BA
Bác sĩ Nankhu từ Johannesburg quay trở về trước lúc rạng đông, khi vẫn còn cảm thấy hơi mát trong không khí. Ông phóng xe suốt đêm, và bây giờ chỉ có cơn gió hiu hiu mát mẻ là rất cần thiết đối với ông trong suốt thời gian không được phép chợp mắt.
Xe chạy tới vùng những người da trắng sinh sống, ông giảm bớt tốc độ xuống tới mức quy định. Những đường phố rộng rãi, sạch sẽ, đèn sáng rực rỡ lúc này vắng tanh vắng ngắt. Tuy vậy ông vẫn chú ý lái xe một cách cẩn thận hệt như đang đi trong mạng lưới phức tạp của đường phố đầy ắp xe cộ. Và chỉ đến khi những đường phố quang đãng, sạch sẽ với những tòa biệt thự đồ sộ ở sâu bên trong những khu vườn xanh tốt trải dài lùi lại phía sau và xe của ông đã chạy trên mảnh đất vô chủ - những mảnh đất bị cày xới ngang dọc, nằm ép chặt giữa hai khu vực có tên chính thức là phường châu Âu và phường Ấn Độ, nơi một nhóm không nhiều những người da màu sinh sống, ông mới lại tăng tốc độ. Ngày trước, phần lớn đất này kể cả nhiều khu vực của thành phố, thuộc về những người Ấn. Sau đó do hiệu quả của những đạo luật được chấp thuận bởi Chính phủ trung ương và tỉnh, cả chính quyền địa phương nữa, những người Ấn đã bị mất gần một ngàn yard, không phải hoàn toàn ở tại đây, mà chủ yếu là ở vùng ven biển, nơi người ta đang xây dựng khu an dưỡng theo kiểu mới.
“Nhưng đó không phải là điều chủ yếu khiến chúng ta lo lắng” - ông thì thào thành tiếng, tựa như đang trò chuyện với gió.
Những vùng ven đơn điệu của khu phố Ấn Độ nom có vẻ xấu xí. Chỉ có đường phố chính là được trải nhựa, số còn lại, hàng năm cứ vào mùa khô thì biến thành bãi sa mạc đầy bụi bặm, còn vào mùa mưa thì biến thành một bãi sình lầy bẩn thỉu. Những ngôi nhà ở đây đã bị bỏ mặc, xấu xí và đơn điệu hết mức, kể cả của những người đủ ăn đủ mặc. Cố nhiên đấy chỉ là vẻ ngoài. Những người khôn ngoan cố ý không tu sửa mặt tiền nhà mình, để người da trắng khỏi dòm ngó. Quả là chẳng khó khăn gì để tuyên bố khu vực này thuộc về châu Âu rồi tiến hành trục xuất người Ấn đi nơi khác. Do đó, mặt tiền ngụy tạo chỉ là chuyện đánh lừa một cách tinh vi, giống như treo trước ngôi nhà tấm gương cong và dần dần trở thành nền tảng của toàn bộ xã hội. Con người thôi trở thành con người, gió được xem là thuận lợi hay bất lợi tùy theo nó thổi từ hướng nào và thổi vào ai. Việc làm sạch nước, quy định không được lớn hơn mức độ của sự lọc nước; sông có thể bị coi là dơ bẩn chỉ vì dân phu phen và đám người Caphr sống ở trên nguồn nước từ năm đến mười dặm lấy nước của nó. Do chính nguyên nhân ấy nó được coi là dơ bẩn trong trường hợp nó chui vào lòng đất và từ nơi ấy chảy ra. Vậy là ở đây, vì lợi ích của cuộc sống cũng cần phải viện đến sự lừa dối.
Những ý nghĩ tương tự bao giờ cũng khiến bác sĩ sẵn sàng biện minh cho sự ngu ngốc của con người tồn tại hàng bao thế kỷ như là một cái gì đó hợp với quy luật. Tuy nhiên, ông kịp thời tỉnh ngộ và cắt đứt dòng suy nghĩ riêng tư. Nhưng trong một lúc yếu đuối nào đó, ông lại dẫn dắt những ý nghĩ của mình cho đến tận cùng. Và chính lúc đó tai họa đe dọa ông. Vào chính cái lúc bắt đầu nhớ rằng trong những hoàn cảnh giống nhau, cả người Ấn lẫn người da đen đều xử sự hệt như thiểu số người da trắng…
Ông xua đuổi mọi ý nghĩ ra khỏi đầu và ngay lập tức cảm thấy trên mặt làn hơi mát mẻ của cơn gió nhẹ và nhìn thấy những tia nắng đầu tiên của ban mai hửng sáng ở phương đông. Chỉ đến lúc này ông mới nhận thấy chiếc xe hơi đang chạy vòng vèo từ bên này sang bên kia trên con đường hẹp. Mọi thao tác trong khi lái xe trở nên rời rạc và ông đánh mất cả khả năng tự kiểm tra, nhưng rồi sự căng thẳng cũng đã trôi qua. Giờ thì ông đã ở nhà, trong sự bình yên hoàn toàn - chỗ bình yên hơn không tìm được ở đất nước này.
Điki Najacca và người gác mở cửa nhà để xe, và bác sĩ vẫn còn đủ tỉnh táo để canh cho chiếc xe hơi đỗ một cách chính xác, không chạm vào chiếc xe của Đi. Cô gặp ông trên cầu thang, còn ngái ngủ, người nóng sực. Siết chặt cô vào lòng, vô tình ông nhớ đến một người phụ nữ khác, người duy nhất, người ông cũng từng ôm chầm lấy như thế này, mặc dù có cảm giác hoàn toàn khác nhau. Sự thống trị của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở xứ này đã ngăn không cho ông cưới cô ta. Và ông coi đó là nghĩa vụ của mình. Bây giờ cô ta đã có chồng và sống ở Scotland xa xôi; và suốt trong ngần ấy năm tháng chưa có một người phụ nữ nào thế chỗ cô ta trong trái tim cũng như trong ý nghĩ của ông.
- Vị khách của chúng ta thế nào?
- Bị xúc động vì việc đã xảy ra. Nhưng không sao, anh ta vẫn vững.
- Thế còn em? - Ông hỏi với giọng dịu dàng cố nén.
- Em thì có xao động chút ít. - Cô nói bằng giọng dửng dưng, nhìn thẳng vào mắt ông.
- Em muốn nói chuyện với anh ta không?
- Không… điều này đối với anh ta… Thôi anh nằm nghỉ đi, em sẽ đem nước trà đến cho anh.
Ông nhìn cô em gái đi xuống cầu thang, người cứ như nghiêng hẳn trên chiếc chân đau. Sau đó ông đi vào phòng ngủ của mình, cố gắng làm dịu cảm giác tội lỗi: đau đớn biết bao vì cô ấy là người tàn tật. Thường thì những người đàn ông chịu đựng những nỗi bất hạnh như thế này dễ hơn.
Khi Đi Nankhu mang trà đến thì ông anh đã ngủ say. Cô đắp chăn cho anh, kéo kín bức rèm và đi về phòng mình. Tại hành lang cô nhìn thấy Nkôzi đứng ở cửa phòng ngủ của anh.
- Anh tôi đã trở về. - Cô nói.
- Tôi có nghe thấy.
- Nhưng anh ấy mệt tới mức thậm chí không còn đủ sức để uống trà nữa.
- Tôi không có ý định gặp anh ấy lúc này… Có thể cho tôi uống trà của anh ấy được không?
Trên người Đi Nankhu là bộ quần áo ngủ gần như trong suốt. Cô tỏ ra ngượng nghịu và đồng thời bực tức vì sự ngượng nghịu của chính mình.
- Anh có cần gì không? - Cô hỏi một cách gay gắt và dường như nỗi đau của cơ thể là nguyên nhân khiến cô đối xử thô bạo với anh. Anh thu mình lại.
- Không có nghĩa gì cả! - Anh nói bằng giọng xã giao khô khan, kiểu những người Phi thường nói, khi họ muốn tỏ ra lịch sự một cách lạnh lùng.
Cô nghĩ: Nếu như bây giờ chúng ta không gần gũi nhau, không như buổi tối trong vườn, thì chúng ta sẽ không bao giờ gần nhau được nữa. Cái gì mà đã kết thúc thì không bao giờ còn trở lại nữa.
Cô im lặng theo dõi anh, xúc động vì sự có mặt của anh. Đã biết trước tất cả, cô chờ đợi và khiếp sợ. Cuối cùng ý nghĩ đã kết tinh lại một cách rõ ràng, minh bạch và chiếm lĩnh toàn bộ ý thức của cô. “Trời ơi, hãy giúp tôi, tôi không thể thiếu người đàn ông này được, nhưng anh ta lại là người da đen”. Cô tự thuyết phục mình đừng để xảy ra cái điều mà nói ra hay nghĩ đến đều đơn giản cả: tôi muốn người đàn ông này hoặc tôi muốn người phụ nữ này. Tuy nhiên, ý nghĩ đó đã nảy ra và bám lấy cô - cái lôgic khó hiểu, không giải thích được đã nảy sinh đúng vào lúc mà nỗi sợ là có thực, mặc dù nó không làm cho cô sợ hãi. Khao khát cái con người đang quay lưng lại với mình dường như là điều hoàn toàn bình thường và tự nhiên đối với Đi lúc này.
Và đúng vào thời điểm ấy, khi anh định đóng sập cửa sau lưng mình, cô nói:
- Không thể uống trà ở đây được. Đến chỗ tôi đi!
“Xêmmi đoán được ý muốn của tôi trước cả bản thân tôi” - Đi Nankhu nghĩ và lấy làm ngạc nhiên về sự nhạy cảm của Naiđu.
Nkôzi đứng lưỡng lự, không biết nên làm gì, hoặc là trở lui, hoặc là đứng yên.
Cô tự nhủ rằng anh ấy đang hoảng sợ và buồn phiền vì sự thông báo của Xêmmi Naiđu. Hãy nhớ rằng bây giờ anh ấy đang cần sự an ủi và thông cảm. Hãy nhớ rằng cô không cần cho anh. Bất cứ ai cũng có thể an ủi anh. Và nếu như cô ham muốn anh, hãy đừng làm những chuyện ngu ngốc.
Nkôzi nhìn cô. Đi về phòng mình, cô vẫn cứ để cửa mở và vội vàng bước đến chỗ bàn trang điểm để trang điểm lại. Sau đó cô bước đến chỗ cửa sổ và nhìn về phía đông, nơi bình minh đã hắt lên nền trời những ánh hào quang nhiều màu sắc rực rỡ. Chẳng bao lâu, áng chừng độ một tiếng đồng hồ, những luồng ánh sáng chạm khắp mặt đất và báo hiệu mặt trời đã mọc.
“Sao mà tôi muốn được mạnh khỏe, trong trắng và nhân hậu như anh ấy đến thế! Nhưng, do đâu mà ngươi biết anh là người như thế? Ngươi đã biết gì về anh ấy?”. Và cô tự trả lời thành tiếng: - Tôi biết hết!
Cô linh cảm thấy anh đi vào, mặc dù anh bước nhẹ như mèo.
- Xin đóng cửa giùm! - Cô yêu cầu.
- Tôi đem trà về phòng mình. - Anh vẫn nói bằng giọng xã giao, khô khan như trước.
“Hãy nhớ, anh ấy đã bực mình và buồn rầu, hơn nữa anh ấy đang nổi cơn kiêu căng.”
- Tùy anh. Nhưng tôi muốn anh ở lại đây.
Nàng đang cố thay đổi thái độ. Không giản đơn là nàng đang cố an ủi. Nhưng nàng đã lừa dối, che giấu điều mà sau đó tôi được biết qua Naiđu. Và dường như để đáp lại những ý nghĩ của anh, Đi nói:
- Tôi không thể nào cư xử khác được. Trong tổ chức của chúng tôi đối với việc này rất nghiêm khắc. Và sau đó, trời ơi, hãy giúp đỡ tôi. Tôi không hiểu rằng đối với anh điều đó quan trọng biết nhường nào. Sau buổi nói chuyện của chúng ta trong vườn, tôi nhất định…
“Nàng cố gắng như vậy để làm gì?” - Anh nghĩ và nói:
- Được thôi.
Anh cảm thấy dường như trong anh đang bốc lên ngọn lửa ham mê thể xác đối với người phụ nữ này và đang cố dập tắt nó trong mình. Bây giờ không phải lúc… Chuyện ấy chẳng dẫn đến điều gì hay ho cả.
“Anh ấy biết rằng tôi muốn mơn trớn anh ấy” - Đi nghĩ trong sự lúng túng và vụng về chỉ cho anh chiếc ghế bành bên cạnh cửa sổ.
- Xin mời ngồi. Xin lỗi vì sự lúng túng của tôi. Tôi không biết, một người phụ nữ sẽ phải cư xử như thế nào trong những trường hợp tương tự. Lần đầu tiên tôi tiếp một người đàn ông trong phòng ngủ của mình vào tầm này. Ngay cả ông anh thân yêu cũng không đến vào giờ này.
“Thú vị thật! - Cô nghĩ - Bụng tôi đang rung rung! Mà lại ở lứa tuổi tôi kia chứ. Nhưng quả thực là như vậy. Rung rung… Hiện tượng này từng xảy ra khi tôi còn là một cô bé nhỏ xíu”.
Có một lần cả hai người anh và em trai của cô - người anh cả hiện đang ngủ ở phòng bên cạnh và người em, đã bị bọn chuyên tàn sát người da đen đánh cho đến chết - cả hai đã xúi cô cởi quần áo và cùng nhảy xuống hồ chứa nước, và khi cậu em hết hy vọng thuyết phục chị, nó đã ngửng cái đầu thanh thanh, đẹp một cách thánh thiện của mình và hét lên: “Bụng chị rung rung kìa!” và, mệt lử vì cười, ngã dúi dụi trên mặt đất. Từ lúc đó họ thường hay sử dụng cách nói này, “bụng rung rung”.
- Dù là đối với anh em hay đối với bất cứ người đàn ông nào khác thì cũng vậy thôi.
“Anh ấy cũng rung bụng” - Cô tự nhủ và yên tâm trở lại.
- Nhưng không thể như thế được!
- Dù thế nào vẫn cần phải thế!
Cô chờ đợi, cho đến lúc anh cầm lấy cái bình đặt ở cạnh chiếc bàn trang điểm và ngồi xuống bên cửa sổ. Và chỉ sau đó cô mới rót trà cho anh. Giờ thì họ ngồi đối diện nhau, uống trà và quan sát, như thể theo dõi màu sắc đang đổi thay ở chân trời. Cô cảm thấy yên tâm dần và trong trái tim cô trở nên ấm áp, tựa như buổi tối ở trong vườn. Lần này mặc dù vẫn còn hơi buồn, cô rất thích thú khi bị nhấn chìm trong một trạng thái khoái cảm tột độ.
Cả anh lẫn cô đều không thể nói được, chuyện đó đã xảy ra như thế nào, bắt đầu từ đâu. Họ uống trà, theo dõi ánh bình minh đang hé sáng ở phương đông, chơi trò thay đổi màu sắc, còn sau đó thì cả hai người đều đã ở trên giường. Cái gì đã xảy ra một cách tự nhiên trước đó và kéo dài trong bao lâu, cả hai đều không biết.
Bỗng nhiên anh đụng phải bàn chân tàn tật của cô. Cô vội nhích ra và ngay lập tức anh cảm thấy vẻ lạnh nhạt của cô. Cô còn nhích xa ra hơn và dứt khoát thu mình lại. Anh không thể hiểu được tại sao. Anh đâu biết rằng bàn chân đau này không chỉ hành hạ cô về mặt thể xác và cô cố che giấu một cách bản năng sự tật nguyền của mình với mọi người.
Anh muốn nhìn vào mắt cô nhưng cô đã xoay người lại, không muốn đón nhận cái nhìn của anh và cũng không muốn cho anh có cơ hội nhìn sát vào mặt cô.
Sau đó anh lần tay vào ngực cô, ngạc nhiên nhận thấy cặp vú vẫn tròn căng và chắc nịch. Những người phụ nữ trạc tuổi cô thường không có được bộ ngực đầy đặn như thế. Anh vuốt ve Đi, mơn trớn trên lưng, trên cổ chắc nịch của cô, trong lúc cô chưa bình tâm trở lại và chưa mất đi vẻ lạnh nhạt của mình. Cô lại áp trọn thân thể mình vào anh và bắt đầu đáp lại sự vuốt ve mơn trớn của anh.
Thế là chúng mình đã vượt qua được rào chắn đầu tiên - cô tự nhủ. Và cơn khoái cảm sắp tới hẳn là sẽ đạt đến cực điểm. Cô còn nghĩ: Trời ơi, sao mà tôi muốn có con với anh ấy đến thế! Đôi mắt cô tràn đầy những giọt nước mắt ngoài ý muốn; chúng lăn dài trên má rồi rơi vào tai, nhỏ trên gối. Cô kìm giữ những giọt nước mắt vô cớ này lại nhưng chúng vẫn cứ tuôn trào không ngớt. Cô cảm thấy mình có lỗi, và sợ rằng sẽ lưu lại trong ký ức anh dấu ấn về một người phụ nữ mau nước mắt.
- Em có nhớ mối tình đầu không? - Anh hỏi một cách thận trọng.
- Không - Cô đáp gọn.
- Thế mối tình thứ hai?
Cô quay mặt về phía anh. Ánh sáng đã đủ để anh nhận thấy cô không còn khóc nữa.
- Em chỉ có một mối tình - Cô đã lại nói với anh bằng giọng cứng rắn quen thuộc. - Đấy là một câu chuyện xấu xa.
“À ra thế! ” - Anh nghĩ. Và sau một hồi im lặng, anh nói như thể nói với chính mình.
- Ở châu Âu tôi cũng có một người đàn bà.
- Da trắng và đẹp, - Cô nói thay cho anh, trong đầu cô lóe lên ý nghĩ: Thì ra anh ấy đáp lại tôi như vậy đó.
- Đúng, về mặt nào đó thì đúng! - Anh đồng ý.
- Và cố nhiên là tốt bụng, dễ thương.
- Không. Cô ta tham lam, đỏng đảnh, không thông minh cho lắm và thậm chí cô ta còn là người vô liêm sỉ nữa kia.
- Nhưng anh yêu cô ta - Cô không chịu dừng lại mà thấy cần phải cương quyết vạch trần cho đến tận cùng.
- Đối với người đàn bà dối trá táng tận lương tâm thì không có gì là thiêng liêng cả. Để làm cho tôi cãi cọ với người bạn tốt nhất - cô thấy đấy, cô ta không thích tình bạn của chúng tôi, - cô ta đã quyến rũ cậu ấy, sau đó lại lu loa lên rằng cậu ấy đã dùng sức chiếm đoạt cô ta. Từ ngày ấy chúng tôi thôi không còn là bạn bè nữa. Tôi mà lâm vào tình trạng đó thì chắc cũng không đứng vững được trước cô ta, nhưng tôi không thể tha thứ cho cậu ấy vì sự yếu đuối của mình.
- Dù sao thì anh vẫn tiếp tục yêu cô ta - Cô trầm ngâm nhắc lại.
- Không đâu, bởi vì tình yêu không thể có được nếu thiếu sự tôn trọng, sự cảm phục, nếu thiếu những tình cảm bạn bè.
- Chắc đó chỉ là sự ham muốn thuần túy xác thịt.
- Đúng, ham muốn đó thoạt đầu rất mạnh, sau đó thì qua đi.
- Anh kể cho em nghe tất cả những chuyện đó để làm gì?
- Để em biết là có một người nào đó đang tồn tại.
- Cái người mà như anh nói, anh không còn yêu nữa.
- Phải rồi.
- Nhưng dẫu sao thì anh vẫn nhớ và nghĩ về cô ta. Tại sao vậy?
- Tại vì mười năm là một khoảng thời gian khá dài. Cô ta đã trở thành một thói quen của tôi rồi.
- Và anh đang trở lại với thói quen của mình?
- Đúng.
- Bị chi phối bởi thói quen à?
- Có lẽ là như vậy.
Đi đột nhiên mỉm cười vui vẻ.
- Em không phản đối. - Cô nhẹ nhàng nói. - Tuyệt nhiên không.
Đột nhiên cô nhích ra. Anh vòng tay ôm choàng phía sau cổ cô và kéo về phía mình.
- Đừng buồn nhé! - Anh nói.
- Anh có con chưa? Con của anh và con của cái thói quen của anh ấy mà?
Hóa ra là không có và cô lập tức nhẹ hẳn người.
- Sao, cô ấy không muốn ư?
- Chúng tôi không bao giờ nói về chuyện đó.
- Và thậm chí cũng không nghĩ đến?
- Không nghĩ đến. - Sau một lúc im lặng, Nkôzi yêu cầu.
- Hãy kể cho anh nghe chuyện ấy đi!
- Không.
- Anh van em!
- Thôi, xin cảm phiền, đừng có mà nằn nì. Không được đâu.
- Không, em hãy kể ngay bây giờ đi! Nếu không giữa chúng ta mãi mãi sẽ là sự lạnh nhạt. Chẳng lẽ em lại không hiểu sao?
- Ừ, thôi được rồi.
Cô nhích xa anh. Bây giờ thì anh không phản đối việc ấy. Sự im lặng kéo dài và trở nên khó xử.
- Mọi chuyện tồi tệ lắm… Không nên... - Cô van xin.
Anh im lặng chờ đợi cho đến lúc cô bắt đầu câu chuyện của mình.
Cuối cùng bằng giọng thầm thì, yếu ớt, cô kể:
- Em và anh ta gặp nhau khi em đang học năm thứ hai ở Trường đại học tổng hợp London. Anh ta nghiên cứu chính trị và làm thư ký cho câu lạc bộ Spartak. Là một diễn giả lỗi lạc, tác giả của một tập thơ cách mạng, anh ta trưng diện chủ nghĩa Mác và truyền nó với niềm tự hào vui tươi và với vẻ kiêu căng thế nào ấy. Lần đầu tiên em nhìn thấy và nghe anh ta nói trong mấy cuộc tranh luận về chủ nghĩa thực dân giữa câu lạc bộ Spartak và câu lạc bộ Chủ nghĩa xã hội. Em chưa bao giờ thấy và cũng chưa bao giờ nghe điều gì tương tự như vậy. Và cố nhiên là em yêu anh ta ngay tức khắc. Anh ta có dáng người cao lớn, đẹp như vị thần và chỉ nhờ có anh ta câu lạc bộ Spartak mới giành được thắng lợi đối với những người phản đối mình. Em rất lấy làm hả dạ về sự chú ý mà anh ta đã biểu hiện với em sau buổi tranh luận, và cùng với tất cả những người thuộc phe cánh của anh ta, em đến nơi tổ chức bữa tiệc chiêu đãi thân mật. Đã đến lúc quán rượu đóng cửa và mọi người bắt đầu giải tán ai về nhà nấy, còn anh ta thì mời em ghé lại chỗ anh ta ngồi. Khi em đến bên anh ta thì đến lượt anh ta trả tiền chai rượu. Em liền trả tiền thay cho anh ta. Bởi vì lần thứ nhất, lúc anh ta cần phải trả tiền, anh ta lục lọi khắp các túi và nhìn em, nhún vai. Cố nhiên là em trả tiền. Từ lúc ấy đã thành lệ, bao giờ em cũng trả tiền cho anh ta và cả cho em. Thế là em đã đến chỗ anh ta. Anh ta muốn ngủ với em và em đã không phản đối. Em trở thành người tình của anh ta; em trả tiền nợ cho anh ta, dọn dẹp phòng, sửa soạn bữa ăn; em không phản đối ngay cả khi anh ta nô giỡn, thậm chí ngủ với người khác. Anh thấy đấy, em đã biết ơn vì con người thánh thiện này, nhà cách mạng xuất sắc này đã chú ý đến em, vì mặc dù thân xác em có phần khiếm khuyết, em vẫn có thể là niềm khoái cảm của con người đó. Em đã tự hào về điều ấy. Hơn nữa, người phụ nữ bao giờ cũng gắn bó sâu sắc đối với người đàn ông có khả năng làm cho cô ta rung động. Mà anh ta thì có khả năng làm cho em rung động.
Sau một hồi lâu Nkôzi phá tan bầu không khí yên tĩnh đang bao trùm lên họ:
- Thôi đủ rồi. Em kể như vậy là đủ. Những hồi ức đang làm cho em đau đớn.
Dường như không nghe thấy lời nói của anh, một lúc sau cô lại tiếp tục:
- Một lần đến chỗ anh ta, em nhìn thấy một chiếc va ly đã sắp xếp xong xuôi. Anh ta báo cho em biết rằng sáng hôm sau anh ta cùng với một nhóm nhà văn lên đường đi thăm nước Nga và Trung Quốc. Và để chi dùng cho chuyến đi này, anh ta cần 150 bảng Anh. Anh ta nghĩ rằng em sẽ đưa tiền ra ngay tức khắc. Đavut chu cấp tiền bạc cho em một cách rộng rãi nhưng sau bốn tháng yêu đương, em đã chi tiêu tất cả số tiền dành dụm của mình, hơn 500 bảng. Em biết rằng không được sự đồng ý của Đavut, nhà băng sẽ không phát cho em một penni nào cả, còn đánh điện cho ông anh thì em không thể. Chính ra, anh ấy không biết rằng em đang nuôi dưỡng người tình, nhưng niềm tự hào còn lại nơi em cũng cần phải được giữ gìn. Tóm lại, em đã nói là em không có tiền. Anh ta cứ cho rằng em làm bộ làm tịch, và cố tác động em bằng sự vuốt ve trìu mến. Anh ta làm như thế và không tin rằng em không thể đưa tiền ra. Anh ta tin chắc rằng em chỉ cần muốn là nhất định kiếm được tiền. Thậm chí anh ta yêu cầu em liên lạc điện thoại với ông anh đang sống ở Nam Phi và giải thích mọi việc.
Ngay khi em từ chối lời yêu cầu ấy, nhân vật lý tưởng của em nổi giận một cách không thể tưởng tượng được và bắt đầu nói rằng anh ta đã kiềm chế sự ghê tởm của mình như thế nào mỗi khi phải nằm trên giường với em, nhưng đấy là chuyện tất nhiên và anh ta đã trả giá rộng rãi cho mỗi penni nhận được của em. Anh ta không nói thẳng ra như thế, cố nhiên, nhưng đã làm cho em hiểu, rằng em chống anh ta không chỉ vì em là người Ấn Độ mà còn vì em là một kẻ tàn tật. Trong cơn giận dữ anh ta đã tiến đến chỗ thô bạo và bắt đầu bắt chước dáng đi của em… Và sau đó thì anh ta bắt em cuốn xéo đi chỗ khác.
- Và em chưa bao giờ kể cho ai hay về chuyện này? - Nkôzi bình thản nhấn mạnh.
- Ở trường đại học mọi người đều biết hết - Cô vẫn đáp lại bằng giọng thầm thì và buồn rầu.
- Anh không hỏi về chuyện này?
- Anh muốn nói đến những người gần gũi với em ư? Chẳng hạn như Đavut hoặc Xêmmi phải không? Nhưng chẳng lẽ em lại có thể làm được như thế. Chỉ có tình yêu và sự tôn trọng của họ và cả sự hèn nhát của em mới ngăn được em không làm một hành vi tuyệt vọng nào đó trong những ngày ấy.
- Em vẫn còn nhớ chuyện ấy? - Anh âu yếm hỏi.
- Những ký ức ấy bám theo em như một cơn ác mộng - Cô thản nhiên đáp.
- Nhất định là cần phải san sẻ với một người nào đó!
- Với ai?
- Với ông anh chẳng hạn.
- Trước đây thì em không thể. Bây giờ thì em có thể, nếu như…
- Bây giờ thì - anh ngắt lời - không cần thiết nữa. Phải thế không.
Trầm ngâm hồi lâu, cô khe khẽ lắc đầu:
- Một câu chuyện tồi tệ…
- Nó qua lâu lắm rồi còn gì, - anh nói, - và em có thể bình tĩnh cân nhắc đánh giá lại mọi chuyện.
- Em xấu hổ đến mức…
- Tốt hơn hết là chúng ta nên nghỉ ngơi một lúc đã! - Anh đề nghị. Lúc sau, anh đi về phòng mình.
Còn lại một mình, Đi Nankhu nhớ đến những chi tiết gớm ghiếc trong mối tình đầu…
BỐN
Nkôzi mơ thấy dường như anh đang ngủ, bất thình lình Đi Nankhu chạy vào phòng, ra sức vừa lay vừa gọi tên anh. Anh mở mắt và nhìn thấy căn phòng đã tràn ngập ánh sáng rực rỡ, còn Đi thì đang cúi xuống trên người anh. Nhưng hóa ra chuyện đó là có thực.
- Lên phía trên đi, mau lên!
Cơn mê ngủ vụt biến mất. Nkôzi nhổm dậy, ôm vội lấy đống áo quần của mình. Ngay lúc ấy một người phụ nữ cao, gầy bước vào phòng, dường như không quan tâm đến anh, bắt đầu trải lại giường. Đi Nankhu bước vội về phía cửa và nhìn ra hành lang.
- Anh có thể đi được rồi! - Cô nói.
Anh lách qua cửa, băng qua hành lang và lẩn vào chiếc tủ ẩn trong tường.
- Lúc nào có thể được thì em sẽ đến, - Đi thì thầm.
Sau khi những cánh cửa con của chiếc tủ đóng lại, anh lần mò leo lên chiếc cầu thang nhỏ hẹp, tối om om, tìm thấy chiếc cửa và bước vào phòng. Ánh sáng lọt qua khe hở trên trần nhà, rắc trên sàn những đốm nhỏ lấm tấm. Nhưng không hề nhìn thấy gì cả. Anh nhắm mắt và cố nhớ lại cảnh tượng gian phòng này anh mới ở vào mấy hôm trước đây. Cái công tắc điện chắc là ở trên tường phía bên trái, ngay cạnh cửa ra vào, hơi cao hơn đầu một chút. Chiếc cửa sổ nhỏ ở đâu đó bên trên về phía tay phải. Nó vẫn đóng kín. Tìm thấy chiếc công tắc điện trên tường, anh định bật đèn nhưng rồi lại thay đổi ý định. Cặp mắt vẫn nhắm lại và tay vươn lên phía trước, anh thận trọng nhích dần đến nơi mà theo tính toán của anh chắc là phải có một chiếc giường. Anh cởi quần áo và ném lên giường. Sau đó anh đi vòng quanh chiếc giường và vẫn cứ tiếp tục lần mò căn phòng cho tới lúc tìm thấy chiếc cửa sổ nhỏ trổ ở chỗ trần nhà hơi dốc xuống. Trước khi đẩy bức mành ngụy trang ra, anh xem xét một cách kỹ lưỡng, xem nó đã được bố trí như thế nào. Điều quan trọng là không có gì hư hỏng và như vậy là có thể lại che kín được ô cửa sổ. Cuối cùng khi anh đẩy bức mành ra, một dòng ánh sáng tuôn khắp gian phòng.
Nkôzi xem xét chiếc cửa sổ. Trên ô cửa sổ có lắp một tấm kính vuông vức dày hai phân rưỡi và lưới đan mảnh. Kính được lắp vào khung thép với cái chốt đặc biệt có thể chuyển động dễ dàng. Chiếc cửa sổ được bảo vệ bằng các chấn song cũng bằng sắt. Nkôzi thận trọng sờ chấn song và anh lặng lẽ kéo chấn song qua một bên. Sau đó anh đẩy tấm kính, nó cũng trượt sang bên phải một cách dễ dàng và êm như ru. Trong trường hợp cần thiết, qua chiếc cửa sổ này anh có thể chui ra được bên ngoài. Anh đẩy chiếc ghế mà đêm hôm trước đã để bộ quần áo của mình lại gần, đứng lên đó và thò đầu ra ngoài ô cửa. Ở phía dưới hiện ra các công trình xây dựng phụ, phía sau là nơi khởi đầu cái trận đồ bát quái của những con hẻm tối tăm và những túp lều tồi tàn thảm hại của khu phố Ấn Độ. Tại một chỗ ở phía sau mái nhà có thể thông ra đường thì đã bị rào bằng dây kẽm gai. Mọi thứ đã được phòng ngừa chu đáo. Mọi thứ đã được tính toán kỹ lưỡng. Đây không thể có chuyện ngẫu nhiên được.
Những ý nghĩ ấy đã khiến anh bắt đầu cảm thấy áy náy, tuy nhiên anh đã suy nghĩ một cách cặn kẽ, làm thế nào để tụt xuống phía dưới được nhanh và dễ hơn. Sau đó anh đóng tấm kính và lắp các chấn song lại.
“Ngươi đã ở trong gian phòng trống rỗng - anh tự nhủ - đấy là một sự sơ suất không thể tha thứ được”. Bước trên tấm thảm dày, anh nhanh nhẹn đi đến cửa ra vào và vặn chìa trong ổ khóa. “Nàng chưa bao giờ nói với ngươi rằng ngươi được tuyệt đối an toàn. Hãy dè chừng từng bước chân của mình, thưa ngài, hãy dè chừng từng bước chân của mình!”.
Anh nhanh nhẹn cởi bộ pijama, mặc bộ vét mà Xêmmi Naiđu đã đem đến cho anh. Tuy đã có phần hơi an tâm một chút nhưng anh vẫn cẩn thận chờ đợi như trước, xua đuổi mọi ý nghĩ có thể làm anh mất tập trung dù chỉ là một giây.
Thời gian trôi qua hết sức chậm chạp và sự chờ đợi hóa ra chẳng có nghĩa lý gì cả, nếu không tính đến chuyện thời gian ấy còn là yếu tố dày vò tâm hồn con người. Không, anh không thể cho phép ý nghĩ đó tồn tại trong đầu mình. Thời gian vẫn chạy đều và con người vẫn cứ phải chờ đợi cho đến khi sự chờ đợi kết thúc.
Cuối cùng đã nghe thấy có tiếng bước chân khe khẽ. Ai đó đang đi lên cầu thang. Di chuyển một cách nhanh nhẹn và vững tâm, Nkôzi đến gần cửa sổ và việc đầu tiên là đẩy các chấn song ra, sau đó đẩy chiếc ghế lại sát ngay dưới cửa sổ và mang giày vào. Lúc gần đến cửa ra vào anh quan sát căn phòng và ước tính với khoảng cách nào để có thể phóng chạy và có thể nhảy qua cửa sổ. Sau đó anh lại bắt đầu chờ, lắng nghe tiếng những bước chân dè dặt trên cầu thang.
Chẳng bao lâu ở cửa vang lên hai tiếng gõ khe khẽ và giọng Đi vẳng đến:
- Mọi việc ổn cả. Ra đi!
Anh mở cửa. Cô vội vã bước vào phòng và anh thấy cô dường như đang giận dữ và khó khăn lắm mới nén được cơn giận. Cô nhìn anh, sau đó nhìn lên chiếc cửa sổ đã mở và cơn giận thay bằng sự lo lắng:
- Anh định trốn đi đâu thế? - Cô quan tâm hỏi.
- À, anh chưa kịp nghĩ đến chuyện đó. Có chuyện gì xảy ra phải không?
Cô gieo người xuống mép giường. Anh đẩy cửa sổ vào, khóa lại và ngồi xuống bên cạnh.
- Các ngài ở cơ quan An ninh - cô nói với vẻ cay đắng - anh biết không, họ đang thẩm tra bác sĩ. Họ hỏi anh ấy đi đến Johannesburg để làm gì, gặp gỡ ai ở đấy, tạm trú ở đâu và chừng nào thì trở về. Và bác sĩ, cố nhiên, đành phải trả lời bọn vô lại da trắng ấy. Luật pháp quy định chúng tôi trả lời bất kỳ câu hỏi nào, kể cả những câu hỏi đụng đến những việc hết sức là riêng tư. Vì từ chối trả lời thì họ có thể nghi ngờ chúng tôi cố ý phạm tội và căn cứ vào những mối nghi kỵ này mà bỏ tù.
- Đừng nói chuyện ấy nữa! - Nkôzi ngăn cô lại.
Cô gật đầu và âu yếm vuốt tay anh.
- Xin lỗi. Em cho rằng đạo luật này là bỉ ổi. Vì nó mà chính chúng ta cũng trở thành những kẻ bỉ ổi.
- Chỉ trong trường hợp chúng ta cho phép mình làm chuyện đó thôi - Anh phản bác. - Thế còn chuyện gì xảy ra nữa không?
- Ngoài mặt họ vẫn làm vẻ như đấy chỉ là sự thẩm tra bình thường, nhưng chúng em nghi ngờ. Họ cứ khăng khăng với chúng em trong chuyện này. Họ không hé răng nói nửa lời về Vexthiuzen và cũng không thấy nói là họ đang tìm kiếm người đã cùng đi với anh ấy; họ đã biết là cả một đội quân gồm những con người, vào tuần lễ trước đã gần chết vì đói, bỗng nhiên nhận được thức ăn và thậm chí cả tiền nữa, nhưng họ không hề nói một tí gì về việc này.
- Cố nhiên là họ cũng sẽ không nói điều gì về người anh của em, để không bị hớ.
- Đúng là họ đã hành động như vậy. Họ bao giờ cũng có hai người. Một người đặt các câu hỏi, còn người kia theo dõi nét mặt của anh từ xa. Đấy là phương pháp có hiệu quả nhất. Họ làm cho anh hiểu rằng họ biết rất nhiều, tính toán cả đến việc anh biểu hiện thái độ trong khi nói và làm lộ mình. Mọi thủ thuật của họ chỉ có thế! Tuy nhiên hôm nay họ xử sự hoàn toàn khác, và điều này không phải là ngẫu nhiên.
- Em có phóng đại khả năng của họ lên không đấy?
- Công việc của em buộc phải dính dáng với họ nhiều hơn anh. Đavut cũng bị rầy rà không ít hơn em, nhưng anh ấy chẳng bao giờ lo lắng một cách vô ích. Chúng ta xuống dưới đi nào. Đavut sắp ra đi theo giấy gọi và muốn được gặp anh trước khi đi.
Cô dẫn anh theo cầu thang bí mật đi xuống phía dưới, sau đó lách qua cánh cửa chiếc tủ âm tường đã từng quen thuộc đối với anh. Từ phòng khách của bác sĩ trên tầng một vẳng đến tiếng ồn ào của nhiều giọng nói. Đi Nankhu dẫn anh vào phòng ngủ của mình, bên cạnh ô cửa sổ đã thấy có bày một bàn ăn dành cho ba người.
Nkôzi nhìn ra cửa sổ và nhớ lại chuyện đã xảy ra giữa anh và Đi Nankhu trong căn phòng này một vài giờ trước đây. Dường như đoán được ý nghĩ của anh, cô áp sát người vào anh và họ ôm ghì lấy nhau. Đây là vòng ôm trìu mến, dịu dàng, không đượm một chút ham muốn xác thịt nào.
- Trong thời đại hiện nay, ở đất nước của chúng ta không có chỗ cho những tình cảm tương tự - Cô nói một cách bình thản.
Anh cười khe khẽ và điều đó đã làm cho cô cảm thấy dễ chịu.
- Một ngày bắt đầu, - anh nói, - khi những người đàn ông xuất hiện, họ sẽ nhận ra và đáp ứng thích hợp với những yêu cầu của địa điểm và thời gian. Lạy trời, đến chừng ấy thì tôi cũng không còn sống nữa. - Anh im lặng một thoáng và lại tiếp tục nói, hoàn toàn nghiêm túc. - Vâng, anh không nói đùa đâu: nếu một ngày bắt đầu thực sự, khi con người đưa lôgic vào cảm xúc của mình thì thế giới bị lệ thuộc vào uy lực của khoa học, sẽ trở nên xấu xa và độc ác. Bởi vì một trong những phẩm chất cuối cùng của những người đàn ông là bao giờ cũng giữ nguyên niềm khao khát, hết sức vô lý, tạo nên những mơ ước hão huyền và những câu chuyện thần thoại. Sự tồn tại của Chúa, của tình yêu, của cái đẹp và của chân lý không thể nào chứng minh được bằng con đường khoa học… Anh lập luận như một kẻ phản động bất trị, đúng không?
- Đúng. Nhưng em thích cách suy luận của anh. Chỉ khổ một nỗi là chúng làm cho công việc phức tạp hơn nhiều… Đavut kia rồi.
Ban ngày tầm vóc của Đavut hóa ra là thấp hơn Nkôzi và không sáng láng đến mức như lần đầu tiên họ gặp nhau ở bên cạnh đồn điền mía vào cái đêm cách nay khá lâu rồi. Lúc bấy giờ bác sĩ khiến cho anh thấy ông là một người phi thường, rất cao thượng, hơi chua cay và tuyệt đối điềm đạm. Nhưng giờ thì con người phi thường ấy lại có vẻ như là một con người hết sức bình thường, hơn nữa còn là người đầy lo âu. Ngay cả giọng nói của ông cũng thay đổi, không còn vẻ ân cần làm yên tâm lòng người như trước. Duy chỉ có cái bắt tay là vẫn còn mạnh mẽ hệt như hồi hai người mới gặp nhau.
- Rất vui được thấy anh mạnh khỏe! - Bác sĩ nói. - Các đồng chí ở Johannesburg nhận định rằng anh đang làm một công việc hết sức quan trọng và yêu cầu chuyển đến anh điều đó.
- Nhưng tôi đã làm cho anh phải bận tâm nhiều.
- Đâu có. Vexthiuzen là khâu yếu duy nhất - điều đó chúng tôi đã biết - là cái mắt xích dễ bị thương tổn nhất trong toàn bộ dây xích.
- Và cái mắt xích yếu nhất ấy đã bị chặt đứt.
Nankhu nhận thấy vị đắng cay trong lời nói của Nkôzi. Ông chăm chăm nhìn anh và nghĩ: May cho cậu là cậu còn có thể bày tỏ được sự bất mãn riêng tư của mình.
- Cố nhiên, người ta đã giải thích cho anh…
- Rất dễ hiểu, - Nkôzi lẩm bẩm. - Cố nhiên đó chẳng qua chỉ là sự thanh minh.
- Anh đã nói tất cả điều đó với Xêmmi phải không?
- Phải… Xin lỗi. Tôi không muốn làm cho anh bực mình, bởi tôi tin rằng tất cả chuyện đó đối với anh chẳng dễ chịu gì.
- Xin anh chớ nên quên rằng Xêmmi là bạn. Anh ta cũng chẳng dễ chịu gì. Thậm chí, có lẽ anh ta còn vất vả hơn. Anh ấy là cốt cán, mà lại là cốt cán có lương tri thì số phận bao giờ cũng vất vả hơn. Nếu chỉ là để giải thích thì chẳng cần gì trong đó cả.
Kixxi đem thức ăn đến. Đi Nankhu sớt chúng ra đĩa. Nankhu mải mê nhìn ra cửa sổ, sau đó bắt đầu ăn. Nkôzi làm theo ông.
Đi Nankhu qua lại khắp phòng với tách trà trên tay và chỉ có Đavut, vì là anh của cô, mới nhận thấy sự thay đổi rõ rệt trong dáng đi của cô. Cô bước đi đàng hoàng như cô chẳng có gì cần phải che giấu, hệt như tật thọt chân là hết sức tự nhiên và giống như dáng đi của một người khỏe mạnh. Ông ném cái nhìn về phía Nkôzi: Chà, chẳng có gì hiện ra trên nét mặt cậu ta cả.
- Anh ạ, - Đi Nankhu nói - con người này tin vào những câu chuyện thần thoại và những điều mơ ước viển vông, vào thần thánh và tình yêu, vào cái đẹp và chân lý.
Nankhu gật đầu với em gái và mỉm cười.
- Anh đã nghi ngờ điều ấy ngay từ buổi gặp đầu tiên của chúng ta. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh chúng ta, lòng tin trong những trường hợp tương tự, rủi thay, chỉ làm cho cuộc sống thêm rắc rối.
- Thì chính em cũng đã nói như thế. - Cô vừa nói vừa quay về phía Nkôzi để rót nước trà cho anh.
“Và em, cô em nhỏ bé, em cũng sẵn sàng tin với cậu ta” - Nankhu nghĩ và hỏi:
- Thế anh ta trả lời em thế nào, cô em yêu quý?
- Anh ấy nói là, ngay sau khi chúng ta thôi không tin ở điều đó nữa thì thế giới sẽ trở nên xấu xa và độc ác hoặc là có cái gì đó tương tự như vậy.
- Còn cô - Nkôzi chen vào - thì nói rằng thế giới cũng đã trở nên như vậy rồi và thậm chí còn xấu xa hơn nhiều, trong bất cứ trường hợp nào, ở đây, tại xứ sở này.
Đi Nankhu nhận thấy ông anh của mình hiểu Nkôzi không kém gì cô, và về phần mình, Nkôzi cũng đã hiểu được hai người.
- Thế anh đã nói gì với cô ấy? - Nankhu hỏi khẽ.
Nkôzi nhận tách trà từ tay cô gái và tủm tỉm cười.
- Không hề nói gì cả - Anh đáp lại cũng khe khẽ như vậy. - Trước hết tôi biết tin về Vexthiuzen thì tôi dễ trả lời cô ấy hơn. Nhưng giờ thì tôi nghi ngờ tính chính xác của câu trả lời này.
Nankhu ngừng ăn.
- Chính trong chuyện này có cả sai lầm của anh đấy, anh bạn của tôi ạ. Bầu trời tối đen cũng không có cơ sở để cả quyết rằng mãi mãi vẫn là đêm tối.
- Nhưng vấn đề không phải ở chỗ là ánh sáng sẽ đến thay thế cho bóng tối. Điều chủ yếu là nó sẽ như thế nào, cái ngày sắp tới ấy.
- Nhưng dù sao đi nữa thì trước hết cũng cần phải tin tưởng hoàn toàn vào ngày sắp tới chứ!
- Còn một điều quan trọng hơn nữa là chúng ta đặt ý nghĩa nào vào trong từ ngày ấy nếu anh chỉ có ý muốn nói đến sự tồn tại thảm thương…
- Không nói đến chuyện đó, - Nankhu cắt lời anh - nếu chuyện đã như thế thì không đáng đấu tranh. Chính vì ý nghĩa của từ ngày rộng hơn nhiều mà chúng ta tranh đấu.
- Và anh khẳng định điều đó, mặc dù là đối với Vexthiuzen?
- Thậm chí đối với một ngàn Vexthiuzen đi nữa, với điều kiện là chúng ta phải giữ vững được chính cái niềm tin mà anh đã nói với Đi.
Đi Nankhu giật mình:
- Anh muốn nói đến những mơ ước, đến những câu chuyện thần thoại, đến Chúa và mọi thứ khác?
- Đúng.
- Tại sao chưa bao giờ anh nói cho em nghe chuyện đó?
- Bởi vì chuyện đó quả thực là phức tạp.
- Bây giờ anh nói ra để làm gì?
- Thế nên anh đã không nói. Ấy là tự em khơi ra đấy chứ. - Nankhu hướng về phía Nkôzi, tiếp tục nói - Cuộc tranh luận về mục đích và phương tiện đã thu hút một cách kỳ lạ khi nào nó vẫn giữ nguyên là một cuộc tranh luận. Những tiền đề có thể là đúng hoặc sai, nhưng lựa chọn giữa cái thiện và cái ác cần phải luôn luôn trung thực. Tuy nhiên đòi hỏi chuyển từ lời nói sang việc làm, với ý nghĩa là sự tiếp cận thông thường, hóa ra là không thích dụng tùy theo hoàn cảnh này khác, hành động có thể là đúng hoặc không đúng, nó có thể chứa đựng trong bản thân cả cái thiện lẫn cái ác. Điều chủ yếu là sự nhận định của chúng ta phải sáng suốt và niềm tin vào mơ ước phải đủ vững chắc, lúc đó cái thiện trên đĩa cân sẽ nặng hơn cái ác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta phải mạo hiểm, chúng ta gắn chặt niềm hy vọng của chúng ta với nó. Chúng tôi có thể bảo đảm tới mức tối đa rằng, đây cũng là toàn bộ niềm hy vọng của chúng tôi, hành động của chúng tôi hướng đến điều thiện chứ không phải là điều ác. Nhưng niềm hy vọng đó không bao giờ thực hiện được trọn vẹn, và vì thế mà thích sự thụ động hơn là những hành động tích cực. Bởi vì, nếu một người không làm gì cả thì anh ta tránh được nguy cơ phạm sai lầm hoặc là tránh được việc làm sẽ gây nên tội ác.
- Tôi không bác bỏ dù chỉ là một trong số những ý kiến của anh, - Nkôzi nói, - điều đó chắc anh hiểu, và thực chất về những bất đồng của tôi, tôi hy vọng rằng anh cũng đã hiểu.
- Anh muốn nói rằng trong diễn tiến cuộc đấu tranh chống lại cái ác mà anh đang dùng đến…
- Hay là buộc phải dùng đến...
- Hay là buộc phải dùng đến những phương pháp ẩn giấu trong mình chính cái ác mà các anh đang chống lại. Đây là điều tôi muốn nói với anh: Nếu như mục đích cuối cùng là cái thiện thì không thể đòi hỏi gì hơn được. Ngoài ra, mỗi người đều có sự lựa chọn riêng của mình, mà ở đây, ở Nam Phi này, sự lựa chọn đã trở thành một công việc giản đơn một cách đau đớn.
- Anh đã có sự lựa chọn của mình - Nkôzi phản đối - và tôi cũng thế. Nếu không thì tôi đã không đến đây. Tuy nhiên vẫn còn là ít nếu mới chỉ là quyết định hoặc chỉ là làm nhẹ bớt cách giải quyết mọi vấn đề.
- Mỗi người đều có sự nghi ngờ của riêng mình - Nankhu tóm gọn, có phần bực tức.
- Và điều đó đưa chúng ta trở về với những mơ ước viển vông và mọi thứ tương tự. - Đi chêm vào.
- Và trở về với công việc hàng đầu của chúng ta, - Nankhu nói. - Sau khi việc ấy xảy ra, chúng ta buộc phải xem xét lại toàn bộ kế hoạch của mình. Hành trình đã vạch ra từ đầu đối với chúng ta chấm dứt từ bây giờ.
- Về chuyện này Naiđu đã có nói với tôi rồi - Nkôzi đáp lại.
- Cần phải quyết định sẽ làm gì tiếp theo. Trước khi các ngài ở cơ quan An ninh xuất hiện, tôi dự tính chúng ta còn được một ít thời gian nữa, có thể là suốt cả tuần, để cân nhắc lại mọi chuyện. Giờ thì tôi không còn tin vào điều đó nữa. Chắc chắn là họ đang bao vây khu vực này và mở đầu các cuộc săn bắt một cách có hệ thống. Anh hãy chọn một nơi mà anh muốn ở, trong khu vực bị vây hãm hoặc là ngoài phạm vi của nó? Chắc là ở đấy anh sẽ được an tâm. Tuy nhiên tình thế có thể khác: một trường hợp ngẫu nhiên nào đó, một sự sơ suất nhỏ nhặt nào đó, một người nào đó hoặc bép xép hoặc không chịu nổi cực hình mà nói ra, thế là chỗ ở của anh sẽ bị lộ.
- Tôi muốn đi khỏi đây! - Nkôzi nói, không đắn đo.
Cả Đi Nankhu lẫn bác sĩ đều lấy làm ngạc nhiên vì câu trả lời quá nhanh của anh.
- Nhưng tại sao? - Đi Nankhu hỏi với vẻ sửng sốt.
Với vẻ tò mò, Nankhu hết nhìn em rồi lại nhìn Nkôzi, rồi nói:
- Trong khi anh ở đây với chúng tôi thì khả năng bị bắt và được tự do của anh đều như nhau. Nếu anh rời khỏi đây thì chẳng mấy chốc sẽ bị bắt và chỉ có hai mươi phần trăm hy vọng thoát khỏi bọn chúng. Anh hãy nghe theo lời khuyên của tôi, anh bạn ạ, hãy ở lại đây với chúng tôi!
- Chẳng lẽ tôi lại được quyền chọn lựa? - Nkôzi hỏi.
- Trong phạm vi hợp lý thì được.
- Ý tôi muốn nói là ở đây hay là ra khỏi khu phố của các anh.
- Vâng… nhưng cũng cần quyết định sao cho thật là hợp lý. Chúng tôi không thể cho phép anh rời khỏi nhà khi biết chắc người ta sẽ bắt được anh. Đấy cũng là một đòn giáng xuống đầu chúng tôi và cả tổ chức của chúng tôi.
- Tôi hiểu… Thế các anh không thể chuyển tôi đến một nơi nào đó được sao?
- Khó nói lắm. Biết đi đâu được?
Sau một lúc phân vân, Nkôzi nói:
- Đến một làng của người Phi, cách đây khoảng chừng từ sáu mươi đến một trăm dặm. Đấy là một vùng chăn nuôi trâu bò nằm trên đường đi Xuazilenđ.
- Anh có vẻ biết rõ nơi ấy. - Nankhu nhận xét.
- Cũng là lẽ tự nhiên thôi. Thời niên thiếu một nửa tôi sống ở đấy, một nửa sống ở đây, cách nơi xuống xe không xa lắm. Ông bác tôi là tù trưởng của cái làng ấy.
- Tôi biết - Nankhu nói.
- Anh biết ư? - Nkôzi ngạc nhiên.
- Phải, tôi biết. Chúng tôi biết rõ là đằng khác. Xin anh cho biết, anh có giữ mối liên hệ với ông bác của mình khi anh đã sống ở nơi đất khách quê người không?
- Không. Nhưng chuyện ấy thì có ý nghĩa gì?
Đi Nankhu không nín được nữa:
- Lạy trời, nói cho anh ấy nghe đi, Đavut!
- Ông bác yêu quý của anh - Nankhu thốt lên bằng giọng lạnh lùng - là kẻ thù của phong trào chúng tôi. Tôi không muốn nói là kẻ thù của người Ấn Độ mà là của phong trào Dân tộc Phi nói chung. Chính quyền đã bổ nhiệm ông ta làm tù trưởng của làng. Ông ta là nhân viên trung thành của Chính phủ. Anh chỉ cần xuất hiện trong làng chưa đầy một tiếng đồng hồ là anh đã rơi vào tay của bọn cảnh sát. Nhân tiện nói thêm, ông ta là một trong những người đứng đầu danh sách chúng tôi sẽ phải thanh toán ngay khi nào có khả năng.
Chính Nkôzi cũng lấy làm lạ vì anh đã tin chuyện ấy một cách dễ dàng. Ngay từ thời thơ ấu Nkôzi đã yêu mến người bác này. Ân cần, sẵn lòng giúp đỡ mọi người và là người thích mơ mộng, ông bác đã làm cho anh thấy gần gũi và quý mến hơn cả người cha. Và sau cái chết của người cha, ông bác trở về làng, Nkôzi đã tìm thấy một thế giới mới. Ông bác yêu quý đã dạy cho Nkôzi biết nhìn, biết mơ ước và biết cảm xúc. Thế mà bỗng nhiên người ta lại nói với anh rằng con người ấy là một kẻ phản bội và trong đầu anh cũng không hề nảy ra ý định phản đối.
Đi Nankhu đặt tách trà xuống, bước đến sát Nkôzi và quan sát, tất nhiên là ở phía sau để không làm anh mếch lòng. Đavut Nankhu quay người, nhìn ra bên ngoài cửa sổ.
- Vậy thì, cái làng ấy coi như đã mất. - Nkôzi nói một cách lơ đễnh. - Nhưng trước kia ông ấy tốt với tôi lắm, ông bác yêu mến của tôi ấy.
Vẫn nhìn ra cửa sổ như trước, Nankhu nói:
- Người ta nói với chúng tôi như vậy nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả. Không có ai trong số chúng tôi xác nhận được lòng tốt của ông ta. Chúng tôi còn chưa biết anh.
- Nhưng giờ thì biết rồi, cả anh lẫn tổ chức - Anh không thể nén được cơn tức giận.
- Tôi không có quyền nói nhân danh tổ chức - Nankhu điềm nhiên cãi lại. - Và tôi cũng không có khả năng để cả quyết nói rằng tôi biết rõ anh nhưng tôi hiểu Đi. Và cô ấy, chắc có lẽ cũng hiểu anh, - Ông chần chừ, sau đó nói thêm bằng giọng vô tư. - Trong trường hợp đặc biệt và nguy hiểm, bằng cách nào đó người phụ nữ có thể hiểu được đàn ông.
Người phụ nữ rụt rè chạm vào anh, thận trọng, dường như muốn hỏi, liệu sự bày tỏ tình cảm của mình với người khác như thế này có hay ho gì không. Sự đụng chạm này khó khăn lắm mới nhận ra - cô chỉ đưa những ngón tay lướt trên tay anh, nhưng anh vẫn lãnh đạm, lúc ấy cô vội vàng rụt tay lại và tỏ thái độ bằng cách rời xa anh. Anh tỏ vẻ thờ ơ, làm như đang quan sát những gì đang diễn ra chung quanh, dường như chuyện đó không hề đụng chạm gì đến anh. Mối quan hệ giữa con người với nhau sẽ không thể có được nếu thiếu đi những biểu hiện hết sức nhỏ nhặt - anh khẳng định và thôi không còn nghĩ đến chuyện này nữa.
“Thế là - anh tự nhủ - hình bóng thân yêu mà ngươi gìn giữ trong tim tới gần nửa cuộc đời, chỉ trong vài phút đồng hồ đã hóa thành vô vị. Đối với việc này chỉ cần hai ba câu là đủ. Và ngươi có thể chỉ trả lời rằng ông ấy đã tốt với ngươi vì ngươi biết rằng khóc than cho một hình bóng đã chết thì cay đắng biết chừng nào”.
Đavut rời mắt khỏi cửa sổ và nhìn chiếc đồng hồ đặt trên chiếc bàn con ngay bên cạnh giường của Đi.
- Cần phải quyết định đi thôi, đã đến lúc tôi phải đi thăm bệnh nhân rồi.
- Dù thế nào chăng nữa, tôi cũng không muốn bị bắt trong nhà của các anh.
- Ở đây anh được yên ổn hơn so với bất cứ nơi nào khác.
- Tôi hiểu, nhưng tôi không muốn mạo hiểm.
- Ở đâu thì anh cũng phải mạo hiểm cả, nhưng ở đây mức độ của sự mạo hiểm là thấp nhất.
- Tôi hiểu điều đó, nhưng tôi vẫn không muốn.
Nankhu đưa mắt nhìn em gái một cách dò xét và nói với vẻ cay đắng khó nhận ra:
- Chắc là em với Xêmmi đã thuyết phục rồi thì phải, cô em gái yêu quý của tôi. Thậm chí là van nài chứ?
- Gần giống như là những kẻ ăn mày ấy, - Đi Nankhu cúi đầu, nói khẽ.
Hai người đàn ông cảm thấy dường như cô co rúm lại và trở nên buồn rầu hẳn. Nankhu nói:
- Có những điều chúng tôi phải làm không theo ý mình. Ham sống, không phải là động lực duy nhất. Cũng không quan trọng đến việc nói về nhiều người hoặc một người.
- Anh nói với tôi chuyện đó để làm gì? - Nkôzi phản đối.
Nankhu ngẫm nghĩ một lát rồi lắc đầu:
- Rõ ràng điều đó chẳng liên quan gì đến anh, tuy nhiên nó lại liên quan đến tôi và tất cả chúng tôi. Những cuộc truy lùng đôi khi xảy ra hết sức tàn khốc.
“Quả thực - Nkôzi nghĩ - tôi có vẻ như đã quên những cuộc truy lùng. Và cũng quên cả cái thiểu số người ấy. Nhiều người trong số chúng tôi cũng quên bẵng đi”.
- Chúng ta cùng đang hành động không theo ý mình. - Anh nói. - Chính vì vậy tôi cho là không cần hãm anh và những người gần gũi của anh vào vòng nguy hiểm đáng ra có thể còn tránh được. Tôi cần phải lựa chọn và khả năng của tôi ít ỏi và bị hạn chế đến mức tôi chỉ cảm thấy mình là một con người khi còn được sự chọn lựa. Nhân tiện tôi còn muốn nói thêm rằng tôi sẵn sàng gánh chịu phần lầm lỗi của dân tộc tôi trước các anh và cố gắng chuộc những tội lỗi ấy.
- Được rồi. Nhưng mà anh sẽ đi đâu?
- Điều đó không quan trọng. Quan trọng là chuyện trao tôi từ tay người Ấn sang tay người Phi sao cho sớm nhất, và khi ấy, dù bất cứ điều gì xảy ra thì tội lỗi cũng sẽ không rơi vào những người Ấn. Không được để cho cảnh sát tóm được tôi ở đây, nếu chúng nghĩ đến chuyện lục soát ở khu vực này.
- Mối quan hệ của chúng tôi với những người Phi ở đây khá là phức tạp. Nhóm Natan bị ảnh hưởng của những người Liên Phi, những người chủ trương bất hợp tác. Chúng tôi không thể yêu cầu họ giúp đỡ, cũng không thể nói lộ ra là anh đang ở đây.
- Ra thế đấy!
- Vâng. Nhưng một người bạn da trắng của chúng tôi có thể thông qua những người bạn đáng tin cậy liên lạc bằng dây nói với Johannesburg, và, nếu như được phép của chính Hội đồng, họ sẽ ra chỉ thị cần thiết cho anh ta thực hiện.
Có tiếng gõ cửa và tiếp đó là cái đầu của Điki Najaccar thò vào:
- Nỗi lo sợ của ngài đã được xác nhận, thưa bác sĩ. Có tin bọn chúng đã giăng bẫy chung quanh chúng ta.
- Được rồi, Điki. Hãy báo cho Xêmmi và nói với anh ấy rằng tôi mời anh ấy đến gặp tôi ở chỗ đã quy định.
- Rõ, thưa bác sĩ!
- Bao giờ thì có thể nhận được chỉ thị của tổ chức bí mật?
- Hơn mười hai tiếng đồng hồ, tôi nghĩ, không thể sớm hơn được. Cần phải liên lạc với nhiều người ở đủ mọi chỗ khác nhau, trước khi cách giải quyết được chuyển đến đây với hình thức thế nào đó để không một ai dám cưỡng lại.
- Thế những cuộc vây ráp đã bắt đầu chưa?
- Rồi. Dù thế nào thì anh cũng phải ở lại đây.
Nkôzi lắc đầu.
- Không, anh bạn ạ! Tôi không muốn và anh cũng không thể ép buộc tôi được.
Nankhu nhún vai một cách bất lực.
- Đi à, em hãy nói với anh ta đi… Họ đang tìm kiếm anh ta khắp nơi! Chẳng lẽ anh ta không hiểu điều đó hay sao? Đi, em hãy giải thích cho anh ta nghe.
- Chẳng ăn thua gì đâu, Đavut ạ. Nhưng, anh hãy nghe đây, em có thể đưa anh ấy đến một cái trại nhỏ ở trong núi - cô giải thích thêm cho Nkôzi - cách ly với toàn thế giới. Khu dân cư gần nhất cách trại này khoảng chừng hai mươi dặm, đấy là lãnh địa của Nanđa trong thung lũng. Chẳng ai nghĩ đến chuyện dòm ngó gì đến chỗ ấy cả.
Nankhu như tươi tỉnh hẳn lên.
- Tôi cảm thấy là Đi đã nghĩ không tồi. Anh có thể cứ đến ở đấy cho đến khi nào mọi người nhận được chỉ thị của Hội đồng. Chỉ có điều là không biết làm thế nào để đưa anh đến đấy?
- Em sẽ đưa anh ấy đi. - Đi tự nguyện nhận.
- Không, thế không được đâu - Nankhu bác bỏ. - Nếu em biến mất khỏi tầm mắt dù chỉ trong một giờ đồng hồ, họ sẽ lập tức nghi ngờ là có cái gì không ổn. Họ sẽ rình chờ một cái cớ nào đó để lục soát khắp nơi. Tốt nhất là Điki sẽ đi với anh ấy, - ông nói, sau khi đã suy nghĩ chín chắn. - đối với họ thì Điki là dân phu phen hèn hạ giống như cả ngàn người cu li khác. Trong thời gian đó, phải tìm một chàng trai khác giống như Điki. Phải, phải rồi, cần phải làm việc này ngay lập tức. Đi, em hãy hóa trang cho mister Nkôzi trở thành người Ấn Độ, em biết làm việc này mà. Cần phải làm cho da của anh ấy khác màu đi. Xin lỗi nhé, anh bạn, nhưng cần phải biến anh thành một người theo đạo Hinđu đẳng cấp thấp. Anh cứ yên tâm, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì cần phải làm. Thôi, đã đến giờ tôi phải đi rồi! - Ông siết mạnh tay Nkôzi một cách nồng nhiệt, sau đó vỗ vỗ vai cô em gái và bước vội ra khỏi phòng.
- Thật đáng tiếc - Đi Nankhu nói - em không thể đi cùng với anh. Tuy nhiên anh ấy nói đúng. Em không muốn để anh đi một mình chút nào, nhưng họ có khả năng đưa anh đến trại. Đấy là những con người tuyệt diệu… Sắp đến thời kỳ ấy chưa, lúc mà con người không cần phải sợ hãi, không cần phải luôn luôn đề phòng, không cần phải lúc nào cũng lẩn trốn.
- Sắp đến rồi, anh tin như vậy.
- Khi nào thì sự khác biệt giữa người Phi và người Ấn không còn nữa?
- Anh cho rằng sẽ không có điều đó. Dù thế nào chăng nữa, trong cuộc sống của chúng ta vẫn phải luôn luôn có sự tồn tại của cả người Ấn, người Âu lẫn người Phi, mỗi người đều lệ thuộc vào những khuôn khổ thuộc nhóm của mình. Và điều đó không có gì đáng chê trách, bởi vì, anh hy vọng rằng từng nhóm một sẽ tôn trọng nhân phẩm của những người thuộc nhóm khác.
- Thế điều gì sẽ xảy ra với những người như anh với em? Em muốn nói đến tình cảm của chúng ta?
- Anh với em, chúng ta là thiểu số trong những nhóm dân tộc của chúng ta, còn em thì lại đi phán xét về chuyện tốt hay không tốt của cái xã hội liên quan đến phần thiểu số không bị lệ thuộc vào những nguyên tắc đã quy định, tiếp xúc với những người đại diện của các nhóm khác, thiết lập mối quan hệ bè bạn hoặc thân tình với họ.
- Thực tình có phải anh đang nghĩ rằng sẽ đến cái ngày mà người Phi coi người Ấn là những người Nam Phi mà không cần bất cứ điều kiện nào phải không?
- Em nói cái gì? Quả là anh chỉ có thể chịu trách nhiệm về bản thân mình thôi.
- Anh nói đúng.
- Nhân danh tương lai của đất nước, nhân danh hạnh phúc của những người châu Phi, anh hy vọng rằng một ngày như thế chắc chắn sẽ đến.
- Nếu không thì sao? - Cô không nói rằng nếu điều đó không xảy ra, dù chỉ là qua cách nhìn, thì tương lai của họ sẽ buồn thảm và đáng sợ biết bao. Cô chỉ cầu mong cho mối nghi ngờ của cô tan đi, bởi trong lòng cô hiện đầy lo âu.
- Nếu như không… - Anh chậm rãi nói nhưng tiếng gõ cửa cắt ngang lời anh.
- Xin lỗi miss Đi, - Điki Najacca nói - bác sĩ bảo đưa anh ấy đến trại - Anh đưa mắt ra hiệu về phía Nkôzi. - Đây này, đám mật thám đang đi lởn vởn xung quanh nhà và biện pháp duy nhất là rút ra khỏi đây, rồi lẩn vào đám giả nhân giả nghĩa ngu xuẩn đang lũ lượt kéo ra sông ấy.
- Điki! - Đi ngăn anh ta lại. - Không được phép gọi giáo dân là bọn ngu dốt.
Vẻ hối hận ngay lập tức hiện trên nét mặt Điki:
- Xin lỗi, miss Đi, nhưng chính họ thậm chí không bước chân vào nhà thờ. Thế đấy, cách duy nhất là lẻn ra khỏi chỗ này rồi nhập vào bọn họ, mà họ thì đã bắt đầu tập trung rồi.
- Chúng ta còn bao nhiêu thời gian? - Đi hỏi.
- Năm, à mười phút, - Điki đáp.
- Tốt. Hãy kêu Kixxi đến đây và bảo cô ta mang theo mọi thứ cần thiết để hóa trang. Còn anh, trong thời gian ấy, hãy đi kiếm cho ngài Nkôzi một bộ quần áo thích hợp.
Điki Najaccar biến mất và hầu như ngay lúc đó Kixxi xuất hiện với một cái khay nhỏ, bên trên bày những lọ con có nhãn hiệu và màu sắc khác nhau. Đi mời Nkôzi ngồi trước bàn trang điểm, và chẳng nói nửa lời, hai người phụ nữ bắt tay vào việc. Nkôzi ngó vào gương và thấy khuôn mặt của anh dần dần thâm đen lại và từ màu đồng hun phơn phớt vàng đã trở thành màu đen sạm. Mặt, cổ tay đều được bôi màu đen. Sau đó, khi mọi thứ đã xong xuôi, Đi Nankhu tẩm ướt nước ở tay và xoa xoa lên má Nkôzi. Không thấy có một tí vết tích nào của màu sắc lưu lại trên lòng bàn tay.
- Phòng lúc trời mưa bất ngờ hoặc là anh buộc phải ngâm mình dưới sông - Cô giải thích.
- Thế nếu muốn xóa màu sắc ấy đi thì phải làm thế nào? - Anh tò mò hỏi.
- Dần dần tự nó sẽ mất đi. Màu sắc giữ không quá năm ngày, nhưng chúng em có một loại dung dịch đặc biệt, trong trường hợp cần phải xóa màu sớm hơn. Giờ thì Kixxi thay đổi nét mặt của anh, chị ấy là chuyên viên có cỡ về mặt này; còn em sẽ lo đôi tay, làm cho chúng biến thành màu đen.
Kixxi vất vả thay đổi đường nét trên khuôn mặt anh. Chị thay đổi hình dạng cái mũi, những nét vẽ màu sắc xếp chồng lên lúc thì ở chỗ này, lúc lại ở chỗ khác, và cô đã hóa trang xong vầng trán, còn mặt thì lâu hơn. Trong khi chị thay đổi vẻ ngoài đôi môi mòng mọng và cặp mắt, anh chú tâm nghiên cứu khuôn mặt của chị. “Khó có thể tin được rằng - anh nghĩ - hai người phụ nữ này là người Ấn Độ”. Kixxi là một người đen đủi và gầy gò với nét mặt lãnh đạm của người phụ nữ Barôlông kiêu hãnh. Những người này thường có cặp mắt của con rắn chết, đôi vai rộng gầy giơ xương, chiếc cổ gầy ngẵng xấu xí, bộ ngực lép kẹp, động tác di chuyển vụng về và thô kệch. Tuy nhiên, tất cả những người phụ nữ Barôlông, thậm chí cả những người gầy gò nhất đi nữa cũng đều có những bộ ngực na ná như một thứ gì đó, thậm chí khi cặp vú ấy đã nhão nhoẹt và sệ xuống đến tận thắt lưng, Kixxi thì hoàn toàn phẳng lì. Chiếc khăn, buộc theo kiểu Phi châu, trùm kín toàn bộ mái tóc, duy có màu đen mun của làn da chứng tỏ rằng cô ta không phải xuất thân từ những người Barôlông. Không một ai trong số người Barôlông, dù là đàn ông hay đàn bà, lại đen đến mức như Điki Najaccar, Xêmmi Naiđu hay ngay như bản thân anh trong lớp hóa trang cũng không bằng. Kixxi có đôi bàn tay khéo léo với những ngón tay thon dài, tuy nhiên Nkôzi cảm thấy chúng như đã mất hết sinh khí, hệt như cặp mắt của chị. Còn Đi, hoàn toàn là chuyện khác. Trong khi cô xoa màu lên tay anh, mỗi một đụng chạm của cô gợi lên trong anh một thứ rung động đáp lại. Anh cảm thấy như nhịp sống đang truyền qua anh từ những ngón tay cô. Anh không hề cảm thấy những cảm giác tương tự do sự đụng chạm của Kixxi. “Thú vị thật - anh tự hỏi - đó là do mình không có gì hấp dẫn đối với chị ta hay vì đối với mình chị ta chỉ là một vật thể chẳng có chút sinh khí, ít nhất cũng là chị ta coi như vậy?”. Nếu không có Đi ở đây thì anh cố gắng tìm hiểu điều này. Người đàn bà này và những người tương tự như chị ta nhìn nhận mối quan hệ với những nhóm thuộc đẳng cấp khác có phần đơn giản hơn những người như Đi. Mà cũng có thể anh lầm thì sao? Suy nghĩ thật kỹ, anh bước thẳng đến cái kết luận nghịch hẳn. Các thiên kiến sống đặc biệt dai dẳng ở những người chậm phát triển: lối sống càng đơn giản bao nhiêu thì những tập quán của nhóm chủng tộc này nọ càng được bảo trì nghiêm ngặt bấy nhiêu bởi toàn bộ hay một bộ phận đại diện của nhóm. Tuy nhiên, những người bảo vệ thiên kiến hăng hái nhất, cũng hệt như các đối thủ hung hăng nhất của họ, hầu như bao giờ cũng xuất thân từ bộ phận phát triển nhất, có thế lực và đặc quyền nhất của nhóm này hay nhóm khác, của xã hội này hay xã hội khác.
- Anh đang nghĩ gì thế? - Đi hỏi.
- Về nguồn gốc của những thiên kiến.
- Kixxi đã gợi cho anh những ý nghĩ này?
- Kỳ thật, không biết có phải đúng như thế không? Song cứ nhìn chị ta là anh lại bắt đầu ngẫm đến điều đó.
- Dành thì giờ và điều kiện để giao tiếp là rất quan trọng, - Đi trầm ngâm nói. - Chúng ta không hiểu nhau, và vì vậy không hiểu chính bản thân mình lẫn ý nghĩ của mình.
Kixxi hơi lùi về một bên để đánh giá kết quả công việc của mình, sau đó nhìn Đi Nankhu tỏ vẻ muốn hỏi. Bị thu hút bởi ý nghĩ về nguồn gốc của những thiên kiến, Đi chỉ mệt mỏi nhún vai.
- Tuyệt thật, Kixxi. Anh ấy đã thay đổi hẳn!
Tuy nhiên Kixxi suy diễn điệu bộ của Đi theo ý mình.
- Nhưng mà cô có vẻ không hài lòng, miss Đi!
- Tôi đang nghĩ đến chuyện khác kia.
- Về những thiên kiến ấy à? - Kixxi thận trọng dò hỏi.
- Phải, Kixxi ạ, về những thiên kiến.
- Chúng ta sinh ra cùng với chúng, - Kixxi lạnh lùng nhận xét. - Và bao giờ cũng sẽ là như vậy.
Không chờ xem phản ứng tiếp theo sẽ như thế nào và Đi nói gì về chuyện đó, Kixxi dọn những lọ con và bước ra khỏi phòng.
Đi Nankhu ngồi vô cùng buồn bã. Nkôzi nhận thấy điều đó, và để không ngả theo tâm trạng của cô, anh cố quên chuyện thiên kiến đó đi. Anh bắt đầu nghĩ đến chuyện gì đang đợi anh, và càng nghĩ nhiều, trí não anh lại càng căng thẳng gấp bội.
Vì đã biết rõ là giờ đây do không còn cái cảm giác gần gũi nhau nên họ cảm thấy vừa gò bó vừa khó xử và nhận xét lẫn nhau theo quan điểm khác hẳn, lạnh nhạt và thờ ơ thế nào ấy. Thậm chí họ cũng chẳng buồn nói chuyện. Đi Nankhu đi lại chỗ chiếc cửa sổ nhỏ và quay lưng về phía Nkôzi. Anh quan sát hình bóng của cô trong gương, cố hình dung mình đội chiếc khăn kiểu Ấn Độ sẽ như thế nào. Sau khi hóa trang, ngay cả người mẹ thân yêu cũng không nhận ra anh, cho dù bà có đứng ngay bên cạnh. Chỉ có Đi là không lầm. Ở một nơi nào đó trong sâu thẳm của cảm xúc đã thoáng hiện lên điều gì đó và Đi đã hiểu ngay lập tức. Anh tha thiết mong tìm lại được sự gần gũi về mặt tâm hồn với cô, nhưng cô lại đứng quay lưng về phía anh, xa lạ và dửng dưng.
Phút im lặng ngắn ngủi có vẻ như vĩnh viễn, nhưng sau đó Điki đến và mang theo bộ quần áo có thể làm thay đổi hẳn hình dạng của Nkôzi. Anh hiểu rằng theo mệnh lệnh của họ, anh hoàn toàn không còn đủ thì giờ, và vội vàng đi chuẩn bị. Nkôzi về phòng mình, thay quần áo khác và quay trở lại chỗ Đi Nankhu. Cô bước lại gần chỗ anh và sửa lại chiếc khăn cho ngay ngắn.
Điki lại xuất hiện.
- Đã đến lúc đi rồi, thưa ngài!
Cho đến lúc này Đi mới như sực tỉnh. Cô nắm tay Nkôzi và có vẻ như chưa bao giờ xa rời anh. Cô nhìn anh, sắc mặt thay đổi và cắn chặt môi. Điki Najaccar đứng như bị thôi miên, cố không nhìn về phía hai người, nhưng đồng thời cũng không muốn bỏ sót dù chỉ là một chi tiết nhỏ nhất của màn kịch câm này… Ôi trời, cứ gọi là giống hệt như trong phim ấy! Ngay lúc ấy anh ta nhớ đến Xêmmi Naiđu to lớn. Xêmmi chưa bao giờ để lộ ra ngoài, nhưng Điki biết, điều anh ta mong muốn nhất trên đời là được Đi nhìn anh ta giống như giờ đây cô ấy đang nhìn anh chàng da đen bé nhỏ này.
- Đến lúc chúng ta phải đi rồi! - Điki Najaccar nhắc lại.
Cuối cùng rồi Đi cũng phải buông tay Nkôzi.
- Xin anh hãy bảo vệ anh ấy giúp, Điki nhé!
- Được mà, miss Đi!
- Hãy bảo vệ cho đến nơi đến chốn!
- Được…
- Anh ấy rất quý báu đối với tôi…
- Miss Đi…
- Điki, anh ấy đối với tôi là tất cả, tất cả mọi thứ trên thế gian này.
- Tôi hiểu, miss Đi!
Đi đột ngột quay người. Họ im lặng bước ra khỏi phòng và đi xuống cầu thang.
Điki Najaccar dẫn Nkôzi đi theo lối cửa sau. Tại hành lang, các bệnh nhân đang tụ tập chờ bác sĩ trở về. Nkôzi nhận thấy một người phụ nữ da màu với một đứa nhỏ, thằng bé chắc là lai Ấn Độ, tất cả số còn lại đều là người Ấn Độ - bé nhỏ, khốn khổ gầy còm làm sao ấy. Khi họ đi ngang qua nhà bếp, Kixxi và một cô gái tóc dài dáng người cao ráo kháu khỉnh quấn xà ri thoáng nhìn họ rồi lại tiếp tục làm việc như chẳng hề có gì xảy ra. Hương thơm đặc biệt của bột cà ri, của dầu rán, của các thứ rau cỏ và đồ gia vị bay thoang thoảng trong không khí.
Tuy nhiên, chỉ cần họ có mặt ở ngoài đường là thế giới lại hiện ra một cách lờ mờ trong sự đơn điệu: nơi đây, bao trùm lên toàn bộ là cảnh bần cùng thảm thương rất tiêu biểu đối với bất cứ vùng nào của các nước Á nhiệt đới và nhiệt đới, nơi những con người nghèo khổ đang sống cùng quẫn và bị bỏ rơi. Ở các xứ lạnh, những khu phố của người nghèo khổ cũng tù mù và đơn điệu, nhưng mặt trời ở đấy không chiếu sáng một cách chói chang đến thế, gay gắt và rạch ròi đến thế và không nhẫn tâm đến thế, bởi vì màu sắc của sự nghèo nàn dường như đã bị dập tắt. Chính ở các nước Á nhiệt đới và nhiệt đới đủ các loại rác rưởi, đồ xấu xa và sự bẩn thỉu lóe lên dưới ánh hào quang của mặt trời, đặc biệt là đập vào mắt một cách gay gắt. Và ngay cả mặt đất ở các xứ lạnh cũng ít khi thấy trơ trụi, bởi vì ở đấy không có cây cối có hình dạng đặc biệt xấu xí. Nhưng cảnh tượng nghèo nàn, nhất là ở phía trong những mảnh sân ở các nước nhiệt đới - nơi mà mặt trời thiêu đốt không thương tiếc cho đến những cọng cỏ cuối cùng, biến mặt đất thành một lớp sình lầy màu nâu - ở đấy mọi thứ đồ cặn bã đổ khắp nơi và ruồi đậu từng đàn. Mọi thứ bên trong của những cái sân này và những lối đi qua, theo lối mà Điki Najaccar đã gặp Nkôzi, tạo thành một cái sân chung nghèo nàn và mênh mông - sân sau của quốc gia - khu vực của những khu nhà ổ chuột. Một trong số nhiều khu, cực kỳ giống như mọi khu khác, bất kể người dân sống ở đó là ai - những người Ấn, những người da màu khác hay những người da đen, và ngay cả những mùi vị đặc thù của thức ăn và những tập quán khác nhau của riêng từng nhóm một - không thể làm lu mờ cái chính yếu đã làm cho chúng giống nhau. Thậm chí sự đơn điệu buồn tẻ và sự bần cùng thảm hại cũng in dấu lên những con người thoáng gặp trên đường. Dường như mặt trời cũng đã làm cho họ khô héo đi. Những con người cao lớn, tráng kiện như Điki Najaccar là ngoại lệ của hạnh phúc
Dần dần nhà cửa và người gặp cứ thưa dần. Cuối cùng họ nhìn thấy một đám rước đang nhốn nháo ở chỗ bờ sông. Từ nơi ấy những âm thanh khó nhận ra của tiếng sáo và tiếng trống vẳng đến. Bờ đối diện đột ngột nhô cao - ở đấy bắt đầu là thành phố, nơi sinh sống của những người da trắng. Vừa đúng lúc gió thổi về hướng ấy, đe dọa quấy rối cư dân thành phố bằng tiếng ồn ào do đám rước gây ra, nghĩa là lại dẫn đến những sự phản đối chống lại đám rước của ngoại nhân, chống lại mùi hôi thối và sự ồn ào mà kẻ có lỗi là những người Ấn Độ. Tờ báo địa phương, thậm chí có thể bắt đầu tranh đấu trong các bài xã luận của nó, để cho cái làng của bọn cu li bị đẩy ra xa hơn cái thành phố của những người da trắng.
- Cần phải đi nhanh lên, thưa ngài! - Điki Najaccar nói. Gọi người Phi bé nhỏ bằng ngài đối với anh ta lúc này là hoàn toàn tự nhiên. - Chúng ta đã đụng phải mấy tên mật vụ rồi, sắp tới sẽ còn đụng bọn chúng nhiều hơn nữa đấy. Cần phải đuổi kịp tốp ở đằng kia kìa! - Anh ta chỉ vào đám người đang đi ở phía trước. Cách họ ước chừng một dặm, bên lề của con đường lầy lội có mấy người đang đứng cạnh một chiếc xe hơi. - Bọn mật vụ đấy, - Điki nói - chúng nhất định sẽ giữ chúng ta lại, nếu chúng ta cứ đi riêng hai người như thế này. Chúng đang săn lùng ông đấy. Cần phải lẩn vào đám đông! - Nói đến đây Najaccar mỉm cười tinh nghịch theo kiểu trẻ con, ra tuồng như mọi chuyện sẽ đâu vào đấy cả thôi.
Họ bắt đầu đi nhanh hơn. Đám người ở phía trước bước chậm lại, giẫm chân tại chỗ và lại tiến lên.
- Quỷ tha ma bắt họ đi! - Điki Najaccar bực tức.
- Có chuyện gì thế?
- Bọn ngu ngốc đáng nguyền rủa! Họ dừng lại để chúng ta có thể đuổi kịp họ. Họ đã làm lộ chúng ta cho bọn mật vụ. Đúng cái điều tôi đã nói cho Xêmmi. Ngài Naiđu giao cho họ… nếu như, cố nhiên, bọn mật vụ không tóm chúng ta vì sự ngu ngốc của họ! Quỷ tha ma bắt họ đi!
- Vậy thì chúng ta phải đi nhanh hơn nữa để khỏi phải lặp lại mọi chuyện từ đầu.
Nkôzi định rảo chân bước, nhưng Điki Najaccar huých vào tay anh.
- Cẩn thận, thưa ngài! Hãy xem kìa, một tên mật vụ đang nhìn vào ống nhòm. Không cần phải vội!
Nkôzi buộc mình đi đều bước giống hệt như Điki. Đám người chuyển động chậm chạp, tuy nhiên muốn đuổi theo kịp họ cũng không phải dễ dàng gì.
Sự lo lắng của Điki truyền sang Nkôzi. Khi ấy có một người nào đó trong tốp đang đi ở phía trước ngoảnh lại nhìn và làm như chợt nhận ra người quen, giơ tay vẫy hai người rồi gọi những người đồng hành của mình và chỉ Điki và Nkôzi.
- Ngài hãy vẫy đáp lại họ đi, thưa ngài! - Điki Najaccar nói và tự mình cũng đưa tay vẫy. Tốp người dừng lại. Một người đàn ông mặc toàn đồ trắng và một người phụ nữ cùng xông tới ôm choàng lấy Nkôzi, tuôn vào anh hàng tràng những lời vô nghĩa. Đột nhiên anh nghe thấy một cách rõ ràng: “Hãy cười lên và làm ra vẻ như đang nói chuyện với chúng tôi!”. Hóa ra anh đang ở ngay trung tâm của một nhóm nhỏ.
Thế mà Nkôzi vẫn không nhận thấy, trong chốc lát họ đã đi ngang qua những tên mật vụ ăn mặc quần áo dân sự, đứng bên cạnh chiếc xe hơi, tuy nhiên anh linh cảm khá chắc chắn là trong chốc lát mối nguy hiểm sẽ qua đi bởi vì vòng người vây chặt cứng quanh anh bất ngờ giãn rộng ra.
Nói tóm lại, mối nguy hiểm chung, kẻ thù chung và mục tiêu chung tinh khôn hơn anh đã làm cho họ đoàn kết và xích lại gần nhau. Nhưng mối nguy hiểm đã qua đi, và rồi không có gì làm cho họ gần lại. Người phụ nữ bên trái vừa ra sức ôm ghì lấy anh, giờ đây đã không hề che giấu ý muốn lẩn đi đâu đó. Những người đàn ông, mặc dù không có những biểu hiện rõ ràng như vậy, nhưng cũng đã bắt đầu lỉnh xa, thành thử rốt cuộc anh vừa ở trung tâm của vòng người này, đi bên họ đồng thời lại vừa xa lạ với họ. Anh hiểu rằng, sự lạnh nhạt này là do bản năng, rằng vào đúng cái lúc họ bao bọc xung quanh anh và che chở cho anh, họ đã hành động một cách có ý thức, tuân theo lý trí, điều này tạo ra hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn. Tuy nhiên sự xa lánh vô ý thức cũng đã làm cho Nkôzi buồn phiền và anh muốn rời khỏi xứ sở này thật xa.
Nhưng Điki Najaccar xuất hiện và cảm giác cô đơn đã trôi qua. Dấn thêm một chút nữa, họ đã đi ngang hàng với đám rước và anh nghe rõ hàng trăm giọng tấu lên cùng một lúc khúc âm nhạc Ấn Độ khác lạ với nhạc cảm của anh. Tiếng nhạc khiến anh cảm thấy khó chịu, nghịch tai và chẳng êm ái chút nào cả. Điki Najaccar nói điều gì đó, nhưng vì tiếng ồn nên không thể nào hiểu được. Nkôzi ra điệu bộ rằng không nghe thấy. Điki dường như đã hiểu. Anh ta mỉm cười và Nkôzi lại thầm nhận xét Điki là một chàng trai dễ thương biết bao. Người phụ nữ vẫn còn ở lại mãi ngoài rìa của nhóm nhỏ như cũ, tuy nhiên những người đàn ông không còn lánh xa Nkôzi nữa và anh không còn cảm thấy bị cô lập cả về thể xác lẫn tinh thần, mặc dù anh đã ngờ rằng trong trường hợp này thiếu sự can thiệp của anh chàng Điki Najaccar trẻ tuổi thì không xong.
Đi ngang hàng với đám rước, họ chen vào chỗ dày đặc nhất giữa đám đông. Giờ thì họ đã là một phần của đám đông khổng lồ gồm những người da đen sạm mặc những bộ quần áo trắng. Đám đông đang chuyển động, dường như điều đó đã thành lệ từ đời xửa đời xưa, đến bờ sông để không biết là lần thứ bao nhiêu rồi, bày tỏ niềm khao khát bất di bất dịch quy phục một quyền năng tinh thần nào đó.
Nkôzi nghe thấy tiếng của Điki Najaccar:
- Mọi sự hiện vẫn bình thường. Chúng ta sẽ lưu lại đây cả ngày, sau đó sẽ chuyển sang hướng khác. Chỉ có điều thế này, thưa ngài. Ngài đừng lo lắng nếu không nhìn thấy tôi. Ở bên cạnh những người của mình thường xuyên đề phòng cẩn thận và quan tâm đến sự an toàn của ngài, sẽ chẳng có gì xấu xảy ra với ngài đâu. Đồng ý không?
- Đồng ý thôi, Điki!
Chàng Ấn trẻ tuổi rạng rỡ lên khi nghe Nkôzi gọi anh ta bằng tên.
- Nào, vậy thì tôi đi, thưa ngài. Xin đừng lo! Chúng ta sẽ ăn lót dạ ở gần sông. Chỉ tiếc một điều là không có gì uống cả. Chuyện này thì nguy hiểm đấy. Ở đây không phải tất cả đều là người của mình. Bọn mật vụ có thể sai đám điệp viên bám theo chúng ta.
- Tôi thì thiếu rượu cũng được, - Nkôzi nói.
- Kể ra ở chỗ sông này mà được nhâm nhi với các cậu ấy một chút thì cũng khoái, cố nhiên phải là lúc không có công việc như bây giờ.
- Rõ rồi! - Nkôzi đáp. - Nhưng thử nói xem, đám rước này là thế nào đấy?
- Một ngày hội tôn giáo nào đấy thôi, - Điki đáp bừa.
- Tôi hiểu, nhưng chính xác thì thế nào?
- Thủ lĩnh của họ là một ông già bé nhỏ gầy gò. Ngài hãy nhìn xem, ông ta đang đi đầu đám rước ở đằng kia kìa, và đang tuôn ra những lời lẽ tràng giang đại hải ấy, thưa ngài.
Đột nhiên Điki chỉ xuống phía dưới, về hướng bờ sông, ở đó họ bắt gặp một đám rước khác, hầu như cũng đông người như vậy, đang di chuyển: - Thế đấy, thưa ngài, ngay sau khi hai đám rước đi ngang nhau, chúng ta sẽ nhập vào đám rước kia. Chúng ta sẽ ở lại đây suốt cả ngày, đến giờ tản về nhà, chúng ta sẽ đi cùng họ.
Nụ cười thoáng hiện trên gương mặt Nkôzi. Phản ứng của Điki là rất kịp thời.
- Hãy nhìn con người cao lêu nghêu phía bên tay phải cạnh các cô gái ở đằng kia kìa, chỉ có điều nhìn thế nào để đừng tỏ ra lộ liễu quá. Ngài nhìn thấy chứ, thưa ngài?
- Tôi thấy rồi.
- Thưa ngài, đấy là viên cai Xingh ở phòng chính trị của ban điều tra hình sự Natan. Xin cứ an tâm, thưa ngài. Không nên hồi hộp. Tôi tính không nói, nhưng bây giờ lại nói, bởi vì chúng ta đã có thể yên tâm rồi.
- Tôi hiểu, - Nkôzi trầm ngâm nói. - Tôi thấy anh vất vả vì tôi. Xin lỗi.
- Ồ, với ngài thì hoàn toàn không có gì là vất vả cả, thưa ngài. Có một lần tôi từng phải dẫn một vị giáo sư người da trắng từ Johannesburg đến biên giới. Cực kỳ là thông minh, thưa ngài. Cứ nhìn ông ấy là thấy ngay lập tức. Đấy, với ông ấy mới thật là vất vả! Không sợ cái gì, cũng không hề biết cách xử sự cho êm ả. Chà, chính tôi lại bị khốn đốn nhiều kia chứ! Thế mà sau này vớ được, đúng là cái tay đáng ghét ấy đã viết một quyển sách xấu, đại loại nói là những người Ấn chúng tôi không bao giờ hòa thuận với người da đen cả!
- Thế anh đã đọc quyển sách ấy chưa?
- Chưa. Nhưng Xêmmi, ngài Xêmmi Naiđu, đã kể cho tôi… Thế nên với ngài, thì không có gì là vất vả cả, không có đâu. Còn viên cai Xingh ở Phòng chính trị của ban điều tra hình sự Natan cũng là một thành viên của tổ chức chúng tôi. Tuy nhiên ở đây có nhiều mật vụ, và anh ta theo dõi sao cho chúng không làm hại chúng ta. Vì thế xin đừng lo lắng gì cả, nhưng ngài hãy nhớ điều tôi đã nói với ngài. Được chứ, thưa ngài?
- Điki, được rồi. Tôi đã hiểu tất cả!
- Tuyệt lắm!
Điki đi tránh ra xa. Viên cai Xingh ở Phòng chính trị của ban điều tra hình sự Natan liếc nhìn Nkôzi và mất hút luôn. Một người phụ nữ trẻ tuổi tách khỏi nhóm bạn gái của mình và dường như ngẫu nhiên có mặt ở bên cạnh Nkôzi. Cô úp lòng bàn tay vào nhau rồi cúi người trước mặt anh theo kiểu chào cổ truyền của người Ấn Độ. Sau đó cô nhấc một trong những tràng hoa màu trắng từ bên mình ra và tròng nó vào cổ anh.
- Hãy nói với Điki rằng ở chỗ qua sông nguy hiểm! - Cô vội vã thì thào rồi cũng lỉnh ra xa. Và ngay lập tức sự êm ả đang bao trùm lên đám rước và chính họ đã bị phá vỡ. Tuy nhiên… tuy nhiên… Anh đưa mắt nhìn người phụ nữ không quen, dường như sự phấn chấn cao độ đã làm biến đổi khuôn mặt điềm tĩnh ngoan đạo của con người mới vừa rời khỏi chỗ anh một vài bước chân… Tuy nhiên…
NĂM
Họ đến trại vào lúc rạng đông. Sau một ngày lẩn quẩn bên sông và vượt qua cả đoạn đường dài, họ mệt lử người và trở nên lầm lì, ít nói. May mà nửa sau của chặng đường họ còn được ngồi trên chiếc Lenđrôvơ già nua xập xệ, dường như đã bị quẳng ra đống sắt vụn, vậy mà nó vẫn còn chạy được trên đường. Cuối cùng thì họ cũng bị quần cho một trận nhừ tử và về được đến trại thì đã quá khuya.
Chiếc Lenđrôvơ chờ họ bên cạnh ấp cuối cùng trong lãnh địa của Nanđa cho đến lúc mối nguy hiểm qua đi. Anh chàng thanh niên điều khiển chiếc xe là dân của ấp, gầy gò, cao và linh hoạt, có nước da đen men mét rất khó tả. Những trận ho khan thường xuyên làm khổ anh ta, mà anh ta không thể nào khắc phục được. Chàng trai lực lưỡng đi xe ngồi phía trước bên cạnh chàng thanh niên cũng cao và to lớn hệt như Xêmmi Naiđu, chỉ có điều không rắn chắc và nở nang bằng mà yếu ớt và mập bệu, mặc dù còn trẻ hơn Xêmmi. Tay mập ngồi với cái vẻ như là sẵn sàng bất cứ lúc nào cũng giằng lấy tay lái nếu như cơn ho hành hạ người lái xe. Và quả thật, ngay khi người lái xe bắt đầu cơn ho, Nkôzi tin chắc rằng lần này anh ta sẽ không tài nào thoát được sự hành hạ của căn bệnh, nhưng anh chàng sau khi vừa ho văng cả nước miếng vừa thở hào hển thì đã trấn tĩnh lại được. Suốt chặng đường chẳng ai nói một lời nào.
Khi họ đến được chân núi, chàng gầy ngừng xe và cùng chàng mập nhảy xuống đất. Vẫy tay chào từ biệt, họ trở lui trên con đường tràn ngập ánh trăng, đi về làng của mình. Trên chiếc đồng hồ đo cây số đã thấy chỉ chín dặm.
Điki Najaccar ngồi sau tay lái, còn Nkôzi cũng chuyển chỗ lên phía trước. Họ nhìn theo hai chàng đi dưới ánh trăng cho đến khi bóng họ khuất trong màn sương đêm. Đến lúc ấy Điki Najaccar mới mở máy và họ bắt đầu cho xe bò lên núi.
“Càng ngày tôi càng rời xa địa giới của Nhà nước bảo hộ Basutoland hơn - Nkôzi suy nghĩ - Điều đó làm cho tình cảnh của tôi phức tạp thêm”. Thoạt đầu mọi việc có vẻ như hết sức đơn giản, anh đổ bộ lên đất liền, chuyển giao tiền nong, vượt qua biên giới vào Basutoland rồi từ đấy đáp máy bay quay trở về London. Và tình thế của anh thật là tuyệt, bởi vì anh là con người can đảm, đã mang một khoản tiền đáng kể góp vào cuộc đấu tranh mà xứ sở của anh đang tiến hành. Thế nhưng chuyện gì đã xảy ra nào? Anh đã hoàn thành sứ mạng của mình, nhưng không còn có quyền đối với bản thân, không thể vượt ra khỏi chỗ này; thậm chí anh đã bắt đầu nghi ngờ về tầm quan trọng và ý nghĩa của số tiền anh đem đến.
Lọc qua tiếng nổ đều đều của động cơ xe hơi, anh nghe thấy giọng nói của Điki Najaccar:
- Cứ vào cái giờ trước lúc rạng đông này lại buồn đến phát khóc lên được.
Nkôzi đưa mắt nhìn anh chàng người Ấn trẻ tuổi ngồi bên cạnh và không khỏi ngạc nhiên - chưa bao giờ anh chờ nghe nơi anh ta điều gì đó tương tự. Câu nói đó chỉ có thể là của Đi Nankhu hoặc của anh nàng, cũng có thể là của Xêmmi Naiđu, chỉ có điều là không phải của chàng trai này.
Họ im lặng cho xe chạy suốt cả giờ đồng hồ. Đoạn đường lên dốc hết sức gập ghềnh nhưng chiếc xe vẫn không thay đổi tốc độ, thận trọng bò lên cao mãi, cao mãi cho đến lúc rạng đông, họ đã đến được cái trại nằm khuất trong các dãy núi trên điểm cao hơn ba ngàn foot. Khu đồn điền bao gồm nhiều quả đồi của Nanđa lùi xa mãi về phía sau, từ đây đến ngôi làng mà họ đã leo lên chiếc Lenđrôvơ ít nhất cũng phải hai mươi dặm.
Căn nhà bé nhỏ bám chặt vào chỗ lõm dưới vách đá chênh vênh trên sườn đồi nằm giữa thung lũng lớn có núi bao bọc chung quanh. Từ trên đỉnh đồi, nếu nhìn về phía hướng Nam có thể nhìn thấy một khe sâu đục thủng qua núi. Chính từ chỗ này có thể mở rộng tầm nhìn bao quát cảnh vật ở phía Nam, Đông - nam và Tây - nam. Vào ngày trời quang đãng, thậm chí có thể quan sát được toàn bộ con đường từ chân núi dẫn đến miền duyên hải Zululenđa, nơi Nkôzi đã rời xuồng cao su lên bờ. Nếu nhìn sang hướng Bắc, phía mặt trước nhà, tầm mắt sẽ chỉ thấy nhấp nhô những ngọn núi chạy hút ra xa, cứ dãy sau lại cao hơn dãy trước. Như vậy, ngôi nhà nhỏ đã được bảo vệ một cách chắc chắn từ các hướng Nam, Tây - nam và Đông-nam. Nó chỉ còn lộ ra từ phía Bắc, nhưng ở phía ấy những dãy núi nhô cao lên thành những bức tường dày đặc. Chỉ còn một khả năng khám phá ngôi nhà, ấy là từ trên máy bay, nhưng bay ngay trên đỉnh núi là hết sức nguy hiểm, ấy là chưa nói đến việc buộc phải bay khắp toàn bộ khu vực.
Điki Najaccar cho xe chạy sát đến tận ngôi nhà đất cất giống hệt một chiếc mũ lưỡi trai khuất sau vách đá. Họ chui ra khỏi xe, Điki chỉ vào con đường mòn bắt đầu từ phía sau nhà và chạy dài mãi lên tận đỉnh núi.
- Ở đằng ấy chúng ta có trạm quan sát. Từ đó chúng ta có thể nhìn thấy được mọi thứ. Tuy nhiên, không một người nào có thể nhìn thấy chúng ta.
Ngôi nhà nhỏ sạch sẽ đến mức đáng phải kinh ngạc và mọi thứ ở đây đã được chuẩn bị sẵn sàng để ở. Trong khi Điki thắp chiếc đèn dầu lửa, Nkôzi tìm hiểu nội quy sinh hoạt treo ở phía bên trong cửa. Không được đốt lửa cả ban ngày lẫn ban đêm - người ta có thể nhìn thấy khói; nghiêm cấm chạy xe hơi trước khi trời tối; trước khi đi lên núi nhất thiết phải mang theo vũ khí và ba lô con cóc đựng đồ dự trữ.
Một lúc sau Điki Najaccar bước đến gần chỗ anh.
- Thế vũ khí ở đâu? - Nkôzi hỏi.
Điki dẫn anh đến chiếc tủ buýp phê trong góc, mở ra và nâng cây đèn lên cao. Ở đấy đựng nửa tá súng sáng ngời nước thép. Trên mỗi khẩu súng người ta treo bao đạn và một chiếc ba lô nhỏ.
- Anh không sợ có kẻ nào đó có thể đến được ngôi nhà này hay sao, cho dù đó chỉ là do tình cờ?
- Ngôi nhà thường xuyên được bảo vệ, thưa ngài.
- Phải, nhưng những người ấy sống cách xa nơi này, nếu như anh cố ý nói đến cái ấp mà chúng ta đã lên chiếc xe Lenđrôvơ.
- Không. Có những người khác.
- Có gần lắm không?
Najaccar ngập ngừng chốc lát, sau đó nói:
- Rất gần, thưa ngài, vì thế xin ngài chớ ngại! - Najaccar đóng tủ buýp phê lại, móc lên trên đó một ống khói to tướng và lại giơ đèn lên để Nkôzi có thể nhìn lại lần nữa. - Rất khó đập vỡ cái tủ buýp phê này, thưa ngài.
Chiếc tủ buýp phê là một phần tường bê tông, trên cánh cửa đồ sộ móc một cái khóa lớn đến mức khó có thể tin được là có thật.
- Nhưng nếu vạn nhất có người nào đó tạt vào nơi này thì cái bản cáo thị ở lối vào…
- Người ta treo nó lên chỉ để dành cho riêng ngài.
- Tôi hiểu, - Nkôzi lẩm nhẩm và nhớ lại, Đi Nankhu từng nói với vẻ cay đắng biết bao về sự sinh tồn của loài kiến mà những người Ấn buộc phải thực hiện ở xứ sở này.
Và bây giờ sống trong sự bảo vệ chu đáo, ở nơi cư trú được bố phòng khá kiên cố, Nkôzi đã hiểu và cảm thấy đầy đủ cảm giác cay đắng thường vang lên trong những lời nói của Đi và Naiđu. Đối với người Ấn, dù không tạo ra một lực lượng khổng lồ vật hy sinh, song chính quyền của người Phi có thể vẫn tàn bạo không kém gì chính quyền của người da trắng. Có thể là họ sẽ chẳng nhận được gì thêm ngoài món tiền lương ít ỏi như hiện nay. Người Phi hiểu rằng sự hủy diệt đem đến cho họ là của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc da trắng. Còn người Ấn thì không thể tin ngay cả khi người ta thôi không tự mình thù ghét chủng tộc nữa.
- Hãy nói xem, - anh hướng về phía Điki, - cái gì sẽ xảy đến với những người Ấn, khi chúng tôi đánh bại những kẻ theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc?
- Tôi không hiểu... Thế anh muốn nói về điều gì?
Điki Najaccar lập tức đề phòng. Phải thận trọng hơn nữa! - Nkôzi tự nhủ.
- Tôi muốn hỏi về việc tổ chức của anh, tổ chức của người Ấn Độ ấy, có hy vọng là những người Ấn sẽ có lợi trong việc chúng tôi lật đổ được quyền lực của những người da trắng không?
- Chúng ta đi thôi, thưa ngài! - Điki Najaccar nói và dẫn Nkôzi vào nhà bếp. Anh ta lập tức tỏ cho Nkôzi thấy mình đã trưởng thành như thế nào.
Bằng điệu bộ, Điki mời Nkôzi ngồi vào bàn, đặt trước mặt anh cái đĩa đựng bánh sandwich, đun nước trên bếp dầu hỏa và bưng trà.
Najaccar lấy cho mình mấy miếng bánh sandwich, uống trà và ngồi, lưng tựa vào bàn bày thức ăn, trên đó để ba cái bếp dầu hỏa. Nkôzi mệt đến nỗi hoàn toàn không muốn ăn, song lại vui mừng vì được uống trà nóng. Anh ân hận vì đã dẫn Điki tới cuộc nói chuyện này, cần phải chờ đợi ít lâu, song sức cám dỗ quá lớn.
- Tôi mệt. Tôi sẽ ngủ ở đâu đây?
Najaccar đặt ly xuống và ngẩng lên.
- Anh chỉ cần nói thôi. Tự tôi sẽ tìm lấy.
- Cửa ở bên cạnh tủ buýp phê, thưa ngài. Đấy là căn phòng bên trong. Hãy bật đèn ở phòng lớn. - Najaccar ngập ngừng rồi đột ngột nói - Chúng tôi hiểu rằng không phải tất cả mọi chuyện đều tốt đẹp, thậm chí có thể tồi tệ hơn nữa kia.
- Tất cả những người tham gia hoạt động đều hiểu điều đó?
- Nhiệm vụ của chúng tôi, thưa ngài, là có tổ chức và có kỷ luật. Với chúng tôi như vậy không có gì là nhiều. Tôi chỉ nói đến những người tham gia phong trào, họ hiểu điều đó. Số người Ấn còn lại đang sống ở đây cũng hiểu điều này, đó là lý do tại sao họ đứng ngoài phong trào. Đấu tranh thì có giá trị gì nữa, họ nói, nếu như lại có thể tồi tệ đi!
- Vậy anh trả lời họ thế nào?
- Xêmmi, ngài Naiđu, miss Đi và bác sĩ trả lời vấn đề ấy hay hơn tôi.
- Thế chẳng lẽ anh không trả lời được à?
- Ồ, tôi có thể trả lời được chứ.
- Vậy trả lời đi xem nào!
- Tự anh không hiểu được sao?
- Tôi chỉ có thể phỏng đoán.
- Chung quy chỉ có một vấn đề: trở ngại màu da chèn ép chúng tôi từ hai phía, và đôi khi trở thành hết sức nặng nề. Cuối cùng nếu những người Phi tin rằng chúng tôi đứng về phía họ thì có lẽ mọi chuyện sẽ trở nên dễ dàng hơn.
- Mà cũng có thể là không.
- Tất nhiên. Tuy nhiên chúng tôi tin vào điều đó. Nói khác đi là chúng tôi hy vọng vào một cái gì đó viển vông, không đâu vào đâu cả.
- Nhưng không thể sống thiếu hy vọng được, - Nkôzi nhận xét rất chân tình.
- Chưa hết, - Điki Najaccar tiếp tục, hơi tỏ ra lúng túng. - mọi thành kiến đều xấu… Xêmmi nói như vậy…
- Còn Kixxi thì nói rằng, chúng ta sinh ra cùng với những thành kiến và không thể tránh được chúng.
Điki Najaccar mím môi, so vai, nghiêng đầu về bên phải một chút và giơ cả hai lòng bàn tay lên trên. Đấy là một trong những cử chỉ đặc trưng nhất của người Ấn Độ, nửa như cầu xin, nửa như chống đỡ và tất nhiên là bày tỏ sự phục tùng.
- Tôi không biết người nào trong số họ là đúng: Kixxi hay Xêmmi; có thể mọi thứ định kiến quả thật là không bao giờ biến mất. Tôi cũng không biết nữa. Cũng có thể cột nhà cháy là rất xấu ở xứ sở này.
- Cột nhà cháy? Nhưng điều đó có nghĩa là gì? - Nkôzi không hiểu.
- Cột nhà cháy… thì cu li… người Ấn Độ ấy.
- Nhưng chúng ta cần phải tiếp tục đấu tranh, - Nkôzi nói.
- Phải, thưa ngài. Bác sĩ và Xêmmi cũng nói đúng như thế. Ngài có nghĩ rằng đến lúc nào đó chuyện này sẽ kết thúc không?
- Đến lúc nào đó, có chứ, - Nkôzi đáp.
- Tôi muốn nói: đối với chúng tôi cũng thế. Ngài hiểu tôi chứ, thưa ngài?
- Tôi nghĩ rằng đối với các anh cũng vậy.
- Ngài biết đấy, thưa ngài, lần đầu tiên tôi cũng nói chuyện như vậy với…
- Với người da đen?
- Vâng. Nhưng ở đấy, ở Anh, lẽ nào cũng có thể như vậy?
“Cần phải thay đổi đề tài” - Nkôzi quyết định.
- Phải, ở đấy những người da đen được tự do giao thiệp với tất cả những người khác. Tuy nhiên ở đấy họ cũng có những định kiến của mình.
- Nghĩa là, Kixxi nói đúng?
“Chúng ta không thể nào rút ra khỏi vấn đề ấy!” - Nkôzi nghĩ. Nhưng chính vào lúc này và ở đây cuộc nói chuyện này đâm ra là buồn cười.
- Kixxi không đúng đâu, Điki. Tất cả mọi thứ trên đời này sẽ thay đổi. Dứt khoát là như vậy. Cuộc sống, đó là sự biến đổi thường xuyên.
- Thì Xêmmi cũng nói đúng như thế.
- Nhưng những thay đổi có thể tốt hơn lên hoặc tồi tệ đi.
- Tôi hiểu điều mà ngài muốn nói - anh chàng người Ấn trẻ tuổi suy nghĩ một cách tỉnh táo - chính tôi đã nói với ngài rằng chúng tôi từng nói với nhau về điều này và tất cả đều hiểu.
“Phải - Nkôzi nghĩ - cậu hiểu tất cả, mặc dù không phải bao giờ cũng biết thể hiện ý nghĩ của mình bằng lời nói”. Anh đứng lên và đi ngủ. Trời lành lạnh một cách dễ chịu, và Nkôzi khoan khoái chui vào chăn. Một ý nghĩ thoáng qua giống như sự bùng cháy ngắn ngủi trên màn ảnh của ý thức: sẽ tuyệt biết bao nếu Đi nằm ở chiếc giường thứ hai trong phòng này, nhưng rồi ngay lúc đó anh liền ngủ thiếp đi như chết.
Điki Najaccar rửa sạch nồi niêu bát đĩa, rót thêm dầu vào bếp và cẩn thận lau chùi chúng. Sau đó rút chiếc khăn trải bàn sạch sẽ ra và phủ lên bàn ăn cho một người. Khi đã làm xong mọi việc, anh kiểm tra xem mọi cửa nẻo đã được khóa lại kỹ chưa rồi mới chịu đi ngủ. Tuy nhiên anh không ngủ ngay mà còn nằm nhìn ra khuôn cửa sổ bé nhỏ. Anh chỉ nhìn thấy một phần sườn núi, vì vậy mà căn cứ nó bị che khuất trong bóng tối có thể đoán được bầu trời như thế nào. Cả chuỗi hình ảnh và ý nghĩ lao vun vút trong ý thức của anh, chồng chất và rượt đuổi nhau, chẳng khác những đứa trẻ đùa nghịch quá mức. Miss Đi nắm chặt tay anh chàng người Phi nhỏ bé. Xêmmi Naiđu nhìn cô, còn cô thì lại nhìn anh chàng người Phi bé nhỏ, mà đầu óc của anh chàng người Phi này làm việc đúng từng ly từng tý, hệt như chiếc đồng hồ đã có lần anh mở ra để ngắm nghía bộ máy của nó. Tíc-tắc, tíc-tắc, tíc-tắc, tíc-tắc… Đều đặn và rõ ràng. Chiếc đồng hồ và chàng người Phi bé nhỏ hòa vào nhau thành một hình ảnh… tíc-tắc, tíc-tắc… Và gương mặt của Xêmmi nhìn cô ấy với sự say đắm như trước, cô ấy nhìn Nkôzi với sự đam mê biết bao… Tíc-tắc… Cuộc sống đó là sự biến đổi không ngừng.
Cuối cùng, một ý nghĩ hết sức rõ ràng đã kết tinh lại: Nếu như con người này lãnh đạo hoạt động bí mật, và sau đó, khi giành được chính quyền từ tay người da trắng thì tình hình sẽ ngày càng trở nên khá hơn… Được an ủi bởi ý nghĩ này, Điki quyết xua đi mọi ảo ảnh, nằm xoay người qua một bên, nhắm mắt và kiên nhẫn chờ giấc ngủ đến.
Hai ngày sau, trước buổi tối Điki Najaccar báo với Nkôzi rằng đêm nay sẽ có một người khách ghé thăm chỗ anh. Anh ta không hề giải thích gì cả và Nkôzi cũng không vật nài để hỏi cho ra nhẽ. Nếu người ta chính thức giao anh cho người Phi thì hẳn là có điều gì đó trong sự tính toán mà anh chàng Najaccar trẻ tuổi này chắc là phải biết, những thứ còn lại sẽ chẳng có ý nghĩa gì hết. Sự chờ đợi không hề làm anh day dứt. Tìm thấy mẩu giấy và bút chì, anh ngồi vẽ để giết thì giờ.
Gần 9 giờ tối Điki Najaccar mới lên xe đi đón khách. Còn Nkôzi thì nằm ngủ. Từ ấp đến trại, xe chạy không dưới hai tiếng đồng hồ, bởi vậy ít có khả năng là khách sẽ tới nơi trước nửa đêm. Trong những ngày này Nkôzi làm việc rất nhiều, vì thế khi đặt mình xuống là anh đã ngủ được ngay.
Khi mở mắt và nhìn thấy Đi Nankhu ngồi bên mép chiếc giường xếp của mình, anh tưởng là mình vẫn đang còn mơ ngủ. Trước khi đi ngủ anh đã tắt đèn, thế mà lúc này đèn đã lại bật sáng. Anh ngập ngừng đưa tay ra, sợ rằng Đi sẽ biến mất, nhưng nỗi lo sợ của anh đã trở thành vô ích.
- Đây không phải là giấc mơ - Cô nói.
Nụ cười ngái ngủ ấm áp hiện trên khuôn mặt anh khiến trái tim cô tràn đầy vui sướng. Nhưng nụ cười ngay lập tức biến thành nỗi lo âu.
- Có chuyện gì xảy ra phải không?
Ngẫm nghĩ một chút, Đi nói:
- Cứ thế này thì có thể đợi đến sáng.
- Có chuyện gì hay không?
- Em đã nói là có thể đợi đến sáng mà.
- Anh nhớ em! - Anh nói.
- Em cũng thế.
Anh nhanh nhẹn ngồi bật dậy và ôm choàng lấy cô. Họ dính chặt vào nhau và lúc này cô hiểu rằng từ nay về sau mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Cô rời vòng tay anh và đi về phía cửa, hoàn toàn không cố ý che giấu khuyết tật của mình. Cô mở to cửa và nói to cho Điki Najaccar nghe thấy.
- Chúng ta đi ngủ thôi! Chúc ngủ ngon!
Tiếp theo là khoảng im lặng ngắn ngủi, sau đó Điki Najaccar cũng chúc họ ngủ ngon.
Nụ cười vừa như giễu cợt vừa như âu yếm sáng rỡ trên bờ môi Đi. Khi đã cài then cửa xong, cô quay trở lại với Nkôzi. Cô thổi tắt đèn và bắt đầu cởi quần áo. Nkôzi lắng nghe tiếng quần áo sột soạt của cô gái và cảm nhận được toàn bộ sự dịu dàng của người phụ nữ này đang tràn ngập trong anh. Nằm trên giường bên cạnh anh, Đi cảm thấy một cách cụ thể, dường như sự âu yếm ấy đang bao phủ khắp người mình.
Tay chân họ quyện chặt vào nhau và họ chìm đắm trong vòng ôm của nhau. Sau đó trong một khoảnh khắc, họ cùng choàng tỉnh, tựa như cơ thể của họ cùng được điều khiển bằng một bộ não duy nhất. Và lần này anh vuốt ve cô thật lâu với một sự dịu dàng khá là đặc biệt.
Cuối cùng thì người đàn ông bật ra câu nói:
- Anh yêu em!
Sau đó anh nhắc lại một cách điềm tĩnh hơn, thậm chí còn có phần hơi quá dịu ngọt:
- Anh yêu em!
Và anh cảm thấy những giọt nước mắt lăn trên mặt cô. Lúc này anh hiểu rằng sẽ không bao giờ còn khác đi được nữa.
Họ không còn ngủ nữa. Họ nằm, ghì chặt lấy nhau và họ chỉ có thể như vậy trên chiếc giường xếp quá nhỏ hẹp. Tuy nhiên, họ không hề muốn thoát khỏi tình trạng không thể cục cựa này, ngược lại họ còn lấy làm khoan khoái khi được nằm với nhau như vậy.
- Anh nhắc lại đi! - Cô thì thào.
- Anh cũng đã nói như vậy với người khác.
- Đằng nào cũng thế mà.
- Thôi được, anh yêu em.
Cô thở ra sung sướng.
- Thế thôi à? - Anh hỏi.
- Thì còn gì nữa nào? Em biết rõ đó chính là điều anh đang cảm nhận.
- Thế điều đó có là đủ đối với em không?
- Quá đủ, anh thân yêu ạ. Về sự mật thiết của chúng ta, của anh và em ấy, chỉ có thể mơ thấy thôi. Tim chúng ta đập cùng nhịp, thể xác chúng ta gắn chặt vào nhau. Giờ thì em đã hiểu thế nào là tình yêu, giờ thì em đã hiểu là em sẽ không còn cô đơn nữa. Em chưa hiểu ai như lúc này em hiểu anh. Còn mong muốn gì nữa nào? Khi anh hỏi điều đó có là đủ với em không…
Anh lấy lòng bàn tay bịt miệng cô lại, không cho nói.
- Anh yêu em. Và mặc dù anh đã nói lời này với người khác, nhưng chưa bao giờ nó hàm chứa trong đó những ý nghĩa như bây giờ đối với anh.
Cô đẩy bàn tay anh ra khỏi môi mình:
- Anh nhắc lại lần nữa đi!
- Anh yêu em.
- Nữa!
- Em làm sao thế? Em có vẻ mất trí hay sao thế?
- Em ra lệnh!
- Xin tuân lệnh. Anh yêu em!
Và lần đầu tiên, suốt trong từng ấy thời gian anh đã nghe tiếng cười của cô. Cô cười một cách vui vẻ và sung sướng. Anh nhận thấy là cô đã say đắm vì tình.
- Anh có thích người phụ nữ như em không?
- Rất thích! - Anh đáp khô khan.
- Chính em cũng không hiểu được em nữa. Chưa bao giờ em lại nghĩ rằng mình đắm say đến thế. Em biết rằng em có thể bắt anh mất đầu vào bất kỳ phút nào, chỉ cần em muốn. Đúng là em đang chuẩn bị làm điều đó. Em muốn có với anh ít nhất phải sáu đứa con.
- Em không có ý định so sánh anh với con bò đực đấy chứ? - Anh cười mát.
- Thế thì sao? Anh đúng là con bò đực của em.
Sau đó, cô trở nên nghiêm trang:
- Anh muốn có con với em không? Và chúng sẽ không bị thọt chân phải không? Em rất không muốn điều đó.
- Không, chúng sẽ không bị thọt chân, và anh sẽ hạnh phúc giá như anh có con với em.
- Thế chúng sẽ được công nhận là người Ấn hay người Phi?
- Không nên làm cho những ước mơ của mình trở nên ảm đạm, - anh dịu dàng nói. - Nào, chúng ta cùng nhau mơ ước, bởi vì ước mơ là thực tại tinh thần của cuộc sống.
- Ước mơ và thực tế ở nơi nào đó cần phải gắn chặt lại với nhau, - Cô nói.
- Chúng gắn chặt trong con cái của chúng mình.
- Của người Ấn hay người Phi? Chúng oán hận người mẹ và lấy làm xấu hổ vì bà ta hay là chúng oán hận người cha và lấy làm xấu hổ vì ông ấy? Chúng có chối bỏ dòng máu của ông ấy hay bà ta không? Hoặc là thế này hoặc là thế kia, đúng không?
Anh đặt lòng bàn tay lên trán cô.
- Trí khôn của em biến đi đâu mất rồi? Chính vì vừa mới đây em nói với anh rằng em rất hài lòng về những cái đã có. Chẳng lẽ ngày mai em đã sinh con, hay là vào tuần sau, hay là trong tháng tới? Em đã biết được rằng em sẽ có con?
- Em muốn có con với anh, thậm chí đến mấy đứa kìa.
- Và em muốn nhận được sự bảo đảm rằng xã hội sẽ tiếp đón chúng, rằng chúng sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc, rằng sẽ không có gì đe dọa chúng và chúng sẽ không phải bực mình điều gì cả.
- Tất nhiên!
- Tất nhiên chỉ mới là hy vọng nhưng không nên đòi hỏi bất cứ một sự bảo đảm nào cả. Những bảo đảm mà em muốn nhận cho những đứa con chưa đẻ của mình, hiện nay ngay cả những đứa trẻ mà cả hai bố mẹ đều là người Ấn, người Phi hay là người da trắng cũng đều chưa có.
Tâm trạng của cô lại biến đổi. Cô lấy tay âu yếm vuốt ve mặt và ngực anh, cố gắng ghi nhận thân thể anh.
- Quả thật anh là một chàng da đen, đúng không? Trong ý thức của em điều đó không thể nào tưởng tượng nổi.
- Bởi màu đen gây ra nỗi sợ hãi?
- Nó chứa đựng mối nguy hiểm và sự kỳ bí thế nào ấy. Thế mà em hiểu anh mật thiết đến thế!
- Hơn nữa lại còn chất ésotique nữa chứ? - anh trêu cô.
- Không, không, hoàn toàn không phải là ésotique. Đối với chuyện ésotique thì anh có phần quá văn minh, quá nhiều hiểu biết, anh bạn của tôi ạ. Trời đất ơi, em khát quá! Mà sao chúng ta lại không đi dạo nhỉ? Hay là anh còn muốn ngủ nữa?
- Nào thì dậy! - Anh nói.
Cô nhổm dậy và sờ soạng trên chiếc bàn ngủ kiếm hộp quẹt. Sau đó cô thắp đèn và vặn bấc cho cao lên thêm một ít. Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu lửa anh cảm thấy gương mặt cô dịu dàng, không có vẻ nghiêm khắc như thường lệ. Những nếp nhăn dữ dằn ở vành môi biến mất. Đôi mắt tròn như có vẻ to hơn bình thường, nhưng đẹp hơn cả vẫn là mái tóc. Lúc ban ngày chúng bị buộc chặt thành một túm, giờ đây chúng được tự do buông xuống với hai mớ tóc rậm dày, chấm đến ngực. Giá như xõa rộng ra thêm hai inch nữa thì chúng đã phủ kín hẳn bộ ngực.
Cô bối rối trước cái nhìn chăm chú của anh và để che giấu sự lúng túng của mình, cô cúi xuống hôn anh. Sau đó cô vội vàng mặc quần áo và bước ra khỏi phòng.
Anh tìm thấy nàng ở nhà bếp. Mái tóc đã bị buộc túm lại đằng sau gáy. Anh nhổ cây trâm cài tóc ra, còn nàng thì lắc lắc đầu mấy lần và mái tóc lại buông xõa ra như trước.
- Anh rất thích em để tóc như vậy - Anh nói.
- Em đến đây để đưa cho anh xem cái này - Cô hất đầu chỉ tờ báo nằm trên bàn.
Anh dán mắt vào nhan đề của bài báo được in bằng chữ lớn suốt cột báo.
TRẬN TẬP KÍCH THẮNG LỢI VÀO BỘ CHỈ HUY HOẠT ĐỘNG BÍ MẬT.
Chiều hôm nay trong lúc tập kích bất ngờ vào một tòa biệt thự sang trọng tại Johannesburg, cảnh sát đã bắt giữ một số người Âu và da màu. Theo thông báo chưa chính thức, trong số sáu người da trắng và mười tám người da màu bị bắt giữ, có hai người là người Ấn Độ. Cảnh sát quả quyết rằng tòa biệt thự là nơi dùng làm ban tham mưu của phong trào hoạt động bí mật và những người bị bắt giữ là những thành viên của bộ chỉ huy tối cao của tổ chức hoạt động bí mật.
Nkôzi rời mắt khỏi tờ báo. Nước trên bếp dầu đã sôi, Đi pha trà.
- Như thế nghĩa là thế nào? - Anh hỏi.
- Như thế nghĩa là rất xấu, nhưng không phải ở mức như là họ đã nhận định. Những người bị bắt giữ hoàn toàn không có chân trong Bộ chỉ huy tối cao của tổ chức hoạt động bí mật như họ đã đặt tên cho nó. Quả thực ở đấy có một phiên họp đã được tiến hành nhưng không phải của Hội đồng Trung ương của tổ chức hoạt động bí mật. Về mặt ý nghĩa của nó có thể là không kém phần quan trọng. Những người Phi bị bắt giữ là những người bạn của chúng ta ở Hội đồng Trung ương, những người ấy muốn cho cuộc đấu tranh giữ được tính chất đa dân tộc của mình. Đây là cuộc gặp gỡ với lãnh đạo của các nhóm khác, nhằm mục đích vạch ra cách xử sự trong phiên họp thường kỳ của Hội đồng.
- Nghĩa là, những cuộc bắt bớ này đã có lợi cho những kẻ chống lại sự hợp tác trong nội bộ của Hội đồng bí mật, làm lợi cho những người theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc da đen?
- Chắc là thế.
Cô rót nước trà và ngồi phía đối diện.
- Và công tác bí mật đã phải gánh chịu tổn thất nghiêm trọng; đồng chí của cô, thư ký Hội đồng cũng đã bị bắt?
- Buổi chiều hôm đó, may mắn là anh ấy không có mặt - đột nhiên một cơn run lan nhanh khắp cơ thể cô - giả sử như Đavut không bận công chuyện của anh ấy, anh ấy cũng đã có mặt ở đó. Vấn đề ở chỗ là hiện nay mối liên lạc đã bị phá vỡ. Chúng tôi không biết căn cứ theo quy định bản chỉ thị được truyền đạt từ Durban đã đến nơi chưa, và trong khi chưa thiết lập được mối liên lạc thông qua những người mới, chúng tôi không tài nào có thể bắt tay thực hiện được.
- Bây giờ làm thế nào?
Cô chạm vào tay anh.
- Đêm mai em phải rời khỏi đây. Còn anh, anh thân yêu của em, thì đành phải chờ đợi. Tuy nhiên tạm thời chúng ta còn một ít thời gian để mà mơ ước và ở lại với nhau. Em sẽ cố gắng quay trở lại càng nhanh càng tốt. Còn bây giờ thì anh với em sẽ cùng đi lên trên núi và chúng ta sẽ đón bình minh ở đấy.
(còn tiếp)
Nguồn: Quyền lực của đêm tối (The night of their own). Tiểu thuyết của PETER ABRAHAMS. Thái Thành Đức Phổ dịch từ tạp chí Văn học nước ngoài, Matxcơva, số 6 & 7 năm 1986. Nhà xuất bản Văn học, 2006.
|