tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
10.03.2020
Trầm Hương
Trong cơn lốc xoáy

Lời tác giả


Năm 2005, bà Jeanne Anna Villarialle, một Việt kiều Mỹ, về Việt Nam, tìm gặp tôi, với ý nguyện được kể cho tôi nghe trải nghiệm cuộc đời gần một thế kỷ của bà. Bà nói Trời sinh bà ra để lặn vào nhiều cuộc đời, chứng kiến những buồn vui, khổ đau, bất hạnh; lúc nếm trải tận cùng đời sống vật chất xa hoa, lúc rơi xuống tận đáy nỗi tủi nhục, thống khổ. Bà bày tỏ ý nguyện được gặp một nhà văn để lắng nghe, đồng cảm; từ đó có sự liên hệ lịch sử, kết nối những số phận cuộc đời mà mà được gặp, dựng nên một tác phẩm văn học. Tôi nói đó là một việc rất khó, rất kỳ công. Bà nói vì đó là việc khó nên bà đã dành cả phần đời còn lại cho ý nguyện này và tôi là người bà tin cậy, gởi gắm. Tôi thực sự lúng túng. Bà nói nếu như ý nguyện đó không hoàn thành, bà không yên lòng nhắm mắt, bởi bà không đành lòng nhìn một thế kỷ đan xen những thân phận con người, gắn với những thăng trầm lịch sử trôi vút đi, tất cả đều bị chôn vùi dưới những nấm mồ, tan vào cát bụi. Trước lời khẩn thiết của bà, tôi không thể nói lời từ chối. Bà động viên: “Ta có cuộc đời, con có tim óc. Ta tin con làm được”.



 


Từ ấy, tôi dùng tim óc của mình cho công việc, nghe bà kể chuyện, ghi chép, tìm đến những nhân mối nhân vật, đọc lại hàng ngàn trang lịch sử đôi khi chỉ để lý giải một vài ẩn số câu chuyện. Gần mười năm ròng rã trôi qua, bà liên tục có những chuyến về Việt Nam và tôi tranh thủ làm việc với bà một cách nghiêm túc, cẩn trọng. Từ sự hóa thân đó, tôi nhận ra không chỉ có “tim óc” mà từ sự đồng cảm, đặt mình vào nỗi thống khổ của nhân vật; tôi nhận ra “máu thịt” cuộc đời mình cũng trộn lẫn trong cuộc đời bà. Thật giản dị để hiểu bi kịch tình yêu và phụ nữ với vẻ đẹp của lòng nhân hậu, đa cảm, hy sinh, chịu đựng luôn là đề tài bất tận của văn học.

 


Mối tình của một người cộng sản với con gái ngài Tổng thuế ba miền Đông dương khởi nguồn cho bi kịch tình yêu. Bà đã đau khổ và hạnh phúc, bất hạnh và thống khổ nhưng bà không hối tiếc. Vì tình yêu ấy bà đã dấn thân, đánh đổi, đã rơi xuống tận cùng địa ngục nhưng bà không chút oán tránh ông vì ông là người đàn ông duy nhất khơi dậy trong bà  những giá trị tiềm ẩn con người, cho bà nhìn thấy cội nguồn bất hạnh của số phận một dân tộc, giúp bà nhìn thấy khát vọng độc lập tự do để dấn thân, đi cùng ông con đường kháng chiến, cùng ông làm  những chuyện mạo hiểm và gian khổ. Vì yêu ông, bà đã dám từ bỏ giai cấp thượng lưu để làm một bà bán gà vịt ngoài chợ Bà Chiểu mà vẫn tràn ngập hạnh phúc…  Trên tất cả, đó là người đàn ông giúp bà cảm nhận sức mạnh tình yêu mà vì nó người ta có thể làm được những điều kỳ diệu lẫn điên rồ. Và  cho đến cuối đời, bà vẫn sống với tình yêu ấy, cho dù bà không phải là người phụ nữ thủy chung theo cái nhìn thông thường của một chuẩn mực xã hội nhất định…

 


Trong mối tình dang dỡ, trái ngang; Jeannette chỉ có được niềm an ủi vì phút cuối cùng cuộc đời Vạn, bà đã ở bên ông. Và những năm cuối đời, bà trở về Việt Nam, dựng nên mái nhà cổ xưa dưới chân núi ở Long Hải, sống cùng ông trong những kỷ niệm tình yêu, với ước nguyện khi chết đi, tro cốt của bà quyện cùng ông, cùng trở về với dòng sông mẹ, không gì có thể chia lìa bà và ông nữa...

 


Mỗi ngày, từ chất liệu máu thịt cuộc đời bà, tôi đã viết, hóa thân bằng tim óc lẫn máu thịt cuộc đời mình. Câu chuyện cuộc đời bà gần suốt mười năm ròng rã  luôn ám ảnh tôi, buộc tôi phải tự đặt kỷ luật cho bản thân mình. Có lúc tôi nãn lòng vì thấy mình đang bơi trong biển khơi của ngồn ngộn tư liệu, trái tim yếu đuối của tôi dường như đập những nhịp quá tải trước những bi kịch cuộc đời của nhân vật. Nhưng vì sự tin cậy, kỳ vọng của bà, tôi đành phải như con ong hút mật, ngày từng chút một…

 


Tiểu thuyết đã xoay quanh chuyện tình của con gái nuôi của ngài giám đốc tổng thuế ba miền Đông Dương và một người cộng sản- sinh viên y khoa năm cuối, nghe tiếng gọi non sông, về Nam, xếp bút nghiên lên đường tranh đấu. Câu chuyện rất dài. Tôi vô cùng cám ơn độc giả vì yêu mến tôi mà chịu khó đọc...

 


Trong những ngày cuối năm này, tôi khẩn trương viết những chương cuối cùng quyển tiểu thuyết vì không thể chậm trễ hơn. Bà đã bước sang tuổi “bát thập cổ lai hy”, đang điều trị bệnh ở Mỹ. Trong gần mười năm cùng bà trao đổi “tim óc” và “máu thịt” để viết “Trong cơn lốc xoáy”; nhiều lần tôi không khỏi chạnh lòng khi tiễn bà ra sân bay, chứng kiến người đàn bà bé nhỏ, đẩy chiếc va-li đồ sộ, bước vào quấy làm thủ tục đi Mỹ. Bà tỏ ra mạnh mẽ, ung dung nhưng tôi không khỏi lo lắng, bất an nghĩ đến hành trình xa xôi, Jeannette tuổi ngoài tám mươi một mình trong lộ trình dài dằng dặc, sang bên kia bờ Thái Bình Dương, nước Mỹ. Hàng năm, bà có đến mấy chuyến đi về. Và ở bên kia bờ đại dương, bà vẫn gọi điện cho tôi kể chuyện, vẫn rất minh mẫn nhớ từng chi tiết. Bà sốt ruột mong từng ngày quyển tiểu thuyết hoàn thành.

 


Tâm nguyện lớn nhất cuộc đời bà là được cầm trên tay quyển tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy”…

 


Ước nguyện lớn nhất cuộc đời bà là làm công dân Việt Nam. Tôi cũng đã từng chạnh lòng khi nghe bà bộc bạch “Tôi chỉ có quê mà không có nước”. Tôi thắc mắc hỏi, bà cười buồn trả lời: “Cho đến bây giờ tôi cũng không biết mình là người nước nào nữa. Tôi là người Việt, pha trộn nhiều dòng máu nhưng mang quốc tịch Pháp, rồi sau đó là Mỹ. Tôi xin hồi hương nhưng Nhà nước Việt Nam không chấp nhận vì tôi không hề có được giấy khai sinh ở Việt Nam dù mở mắt ra, rôi đã nhìn thấy ngọn dừa, ao rau muống. Nhưng rõ ràng tôi có một miền quê. Bà ngoại tôi là người khai sinh ra thương hiệu “nem Thủ Đức. Tôi chỉ có quê hương duy nhứt là Thủ Đức. Và Tổ quốc duy nhất là Việt Nam”. Từ tình yêu của Jeannette- con gái một quan Tổng thuế ba miền Đông Dương  dành cho Vạn- một người cộng sản, tôi hiểu được ước nguyện sâu thẳm của bà…


 


Và còn có một nhân vật quan trọng, đã thúc đẩy Jeannette về Việt Nam, kiên trì tìm gặp một nhà văn để viết quyển tiểu thuyết về cuộc đời bà. Đó là linh mục Nguyễn Đình Thi (1934-2010)- một trí thức công giáo yêu nước chân chính đã dành trọn đời mình vì hòa bình độc lập và phồn vinh của Tổ quốc,  vì hạnh phúc của nhân dân. Ông là vị linh mục luôn muốn có mặt ở khắp mọi miền đất nước, dấn thân vào những nơi khó khăn nhất, đến với những cuộc đời bất hạnh với lòng nhân ái, vị tha vô bờ bến. Vị linh mục từng làm nhiều người xúc động vì lời tâm sự chân thành:“Mình sinh ra trần truồng, nay mai chết đi cũng trần truồng”. Vì sự dấn thân và tinh thần vị tha đó, ông được bầu làm chủ tịch Hội Huynh đệ Việt Nam, người được Jeannette gọi là Cha Thi trìu mến. Bà kể:


“Sau năm 1975, người nước ngoài về Việt Nam không dễ dàng. Việc đi lại khó khăn nên muốn làm gì cho đất nước, tôi tìm đến Cha Thi, do ông là người của UNESCO, có nhiều hoạt động thiện nguyện ở Việt Nam. Gặp tôi, Cha Thi ngờ ngợ hỏi: “Ở Thủ Đức, bà có biết viện nuôi trẻ mồ côi tàn tật không?”. Tôi mừng quá, tiết tộ: “Tôi đã từng đỡ đầu cho trại trẻ mồ côi này!”. Cha Thi rất vui, lấy ra bức ảnh, hồ hỡi nói: “Bà nhìn bức hình này xem. Có tôi và cha Bình, có bà trong bức ảnh này không?”. Tôi nhận ra ngay đó là bức ảnh chụp ngày khánh thành viện trẻ mồ côi. Tôi chỉ mình trong bức ảnh, nói: “Tôi đứng gần Cha nè!”. Cha Thi ngậm ngùi nói: “Thời gian trôi nhanh quá. Thật, tôi không nhận ra bà! Những đứa trẻ nay đã lớn khôn, bước vào đời, là nhờ vào tấm lòng của nhiều người. Tất cả đều là con cái của Chúa!”. Cảm khái vì tấm lòng của Cha Thi, từ đó, tôi thường lui tới ngôi nhà Babeuf-  Ngôi nhà Cha Thi đã mua trả góp trong 20 năm, được xem là “Mái ấm gia đình Việt Nam trên đất Paris” với thuốc men, hàng hóa quyên góp gởi về cho đồng bào Việt Nam. Tôi cũng từng đến hiệu sách SUDESTASIE ở 17 đường Cardinal Lemoine của Cha Thi- một địa chỉ cho những ai muốn tìm hiểu về Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Cha Thi có công lớn trong việc quãng bá hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, dành cả phòng trưng bày 200m2 ở siêu thị Rosni 2 để trưng bày các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ Việt Nam gởi qua. Tôi rất cảm kích cha Thi vì ông đã tận tình giúp đỡ con gái tôi bằng cách tạo công ăn việc làm trong những ngày cháu định cư ở Pháp. Nhiều lần lắng nghe tâm sự của tôi, Cha Thi đã thốt lên: “Bà Quý, bà phải tìm người  viết quyển sách về bà. Chúa đã sắp đặt để bà sống trong lòng cả Việt Minh, Pháp và Mỹ. Hình hài bé nhỏ của bà hứng nước mắt cả hai bên.  Nó rất có ích, bởi đất nước đã thống nhất mấy mươi năm nhưng lòng người chưa thống nhất. Những giọt nước mắt của bà là cây cầu tình thương gác qua hố hận thù mấy mươi năm do lòng người chia cắt!”. Cha Thi giới thiệu cho tôi nhiều nhà văn ở Pháp. Nhưng việc viết quyển sách không thành vì nhiều lý do khách quan và những ràng buộc bản thân. Trong những năm ấy, mỗi lần Cha Thi gặp tôi là hối thúc. Cha Thi nói nhà in của Cha đã sẵn sàng, chỉ cần quyển sách được viết ra. Và rồi năm 2005, tôi về Việt Nam, gặp nhà văn Trầm Hương... ”. 


Jeannette nghẹn ngào lau nước mắt, nói tiếp:


“Năm 2015, quyển tiểu thuyết “Trong cơn lốc xoáy” đã hoàn thành nhưng Cha Thi đã không còn. Cha Thi mất ngày 25.7.2010, sau một cơn đột quỵ tại Pháp, khi những kế hoạch đến vối những người bất hạnh, dùng tình thương xóa bỏ hận thù của Cha còn dang dở. Nơi thế giới bên kia, tôi tin là Cha Thi rất vui khi tôi đã thực hiện được lời hứa với Người!”


Rồi Jeannette hát cho tôi nghe bài hát  "Les feuilles mortes" nhạc của Joseph Kosma; lời Pháp của Jacque Prévert; lời Anh của Johnny Merce, ở Việt Nam được dịch tựa “Lá thu rơi”, được nhiều thế hệ ưa thích. Giọng hát của người đàn bà ở tuổi gần 90, dồn nén bao trải nghiệm cuộc đời  khiến tim tôi quặn thắt:


 


Oh ! je voudrais tant que tu te souviennes


Des jours heureux où nous étions amis.


En ce temps-là la vie était plus belle,


Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui.


 Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,


Tu vois, je n'ai pas oublié...


Les feuilles mortes se ramassent à la pelle.


Les souvenirs et les regrets aussi


Et le vent du nord les emporte


Dans la nuit froide de l'oubli.


Tu vois, je n'ai pas oublié


La chanson que tu me chantais.


 


C'est une chanson qui nous ressemble.


Toi, tu m'aimais et je t'aimais


Et nous vivions tous deux ensemble,


Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.


Mais la vie sépare ceux qui s'aiment,


Tout doucement, sans faire de bruit


Et la mer efface sur le sable


Les pas des amants désunis.

Rồi bà dịch lời Việt:


“Ôi, anh rất muốn em nhớ


Những ngày tháng vui vẻ khi chúng ta còn là bạn


Ngày tháng đó, cuộc sống tươi đẹp hơn giờ đây rất nhiều


Và mặt trời nóng bỏng hơn hôm nay


Những chiếc lá rơi đong dồn bên chiếc xẻng


Em thấy không, tôi không hề quên


Những chiếc lá rơi đong dồn bên chiếc xẻng


Cũng như kỷ niệm và niềm hối tiếc


Được gió bắc thổi đi


Đến cõi tối tăm quên lãng


Em thấy không, tôi không hề quên


Bài hát em từng hát cho tôi


 


Đó là một bài ca


Rất giống với chúng ta


Em đã từng yêu tôi


Và tôi từng yêu em


 


Đôi ta từng bên nhau


Em là người yêu tôi;


Tôi là người yêu em’


Phải, trước khi “những chiếc lá rơi đong dồn bên chiếc xẻng” thì lá có đời sống mãnh liệt của lá.


Vì không cam tâm nhìn những chiếc lá đi vào “cõi tối tăm quên lãng” mà tôi đã viết. Viết để chống lại sự lãng quên…


Sài Gòn, mùa xuân năm 2006


Trầm Hương


Cám ơn Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


Mục lục:
1.
2.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »