụ nữ mà Rubeno đã vẽ và vẻ mảnh khảnh của tôi gần như khiến họ e ngại... Rồi tôi thêu lại cho họ những tấm thảm và lụa cũ mà họ mua.
Một hôm, có hai anh chàng hẹn chúng tôi đến rừng Cambre. Tôi vội vã đến đại lộ Louise và chú ý đến một tên lưu manh trẻ có những xoắn tóc đen, đang tản bộ với dáng điệu mệt mỏi trước tôi. Anh chàng cầm một cành cây tươi đã tuốt lá đánh mấy con chó và những đứa trẻ anh gặp trên đường; anh ta quay lưng cười mỗi khi chúng kêu đau. Trong rừng, anh ta đập gẫy các nhánh cây non. Rồi ngồi xuống: anh ta ném đá mấy con chim sẻ đang chíu chít tìm thức ăn trong một đống phân ngựa khô.
- Ô kẻ đáng ghét! Tôi nhủ thầm.
Một cô gái tóc hung, mũi tẹt đi qua. Cái váy nhiều lớp khiến cô ta có dáng đi nhún nhẩy. Cô ta nheo mắt mời anh chàng. Anh chàng không nói không rằng, nhìn cô, lơ đãng; rồi, hai tay đút túi anh ta, huýt sáo vẻ chán chường. Một ông già chậm rãi bước tới. Họ nhìn thẳng vào mắt nhau. Chàng trai đứng lên và đi trước ông già. Tôi ngạc nhiên về cách đi của ông ta: Ông ta ưỡn ngực làm dáng. Nhưng, thấy Stéphanie từ xa đến, tôi không chú ý đến họ nữa, bước tới phía cô. Cô đến, thở hổn hển mặc dù đã đi xe điện. Hai tình nhân của chúng tôi đến bằng ô tô. Họ bắt chuyện với chúng tôi một cách ngượng nghịu... chúng tôi ăn mặc không được thanh lịch lắm. Mọi người rời các con đường lớn, rẽ vào các lối mòn ít ai qua lại. Tới đây, không còn e sợ gì dư luận thiên hạ nữa, cử chỉ và cách nói năng của họ giống như những người đánh xe ba gác. Tôi dự tính sẽ được ăn một bữa cơm trưa ngon lành, nhưng họ lại đưa chúng tôi vào một quán cóc và gọi một đĩa trứng chiên và một ly bia: họ thì không ăn gì. Nửa giờ sau bữa ăn. Tôi vừa nhức đầu hoa cả mắt, vừa bực mình khó chịu vì cử chỉ của mấy tay lẳng lơ này. Tôi bỗng trở nên nóng tính và cà khịa với một người trong họ, chê bàn tay cục mịch vụng về của hắn. Tôi đã từng giao tiếp với các họa sĩ, tôi có dịp học biết cái gì đẹp cái gì xấu. Không biết chắc hành động của tôi có ý nghĩa gì, nhưng tôi nói với hắn là bàn tay hắn có mùi nhà quê và tôi gí bàn tay tôi vào mũi hắn:
- Đây là một bàn tay quí tộc...
Rồi tôi chế giễu dáng đi của hắn, cái mông quá khổ đối với một người đàn ông. Tôi vừa nói vừa kèm theo một cái nhìn kinh tởm, nói tiếp:
- Tôi vừa mời gặp một tên lưu manh đẹp trai. Có lẽ hắn ta mặc bộ đồ trang nhã này của anh thì hợp hơn!
- A! Hắn kìa!
Tôi kêu lên khi thấy gã thanh niên ung dung đi đến. Có thể nói đó là một con ngựa non chưa đóng móng... Tôi biết khá rành về ngựa non. Ba tôi có một thời gian dài giúp việc cho một người nuôi ngựa và mỗi khi tôi mang thức ăn cho chúng ông đều chỉ cho tôi những chú ngựa non khiến tôi chú ý đến những phẩm chất của chúng. Stéphanie kéo tay tôi sang lối đi bên cạnh:
- Im đi, anh tớ đó, có thể anh ấy đi về phía chúng mình...
Nhưng tôi đã bốc lên rồi. Cơn nhức đầu giựt mắt tôi và tôi thấy nhói ở thái dương. Tôi thấy mình có thể chửi gã ấy, miễn mình để cho người ta kéo vào bụi rậm. Cơn bực tức cứ dâng lên, dâng lên...
- Nghe này, Stéphanie, mình không muốn người ta thấy mình đi với một kẻ có những bàn tay bàn chân như thế... mình sẽ mất thanh danh...
Tôi để họ đứng như trời trồng ở đó. Stéphanie còn nhìn tôi một chốc, sửng sốt, rồi theo tôi, không biết nên cười hay giận.
- Cậu biết không, cậu là người ngạc nhiên khi tớ coi chúng là những tên lưu manh...
Cái tay thô lỗ đó không dám ló mặt ra đường cái với bọn mình vì mình ăn mặc lôi thôi... Nếu mình diện thật sang vào như mấy đứa lẳng lơ, chúng nó sẽ hãnh diện trước mọi người khi được đi với chúng mình, đằng này chúng đỏ mặt vì những bộ đồ rách rưới này... À này, tớ đã muốn cho chúng thấy có những cái đê tiện hơn những quần áo rách rưới. Tớ đã thực sự thích thú khi làm cho cái tên thô lỗ đó tái mặt vì tính kiêu căng bị tổn thương; hắn không biết phải giấu mặt mũi ở đâu nữa... Nhờ vẻ đẹp, tớ đã ngồi mẫu, khi làm nữ thủy thần, khi là công chúa, tớ không muốn bị sỉ nhục vì những con người có thái độ như thế... Stéphanie, mà có lần tôi đưa đến các họa sĩ để nó tìm việc ngồi mẫu, nhưng đã thất bại, bực mình:
- Ô! Mấy tay họa sĩ của cậu cũng là những tên vô lại, con nhà bán tạp hóa hay hàng thịt thôi...
- Đúng đấy, cả giọng nói, cả cung cách họ đều không giống các sinh viên, nhưng mình phải nghe khi họ nói về cái đẹp. Một hôm, khi họ qua nhà một người hàng xóm, thảo luận về những cụm mây trong một bức tranh: họ tức tối nhau rồi lại dịu dàng với nhau. Rồi, vì có những đám mây to hiện đến, họ lại kéo nhau ra cửa sổ thảo luận... Sau đó, khi tất cả đã ra về, tớ hỏi anh họa sĩ rằng có cái gì hiếm lạ trong những đám mây. A! Anh ta đặt bảng màu xuống, bắt tớ đứng chết trước cửa sổ rồi, trong suốt phần còn lại của buổi vẽ, anh giảng cho tớ tại sao nó đẹp.
Đến lượt tôi, tôi đứng trước mặt Stéphanie, ngẩng đầu lên, chỉ cho nó bằng ngón tay cái:
- Cậu thấy đó, nó lờ mờ, nó mềm mại, nó mạnh dạn, cái xanh này với cái xám này hòa hợp nhau, rồi tách biệt nhau một cách tuyệt diệu...
- Đồ ngu, đó là những đám mây đem lại một trận mưa rào, và cậu, cậu không thể thấy gì khác hơn tớ, còn mấy tay họa sĩ của cậu là những người “dở ông dở thằng”.
- Tớ cóc cần!... Khi họ nói chuyện với tớ như thế, tớ không muốn rời xưởng vẽ của họ nữa... Nếu có anh chàng họa sĩ nào muốn lấy tớ làm vợ bé, anh ta có thể tin cậy nơi tớ, tớ không phản bội anh ấy đâu... Nhưng họ không nghiêm túc đặt vấn đề với tớ, tớ quá nhỏ và gầy: tớ chỉ có một mét sáu còn vợ họ cao ít nhất một mét tám, và những cặp đùi... Thôi để xem...
Stéphanie dẫn tôi về nhà mình, mà ở đó suốt ngày sự chán ngấy và buồn nôn làm tôi phát sốt. Nhưng tối đến, hết đau hẳn, sau khi rửa mặt mày và chải mấy lọn tóc vàng, tôi lại trẻ đẹp rạng rỡ ra để đi dự buổi dạ vũ sinh viên được tổ chức trong một khu công viên.
Mỗi khi tôi không ngồi mẫu hay không có thảm để thêu vá, tôi lại lang thang ngoài phố với cô bạn. Tôi không thể nào ở nhà được vì mẹ tôi cố tình quấy rầy tôi trong cái xó nhỏ mà tôi rút vào để đọc sách hay chăm sóc dung nhan, với lý do tôi hay xa gia đình. Stéphanie có đuôi tóc giả sau lưng; tôi thì mấy lọn tóc vàng tôi buộc lại với mảnh ru băng. Nón chúng tôi là những đồ vật lạ lùng; vì không có dù, chúng phải gánh chịu tất cả những thứ gió mưa; luôn luôn chúng tôi cứ phải sửa sang chúng lại. Chúng tôi nối thêm vào váy một cái đuôi dài kéo lê trên các vỉa hè và những con đường bùn sình. Chúng tôi nép dưới những cổng tam quan hay sau một gốc cây trong công viên, chúng tôi thoa mặt bằng phấn viết vì gương mặt nhợt nhạt mới ra vẻ tao nhã. Chúng tôi gấp ve áo cánh lại để làm nổi bật phần ngực lên. Tôi cố gắng ấp úng nói tiếng Pháp được chừng nào hay chừng ấy, chú ý nhất cách phát âm. Thường bọn đàn ông hay đi theo chúng tôi trong những con đường hẻo lánh. Họ đuổi kịp, nhưng tôi từ chối mọi đề nghị. Stéphanie thì chấp nhận. Nếu là ở trung tâm thành phố, tôi đợi nó ở phòng tranh Bortier, ở đó tôi đọc một ít trang trong các sách ở mỗi kệ. Nếu nó trở lại trễ, tôi đánh một vòng qua chợ hoa mà mùi hương quyến rũ tôi hơn màu sắc. Thường thì nó cười thoải mái mỗi khi trở lại gặp tôi và cùng nhau ăn một ít bánh hay nghêu sò ở dưới tầng hầm của Công trường Lớn. Rồi chúng tôi đến Chợ Cũ mua đôi giày hay chiếc váy cho Stéphanie.
- Keetje, cậu biết không, cậu ngốc quá, không biết thừa cơ hội... mua cho cậu một đôi giày tử tế.
- Không, tớ đã thề rồi.
- Cậu thích mang giày úng nước và tuyết cùng với mấy cái dằm xóc vào ngón chân như hôm nọ hơn à?
- Tớ không muốn bán thân nữa.
- Nhưng mà chính cậu cũng làm việc ấy với người tình của cậu đó thôi, lại là không công!
- Hai việc không giống nhau.
- Giống chứ!
- Không!
- Cậu cắt nghĩa đi xem!
Tôi không biết cắt nghĩa, nhưng, với tôi không phải giống nhau... Rồi tôi suy nghĩ. Tôi có quyền để lũ trẻ thường xuyên không có bánh ăn và không trả được tiền thuê nhà trong khi tự tôi hiến không thân mình cho người mà tôi thích?... Thế là, tối đến, tôi bảo Stéphanie đến nơi hẹn nói vời người tình của tôi rằng tôi không muốn “tới lui” với anh ta nữa, và, trong mấy tháng liền, tôi có những lần “lên cơn sốt đạo đức” dữ dội.Cái khó là đối với mấy chàng họa sĩ: hầu hết họ đều muốn tôi buông thả cho họ, nếu tôi từ chối, họ trở nên khó chịu và thường bỏ dở bức tranh.
Naatje, mười bốn tuổi, không quay lại xưởng anh chàng điêu khắc nữa, vì những ám ảnh của anh ta. Anh ta than phiền với một người bạn đang tạc một tấm huy chương bán thân lấy tôi làm mẫu rằng em tôi đã bỏ anh ta.
Quay sang tôi, anh nói rằng:
- Chắc rồi cô cũng sẽ bỏ lửng bạn tôi như thế thôi. Nhưng rồi em cô sẽ phải trả giá đắt đây, tôi sẽ kể chuyện này với tất cả các nghệ sĩ và em gái cô đừng hòng có ai mới ngồi làm mẫu nữa đâu!
- Nhưng, thưa ông, nó đã không làm cho ông lúng túng khó xử nếu ông đã để cho nó yên thân. Nó đến nhà ông để làm việc chứ không phải để làm món đồ chơi cho ông.
- Này anh bạn, anh chàng kia nói, nếu cô bé không muốn. ta không nên nài ép; nếu nó đồng ý thì là chuyện khác.
- A! Chính thế đấy... Tôi không thể làm việc nếu không ngủ với người mẫu... Vả lại, tại sao không? Chuyện đó có gì hại cho cô bé đâu?

Hein đã được mười sáu tuổi và học nghề đóng thùng xe. Từ mùa xuân, nó có vẻ lanh lợi hơn, người thẳng hơn và đôi mắt to ra. Tối đến, đi làm về, nó vội vã ăn, rửa mặt mày qua loa rồi đi chơi. Ngày chủ nhật, nó tắm rửa cẩn thận hơn, thoa kem chải tóc, nắn nót hồi lâu chiếc cà vạt mỏng mà nó không thể nào thắt được như ý muốn. Nó về trễ bữa cơm tối. Tôi đau đầu vì những lo toan cho cả cái gia đình mà tôi phải nuôi, nên tôi không quan tâm đến những thay đổi của Hein. Nhưng đến mùa xuân, nó đòi bánh mì kẹp thịt để mang về nông thôn và, thay vì năm mươi xu tiền túi, nó đòi bảy mươi lăm. Tôi hỏi mẹ tôi việc gì đã xảy ra. Bà trả lời, vẻ lo âu, rằng nó yêu một cô con gái mười lăm tuổi ít lâu nay bị ho khúc khắc và ngày chủ nhật phải về nghỉ dưỡng sức ở nông thôn.
Trong tuần, nó không thể đi vì bận làm việc. Mẹ cô ấy lại góa, họ phải may giày cho trẻ sơ sinh để sống: những đôi giày nhỏ tuyệt đẹp bằng vải bọc ghế trắng, bằng sa tanh... Họ làm từng chục mười hai và cặm cụi cả tuần không có thời gian ngước mắt lên, cũng như thời mẹ là thợ làm ren... Họ ở trong một căn phòng nhỏ ngoài sân, vì cái nghề ngộ nghĩnh đó gần như không mang lại thu nhập gì đáng kể.
- Nhưng sao mẹ biết rõ tất cả những chuyện đó? Có phải Hein đã thổ lộ với mẹ không?
- Không, nó gần như không nói gì hết, sợ mẹ cười nó. Mẹ con bé đã đến đây gặp mẹ. Nó ho mấy tháng rồi, bác sĩ bảo nó cần phải đổi gió nhưng con nghĩ làm sao được? Phải sống đã chứ. Cho nên sáng chủ nhật hai mẹ con về đồng quê, mang theo thức ăn. Nhưng con bé không muốn đi mà không có Hein. Bà ấy đến đây hỏi mẹ có cho phép con trai đi theo họ không.
Bà nói họ là những người đàng hoàng và sức khoẻ con bé tùy thuộc vào việc này. Vì họ rất nghèo nên Hein phải mang bánh mì theo. Bà mời mẹ uống cà phê nhờ đó đã hiểu biết nhau nhiều hơn.
- Sao mẹ không nói gì với con hết?
- Ô! Thời gian đâu mà nói chuyện! Con vừa về là tách riêng vô phòng đọc sách...
Những ngày chủ nhật Hein được về nông thôn, nó sung sướng lắm. Khoảng tám giờ tối nó về nhà, mặt mũi hồng hào làm căn phòng sực mùi thơm cây cỏ. Nó không đi chơi nữa. Nó thường mơ mộng suốt buổi tối hôm đó. Dường như nó nói chuyện với ai đó, đặt câu hỏi và nghe trả lời cho nên nó cười và mấp máy môi.
Những lần khác, nó lấy một cuốn tập lốm đốm vết dơ vẽ ô tô, xe bò, cáng cứu thương, đầu máy xe lửa.
Một tối nọ, chúng tôi ở nhà một mình, tôi mon men lại xem nó vẽ cái gì.
- Hein, em đã tiến bộ, nhưng cũng làm việc nhiều đấy.
- Muốn thạo nghề, em phải biết rõ về nó và làm được một chiếc xe tốt là rất khó. Em phải học cơ khí. Em không muốn là một người khờ vô tích sự và khi có gia đình, em phải nuôi được vợ con chứ.
- Chị nghĩ là em khùng mất rồi: em mới có mười sáu tuổi!
Nó cười:
- Đúng là em làm việc cho mai sau. Nhưng chính bây giờ là em phải học cho sau này. Chị tưởng em muốn nuôi con em trong đói rách như chúng mình đã từng trải qua sao?
- Không phải vì ba không biết làm ra tiền nên chúng ta bị đói khát mà vì gia đình mình đông quá: chín đứa con, buồn cười thật!
- Nhưng biết làm sao được khi có một người vợ mà mình yêu thương?
Nó đỏ mặt cúi đầu: tôi cảm thấy một gợn sóng ham muốn chạy qua người nó. Nó ngước mắt nhìn tôi:
- Làm thế nào để đừng có quá nhiều con như vậy, vì con, em cũng muốn có chứ...
Nó nhìn tôi, ngây thơ. Tôi cảm thấy nó trong trắng làm sao. Tôi im lặng, xấu hổ trước mặt nó vì nhưng hiểu biết của mình.
Một tối, nó reo lên:
- Xong rồi...
- Gì thế?
- Đây này.
Nó chỉ tôi xem hình vẽ của nó:
- Phải mất bốn người để quay cái mâm bánh xe. Với máy này, mà em mầy mò làm thử lâu nay, chỉ cần một người là đủ. Em sẽ đưa ông chủ xem.
Một chủ nhật, tôi đeo một cà vạt màu xanh biển, nó bảo tôi:
- Ê! Đây là cà vạt nam, nó hợp với em hơn. Chị nhìn này, cái của em thực ra là một sợi dây!
- Đúng, nhưng rồi chị sẽ thắt cái gì?
- Chị còn một cái trâm.
- Đúng. Lại đây chị thắt cà vạt cho.
Khi tôi thắt xong, nó đứng trước tấm gương nhỏ, ngắm nghía hài lòng.
- Chị thấy cổ em có quá dài không?
- Không đâu, cổ dài trông đẹp.
- A! Đẹp... vậy mà em không biết.
Cả mùa hè đó, Hein sống những ngày hạnh phúc nhất trên đời.
Tôi ngày càng gần gũi nó. Những tối chủ nhật của chúng tôi rất thú vị: tôi đọc sách, nó vẽ. Nó có đôi tay dài và thon, mảnh khảnh, khéo léo mà tôi cho đó là một dụng cụ tuyệt vời...
Khoảng mùa thu, nó trở nên buồn. Một buổi tối, tôi bảo nó:
- Nào, nói chuyện với chị đi!
Nó khóc:
- Cô ấy ho rất nhiều còn thời tiết ở nông thôn thì quá xấu.
Đến mùa đông, người ta đưa cô bé vào bệnh viện. Hein vào đấy mỗi chủ nhật rồi về nhà bệnh suốt ngày. Cô bé chết vào mùa xuân. Sau đám tang, nó đóng cửa tự giam mình trong căn phòng nhỏ với cái ghế dài cũ của tôi. Người ta nghe nó rên rỉ như một bé gái vậy.
Tôi cảm thấy kiệt quệ và sợ phải trở vào bệnh viện: những điều kiện làm việc đã vắt kiệt sức tôi. Tôi dậy vào lúc bảy giờ rưỡi và mặc quần áo, nhưng mẹ tôi chưa pha cà phê. Cái ấm bốc khói nhưng nước không muốn sôi, hoặc là Kees đi mua bánh mì chưa về… Tóm lại, là thường thường tôi phải mang bụng đói đi làm.
Tôi luôn luôn phải đi làm thật xa vì chúng tôi thì ở sát vùng ngoại ô bình dân và hầu hết các họa sĩ đều ở tút nút phía bên kia thành phố. Mùa đông, mùa tôi ngồi mẫu nhiều nhất, tôi phải đi bộ hàng giờ, không áo khoác ngoài, dưới mưa tuyết và giá băng. Đôi khi không đi nổi vì có một cái đinh trong giày đâm vào lòng bàn chân rất khó chịu. Bít tất thì luôn luôn ướt không có cái thay. Thế nên, đến nơi tôi vã mồ hôi, mắt long lanh, mặt đỏ rần... Rồi lại phải bỏ hết áo quần ra, trong tư thế đứng hay quì trên một đầu gối. Trong chốc lát, tôi run lập cập, rùng mình rồi tái xanh như một xác chết. Cả mùa đông tôi không hết ho, và cứ mỗi khi ho, người tôi lay động làm trở ngại nét vẽ trên bức thảm. Các họa sĩ rất kiên nhẫn - chỉ có một bà đã đuổi việc tôi vì tôi ho. Tôi thấy mình gợi cho họ sự thương hại xót xa. Nhưng thường họ cũng là những người nghèo khó, quá ít tiền để lãng phí. Đôi khi, họ dời buổi ngồi mẫu lại một hôm khác. Trưa lại, tôi dùng thường nhất là bánh mì phết bơ với một ly bia hay cà phê. Chỉ ở nhà một vài hoạ sĩ mới có cá mòi hay phó mát. Khoảng bốn giờ, tôi trở về nhà. Khoai tây luộc từ buổi trưa, mẹ tôi để chừng mươi củ trong một cái đĩa, đổ nước xốt bột lên trên. Bà để trên lò, không đậy nắp. Đến xế chiều, Dirk thó một củ; đi học về, Kees thó một củ nữa, rồi Naatje một củ khác; ngay mẹ tôi thỉnh thoảng cũng vớt một củ, vì nghĩ rằng buổi trưa tôi đã ăn đầy đủ ở nhà họa sĩ rồi. Khi tôi về, chỉ còn ba hay bốn củ khô khốc dưới lớp bột. Bữa ăn chiều của tôi đó. Tôi nổi cáu hoặc nài nỉ mẹ luộc cho vài củ tươi cho tôi lúc đi làm về.
- Nấu riêng cho cô à, không bao giờ!
- Vậy thì ít ra mẹ cũng bảo chúng nó đừng lấy bớt của con hay có lấy rồi thì đậy nắp lại: hơi nước giữ nó được tươi.
- Cô rắc rối quá, nếu không muốn ăn thì cho người khác: họ không có làm cao đâu!
Tôi thường làm như vậy. Tôi đưa cho Naatje mười lăm xu sai nó đi mua một lát mỡ nhỏ mà tôi ăn sống luôn còn hơn là ăn bánh mì thô rắc muối tiêu. Thêm vào đó, một tách cà phê hay nước rau diếp hâm lại. Khi đôi bít tất của tôi quá bẩn, tôi phải giặt vào buổi tối để kịp khô sáng hôm sau. Mẹ tôi muốn tôi phải làm cả việc giặt giũ, kỳ cọ sàn nhà. Tôi giải thích mãi mà bà không hiểu rằng tôi phải dùng bàn tay để làm mẫu nên phải chăm sóc nó: bà không hiểu được điều đó.
- Mày bịa ra những chuyện đó để khỏi phải động đến móng tay.
- Theo tao, nếu bàn tay mình đỏ mà muốn nó trắng, chỉ việc tô màu trắng...
Tôi tức nghẹn đi trước những lý lẽ ngang trái như vậy.
Tôi vào làm việc tại nhà một người Đức chuyên vẽ những bức tranh sinh hoạt nhỏ để sống. Xen kẽ thời gian, anh đầu tư cho một bức tranh lớn, một tác phẩm quan trọng. Tôi ngồi mẫu cho những bức tranh nhỏ. Một cô gái áo dài hồng hay xanh da trời, những lọn tóc vàng xõa xuống sau lưng, ngồi trên một đụn cát nhìn ra biển, hay mơ mộng trong chiếc ghế bành, hay với mũi chiếc dù vẽ tên mình trên cát: cô gái ấy, chính là tôi. Một buổi sáng tôi đến, người ướt đẫm đến nỗi, sau khi tôi cởi áo ngực, anh họa sĩ thốt lên. Da tôi tím ngắt vì chiếc áo ngực ướt lan màu ra trên đó.
- Trời! Em không thể ngồi mẫu trong tình trạng này được. Và anh đứng lên, khoác lên người tôi chiếc áo sơ mi và chiếc quần đùi của anh. Ngoài, tôi mặc chiếc áo dài hồng, ngồi trên chiếc ghế đẩu phủ tấm lụa lớn màu vàng trải rộng dưới mặt đất để phản chiếu màu cát biển lên áo và cổ tôi.
Hai hôm sau, tôi không phải đến nhà anh vì anh bận với bức tranh lớn, với một người mẫu ăn mặc theo kiểu phương Đông. Khi tôi trở lại ngày thứ sáu, anh ta cáu kỉnh không dễ thương như thường lệ. Bỗng nhiên anh đặt bảng màu xuống, đi về phía tôi, hơi mạnh tay nâng đầu tôi lên và nhìn tôi một hồi lâu...
- Không, không phải em...
- Gì thế?
- Người ta lấy mất của tôi ba đồng tiền vàng để trong ngăn kéo để mở của cái bàn viết kia. Tôi để đó hôm thứ hai và chỉ phát hiện hôm qua rằng chúng đã biến mất... Chỉ có em và cô ta vào đây, nhưng chắc không phải là em, anh vừa nói vừa chỉ vào cô người mẫu Đông phương trong bức tranh lớn.
- Cũng không thể đổ cho cô ta được: vì người ta đã rửa xưởng, đốt lửa, ai biết được? Nhưng tại sao ông lại vứt tiền vàng lung tung trên bàn ghế?
- Tại sao?... Cái đó có thể cám dỗ em à?
Nhưng anh liền tiến về phía tôi:
- Không, em không thể bị cám dỗ... Nhưng, nếu là anh mà bị ướt sũng như em hôm đó thì anh đã vào tù lâu rồi!
- Em thà chết đói chết khát hơn 1à làm một hành vi có thể đưa em vô tù, bởi vì làm như vậy em tự thấy nhơ nhuốc suốt đời, vô phương cứu chữa.
Một lần khác, tôi đến nhà một người Anh sau những cơn gió tuyết mạnh. Anh rất thích mái tóc của tôi: anh chải đi chải lại. Vào nhà, tôi cởi giày: anh đặt nó trên lò sưởi để sấy cho khô. Lò sưởi gần như không còn lửa. Tôi ngồi mẫu... Đến lúc nghỉ, tôi thấy một chiếc giày há mỏ ra như một người đang ngáp, còn một chiếc khác thì đế bị cháy đen. Tôi bật khóc. Anh họa sĩ cảm động, cho tôi hai mươi quan để mua đôi khác. Dĩ nhiên, tôi chỉ mua một đôi mười quan, còn mười quan kia tôi đưa về nhà.
Tôi không bán mình nữa. Tuy nhiên, vào những ngày đói rách hay những lúc không tìm được việc làm ở đâu, tôi lại đến nhà anh họa sĩ người Anh đó. Anh hai mươi bốn tuổi. Không để lộ ra ngoài nhưng tôi rất yêu anh ấy. Tôi đáp rất đúng sở thích của anh. Lúc tôi gõ cửa, anh như người đã đợi từ lâu, liền ba chân bốn cảng xuống cầu thang mở cửa và ôm chặt lấy tôi như một gã chết đói. Lúc về, anh đưa tôi từ bảy đến tám quan, đủ cho gia đình tôi sống trong ba ngày.
Một bà, cùng học hoạ với tôi, nhờ tôi mua hộ bà một ít trà trong một cửa hàng Nhật. Nhìn những đồ mỹ nghệ, tôi không thể không mua một món đồ chơi năm mươi xu, rất xinh đẹp. Kỹ xảo tinh vi, tặng nó cho đứa con trai bà. Cả gia đình reo mừng vì tôi có khiếu chọn một món đồ đúng thẩm mỹ như thế. Suốt buổi sáng hôm đó, tôi xấu hổ và buồn...
Một lần khác... Trong khi tôi ngồi mẫu, chồng bà, mặc áo ngủ, đến ngồi trong xưởng vẽ của vợ. Con gái họ học đàn ở phòng bên cạnh. Bỗng tôi nghe một nốt nhạc rất sai. Tôi giật mình kêu:
- Ồ!...
Ông nhìn tôi, ngạc nhiên:
- Sao? Cô cũng biết nghe nhạc à...
Cũng biết!... Rõ ràng những người này cho chúng tôi là những con người hoang dã... Cũng biết!...
Tất cả những cái đó làm tôi bực bội khó chịu.
Một bà sang trọng, vẽ tranh vào những lúc nhàn rỗi, có cảm tình với tôi. Vào dịp chịu Thánh lễ đầu tiên của Naatje, bà mua mấy cái áo dài tặng cho nó và cho tôi.
Một hôm, tôi nói với bà là tôi tha thiết muốn học một nghề.
- Cháu có chồng rồi hả, Keetje?
Tôi rất hiểu bà. Tuy nhiên tôi không nghĩ là mình nói dối khi đáp “không”.
- Vậy bà sẽ cho cháu học tiếng Pháp để sau này bà tuyển cháu làm nhân viên bán hàng.
- Ô! Thưa bà! Ô! Thưa Bà! Tôi khóc.
Rồi bà giao cho chị gác cổng đi tìm cho tôi một thầy dạy tiếng Pháp.
Chị này tìm được trong số bạn bè mình một bà lớn tuổi chưa chồng, nhận dạy tôi hai bài một tuần, với số tiền hai mươi quan mỗi tháng. Bà cho tôi viết chính tả và bắt tôi học thuộc lòng các động từ, nhưng không giảng gì cả.
- Cuối tháng thứ nhì, sau khi nhận hai mươi quan để trả tiền học, tôi về nhà, đồng tiền vàng gói trong một tờ giấy. Bấy giờ là mùa hè: trong thành phố hiếm có hoạ sĩ và tiền nhà thì phải trả... Ba mẹ tôi nói ngon ngọt thế nào mà cuối cùng tôi đưa họ cả hai mươi quan đó. Hôm sau, bà giáo ngạc nhiên vì chưa thấy tôi trả học phí bèn đến hỏi chị gác cổng. Buổi học sau, bà hỏi tôi:
- Cháu đã nhận tiền rồi phải không?
Tôi đỏ mặt đáp: “Dạ”. Bà không nài hỏi nữa.
Tối lại, tôi viết thư cho bà chủ, lúc này đang ở trong lâu đài của mình, rằng tôi đã lấy tiền công cô giáo để trả tiền thuê nhà cho gia đình tôi, và rằng tôi đã không nói sự thật khi trả lời bà là tôi chưa có chồng.
Tôi nhận được ngay thư bà trả lời, đại khái rằng đáng lẽ tôi phải thú nhận với cô giáo là tôi đã trả tiền nhà cho gia đình bằng tiền của bà ấy, điều ấy không có gì là xấu hổ hết; rằng tôi có thể viết tiếng Pháp tốt hơn vì tôi đang được học, nhưng tôi phải hiểu là từ nay bà ấy không thể chăm lo cho tôi được nữa...
Tôi hoàn toàn mất căn bản, ngay trong tiếng mẹ đẻ của tôi: mẹ tôi cho chúng tôi đi học ít quá. Tôi không có một khái niệm thế nào là một động từ, một tính từ, một danh từ. Cô giáo đã nhờ chị gác cồng tìm được chỗ dạy khác, không nói gì về tôi nữa, và những buổi dạy tí chút gọi là ấy chỉ kéo dài hai tháng...
Ngay mấy cô con gái của bà chủ bảo trợ tôi, mười bảy và mười tám tuổi, cũng viết chưa đúng tiếng mẹ đẻ mặc dù họ học từ lúc lên mười. Riêng về việc “có chồng”, điều này khiến tôi không xứng đáng để tiếp tục được học... Bà bảo trợ của tôi, còn trẻ, là tình nhân của chồng người bạn thân nhất của bà, và chính chồng bà lại là tình nhân của bà ấy. Luôn luôn họ sống với người này tại nhà người kia và gần như phá sản vì những tiệc tùng xa hoa tổ chức tại nhà họ hay tại các khách sạn. Nhưng, vào thời bấy giờ, tôi không phán xét bà: tôi chỉ kể đến những gì bà muốn làm cho tôi. Vì bà thích hoa cúc lam, nên trong nhiều năm sau, cứ đến mùa, là tôi đi hái từng ôm ở những cánh đồng đằng sau Laeken tặng bà.
- Của ai tặng đây? chị gác cổng hỏi khi tôi mang hoa đến.
- Bất cứ... trước hết, chị hãy ngâm hoa trong nước một giờ, để biếu bà chủ cho tươi...
Một tối mùa đông, về nhà khoảng năm giờ, tôi thấy bức thơ của một bà họa sĩ bảo tôi đến nhà bà ta trước sáu giờ. Phải đi qua tận bên kia thành phố. Tôi lại ra đi ngay và tôi đến nơi vã cả mồ hôi, mặt đỏ bừng, hồ hởi, kịp giờ hẹn. Trong hành lang, tôi gặp một ông mỉm cười với tôi. Nhưng tôi quá bận nên không chú ý. Tôi bàn bạc với bà. Bà rất thích tôi. Bà sắp vẽ một bức tranh lớn với tôi... Sộp quá! Sẽ có việc làm trong một thời gian dài... Khi tôi bước ra, hai thanh niên theo gót tôi. Từ ửng hồng vì đã chạy, má tôi tôi trắng bệch ra. Tôi run lập cập: tôi chưa ăn gì từ trưa đến giờ. Một trong hai anh chàng trân mắt nhìn tôi: đó là một chàng cao to, ăn mặc chải chuốt, tóc vàng, mắt nâu. Anh chàng đã mỉm cười với tôi trong hành lang là người Do Thái, da sẫm. Anh tiến nhanh đến và mời tôi đi ăn. Tôi nhận lời.
Anh tóc vàng còn giữ kẽ, đứng xa xa. Đến trước cửa, tôi quay lại hỏi:
- Còn bạn anh?
- Nào! Cả ba, ta cùng đi!
Ba chúng tôi bước vào. Lát sau anh da sẫm cáo từ còn anh tóc vàng mời tôi ăn tối.
Đây là lần đầu tiên tôi đến nhà hàng. Tôi không biết xử sự thế nào, cách cầm muỗng ra sao... Tôi sử dụng nó như trẻ con, rồi con dao làm tôi lúng túng và tôi cầm nĩa tay trái... Sau cùng, tôi quyết định ăn bằng dao vì nghe nói như thế là lịch sự. Anh nhìn tôi xoay xở. Rõ ràng anh ta thấy khó chịu. Thế là tôi chọn cách quan sát xem anh làm thế nào: tôi bắt chước, mọi việc suôn sẻ.
Sau bữa ăn, chúng tôi đi xem phim Les Cloches de Corneville. Anh bạn mới của tôi là người Đức, nói tiếng Pháp gần tệ như tôi. Tôi cảm thấy anh kém kinh nghiệm, gần như hãnh diện được đi chơi với phụ nữ. Cho nên, trên đường đưa tôi về nhà, anh đưa tôi vào khách sạn. Tôi vào không khách sáo... Tôi nhận thấy rằng anh chàng nước ngoài này, như các bạn mình, muốn có một tình nhân; rằng bạn anh đã bảo anh “Tớ lo việc ấy cho cậu”; rằng nếu không chiều ý anh ta, tôi sẽ phá hỏng một việc đã được bắt đầu tốt đẹp và nay mai, anh sẽ hướng về một người đàn bà khác và không nghĩ đến tôi nữa... Lại thêm đôi mắt, mái tóc vàng và cái tên rất đẹp - Eitel - của anh. Khi đưa tôi về đến nhà vào lúc hai giờ sáng, anh mời tôi hôm sau lại đi ăn tối với anh. Tôi tin chắc rằng tôi đang ở ngưỡng cửa một cuộc đời hoàn toàn khác trước.
Hai kỷ niệm tuyệt diệu về thời kỳ đó còn đọng lại trong tôi. Một, là về Albert, con trai một vị tướng. Anh biết ban đêm tôi làm gì ngoài đường. Ấy vậy mà trong thái độ xử sự của anh, tôi không hề cảm thấy mình bị coi thường. Anh lịch sự cất mũ mỗi khi bắt chuyện với tôi và khi anh tưởng rằng anh đã sinh ốm vì tôi anh vẫn để tôi yên, không nói gì. Một tối, tôi gặp anh trong một cuộc dạ vũ sinh viên. Anh tỏ ý tiếc rằng tôi đã tới nơi đây trong dịp này, rằng tôi đã không còn như trước nữa về mọi phương diện.
Tôi đã tập được cái giọng nói sang sảng. Tôi cười, tôi đùa thoải mái. Phải chăng, anh muốn bảo rằng nghề nghiệp hoàn toàn không có gì quan trọng, nhân cách mới là tất cả? Vì thế, khi thấy tôi buồn bã nhìn anh, anh nói:
- A! Cái nhìn này, vẫn còn là cái nhìn của em!...
Cái đầu óc đáng thương của tôi bỗng bối rối, hồi hộp. Tôi không hiểu. Tôi không thể hiểu được làm sao tôi lại “có giá hơn, đáng yêu hơn” trong khi tôi phải đi chài đàn ông để sống? Tôi đâm ra đờ đẫn, cảm thấy mình không nên tiếp tục cuộc sống gọi là phục hồi nhân phẩm này nữa.
*
* *
Kỷ niệm thứ hai là về một học sinh trung học mười sáu tuổi. Stéphanie là tình nhân của một sinh viên vừa học trung học xong. Anh này có người bạn lai Tây Ban Nha, tên là Rodrigue. Rodrigue còn phải ở lại trường khoảng sáu tháng nữa rồi mới vào trường võ bị. Anh bạn của Stéphanie đưa anh ấy đến và chúng tôi cùng đi chơi chung với nhau trên những con đường vắng ngoại ô.
Đến một đoạn đường dốc, chúng tôi chạy nhanh để xem ai xuống trước. Tôi vốn nhanh nhẹn như dê nên thường thường là người đến đầu tiên. Nhưng Rodrigue đã tới trước tôi, anh ngoái mặt nhìn. Với hàm răng người Tây Ban Nha lai Maure, đôi mắt to, mái tóc đen nhánh, anh cười với tôi, vẻ chiến thắng. Chúng tôi vào những quán cóc ngoại ô, uống một ly “brune”, nhưng trước đó, chúng tôi chụm chân nhảy qua các vũng nước. Stéphanie bực bội vì không làm được động tác nhảy. Nó còn cáu nữa khi bạn tình của nó lại trò chuyện với tôi thay vì chăm sóc nó. Rodrigue bèn cầm tay tôi lắc lắc, mắt sáng long lanh, bảo tôi:
- Mặc họ!
Và anh muốn hai chúng tôi hoặc đi sau hoặc đi trước, để tách riêng họ. Anh khoác tay tôi, nghiêng đầu sát mặt tôi, hơi thở phả vào má, nói chuyện. Anh vô cùng hãnh diện được nói chuyện với tôi.
- Em không giống các cô gái khác tí nào cả. Chơi với bọn gái làm tiền kia mà làm gì?... Em giống như cô em họ của anh. Anh cũng kể tất cả về nó...
Anh ta mồ côi. Mẹ anh người Tây Ban Nha, giám hộ của anh muốn anh vào trường võ bị.
- Em sẽ thấy, rồi anh sẽ lên cấp tướng rất trẻ cho mà xem, bởi đất nước bọn anh trước sau gì cũng sẽ có ngày phải đánh giặc; nếu không anh đã chọn nghề khác rồi, anh không muốn làm một người lính kiểng.
Không bao giờ có vấn đề yêu đương giữa chúng tôi. Tôi, tôi xem anh như Hein hay Dirk. Còn anh... tôi nghĩ rằng anh chưa đến tuổi dậy thì. Chúng tôi không trao nhau những nụ hôn. Một hôm, anh kể với tôi rằng, buổi sáng hôm đó ngồi ăn với các bạn học, anh thấy tôi và Stéphanie đi qua. Các bạn đều cười khi thấy mấy cô gái, còn anh ta thì đỏ cả hai má vội lấy khăn ăn che mặt.
Tôi đã làm quen với anh chàng người Đức và, từ khi được Albert cho biết ý nghĩ của anh về tôi trong đêm dạ vũ, tôi muốn từ bỏ cuộc sống độc thân. Rodrigue mời tôi đi chơi riêng với anh, trước ngày anh vào trường võ bị. Không biết từ chối thế nào, tôi đành nhận lời. Tôi phải gặp anh sáu giờ ở quảng trường trước ga Bắc leo lét vài ngọn đèn. Nhưng đó cũng là nơi mà anh chàng người Đức viết thư hẹn tôi... Cho nên tôi ẩn mình dưới một cái cổng. Anh chàng nhỏ bé đến trước, anh không thể nhìn thấy tôi. Anh bồn chồn, qua qua lại lại, nhìn các góc đường. Vì anh chàng người Đức luôn luôn đến trễ, nên tôi đã thấy rõ Rodrigne có thái độ bực tức. Sau cùng, anh đành rút khăn tay lau nước mắt, ra về.
(Còn tiếp)
Nguồn: Keetje - Gái ăn sương thành nghệ sỹ. Hoàng Hữu Đản dịch. NXB Văn học, 2007.
|