Hắn cắt đứt dòng suy tưởng của mình và cầm lấy giấy bút ngồi viết báo cáo, trong đó hắn trình bày một cách chi tiết tất cả những gì mà thời gian vừa rồi hắn đã thu lượm được, đồng thời cũng bày tỏ những dự kiến của mình về những diễn biến sắp tới của sự việc. Điều duy nhất mà hắn không viết, thậm chí không hề nhắc đến là sự quen biết riêng của hắn với con người được biết dưới cái tên là Risarđ Nkôzi.
Khi Van Ax viết xong bản báo cáo, đồng hồ đã chỉ chín giờ thiếu hai mươi. Hắn bỏ bản báo cáo vào trong ngăn kéo bàn làm việc, khóa lại và bước ra khỏi cơ quan. Hắn đã thấy đói bụng, mệt rã rời và cảm thấy mình cô đơn một cách tuyệt vọng, càng cô đơn hơn so với cái lúc họ gặp nhau vào lần cuối, cách nay hai năm, và hắn biết rằng vào cái ngày hôm ấy, sự kiêu hãnh của nàng đã thắng sự kiêu hãnh của hắn.
Chín giờ thiếu ba phút, hắn đã có mặt trong căn hộ của mình. Mười phút được dành cho việc tắm rửa và thay quần áo, và đúng lúc hắn ngồi xuống để uống rượu cũng là lúc chuông điện thoại bên cạnh hắn bắt đầu reo lên. Bất giác hắn cảm thấy kiêu hãnh với ý nghĩ về tính chính xác của mình. Đã nghe thấy giọng nói quen thuộc, hệt như là người nói đang ngồi ở kế bên chứ không phải là nói từ Cape Town xa lắc.
- Karl…
- Vâng, tôi đây! Rất sung sướng được nghe tiếng nói của ngài.
- Ta cũng rất vui được nghe tiếng của chú, chú bé ạ. Hãy nghe này… Đây là công việc… Theo như ta biết thì chú được giao một…
- Vâng, thưa ngài. Và tôi đã xác định được người bị giết chính là người tự xưng là Ketxe, đi hộ tống cho gã liên lạc đã đổ bộ lên bờ biển.
- Cần phải xem tiền bạc của chúng do đâu mà có…! Cần phải tìm cho ra con người này, Karl. Bằng bất cứ giá nào… Hãy nghe đây! Vào buổi sáng chú sẽ nhận được bản tin tình báo. Một huyền thoại đang bắt đầu được tạo ra, mà điều này thì bao giờ cũng nguy hiểm. Trong các cuộc họp kín ở Pretoria, Johannesburg và ở tất cả các vùng đang khai thác kim cương và vàng, người ta đang bàn tán về một người hùng mới của cái đám hoạt động bí mật, là người không bao giờ bị bắt và cũng không bao giờ chết bởi hắn là biểu tượng cho tinh thần tự do, vì thế mà hắn là bất tử. Và sự đồn đại này mỗi lúc lại lan rộng ra, chú bé ạ! Tên của hắn là Risarđ Nkôzi. Người ta còn đồn rằng hắn mang tiền đến cho bọn hoạt động bí mật rồi lại đi mất rồi… Hắn muốn đến thì đến, muốn đi thì đi vì chúng ta bất lực trước hắn. Nào, thế chú có biết là trong những trường hợp như vậy, người ta sẽ suy diễn như thế nào không?
- Có biết, thưa ngài.
- Thế đấy, chú bé ạ. Ta không muốn cái ổ vi trùng này lan rộng ra. Cái vụ này có thể rẽ ngoặt sang một bước nghiêm trọng. Chúng ta phải diệt trừ câu chuyện huyền thoại này trước khi nó kịp bắt rễ.
- Muốn làm được việc này chúng ta phải bắt giam cho được cái kẻ đã được tôn sùng là vị anh hùng của huyền thoại và đưa hắn ra xét xử công khai.
- Đúng, và phải vạch trần bộ mặt của hắn ra trước mọi người, chú bé ạ. Ta muốn chú hoàn thành việc này vì ta và vì nhân dân ta. Đừng có lùi bước trước bất cứ trở lực nào. Và hãy nhớ rằng trong hoàn cảnh của chúng ta thì không có nhiều thời gian lắm đâu. Chúng ta không muốn để cho bọn nhà báo nước ngoài và các mụ lắm mồm ở Liên hợp quốc làm toáng loáng câu chuyện này lên. Mọi sự bây giờ đang ở trong tay chú. Nếu cần gì thì cứ gọi điện cho ta. Rõ chưa?
- Rõ rồi, thưa ngài!
- Tốt lắm. Ở chỗ ta đang có nhiều người nên những chuyện riêng ta sẽ nói sau. Chúc ngủ ngon, Karl! Phải cố mà dập cho được cái huyền thoại đó đi.
- Chúc ngài ngủ ngon!
Karl Van Ax đặt ống nghe xuống, ngả người ra sau và nhắm mắt lại. Lát sau lại có tiếng chuông điện thoại. Hắn nhấc ống nghe và biết ngay là cô điện thoại viên ở tổng đài gọi đến.
- Nghe rõ lắm, cám ơn cô! - Hắn nói.
- Cám ơn. Chúc ngài ngủ ngon! - Cô ta nói và nối máy với mạng lưới điện thoại tỏa đi khắp nước.
BA
Uống nốt chỗ rượu, Karl Van Ax lại vươn tay về phía máy điện thoại. Trí nhớ ngay tức khắc gợi cho hắn số máy mà hắn đã không sử dụng suốt hai năm nay và tưởng chừng như đã quên hẳn. Hắn quay đĩa số nhanh và dứt khoát. Lần lượt nghe thấy sáu hồi chuông dài và hắn cảm thấy những sợi dây thần kinh của mình dường như căng ra. Nếu như không có nàng thì sao? Nếu như nàng đã đi đâu đó thì sao? Hai năm - không phải là chuyện đùa. Hắn hít vào thật sâu… Thêm bốn hồi chuông nữa. Có tiếng lốp đốp nho nhỏ vang lên ở đầu dây bên kia. Van Ax nhắm mắt lại để chờ.
Giọng nói của nàng hoàn toàn không thay đổi. Van Ax cảm thấy hình như những ngón tay mát rượi của nàng vuốt ve trên trán hắn.
- Hello, Minđret! - Hắn chào.
Van Ax đoán được sự lúng túng trong sự im lặng của nàng.
- Hello, Karl! - Cuối cùng nàng thốt lên. - Anh cần gì?
- Sức khỏe em thế nào, Minđret?
- Với anh điều đó có ý nghĩa gì không?
- Anh xứng đáng nhận lời trách móc ấy. Nhưng đối với anh hoàn toàn không…
- Sự cô đơn đã làm cho anh chán ngấy lên rồi phải không?
Lúc này giọng nói lạnh lùng của nàng giống như con dao đâm thẳng vào người hắn, gây nên nỗi đau ghê gớm. Hắn đứng lên, cốt để làm thế nào chịu đựng nỗi đau khổ không thể chịu nổi này được nhẹ nhàng hơn.
- Phải, - hắn điềm tĩnh nói. - tuy nhiên em nói đúng, quả thật là anh đang đau khổ vì cô đơn. Mặc dù anh không hề buồn chán. Cho phép anh đến chỗ em nhé?
- Đơn giản thế thôi à?
- Ừ.
Trong lúc nàng vẫn tiếp tục im lặng, hắn khẽ lắc lư người.
- Em nghĩ, anh nên để cho em được yên!
- Thì anh cũng đã nghĩ như thế. Nhưng anh không thể.
- Anh không thể? Anh lại là con người như thế ư?
- Thôi được, cứ cho là anh không muốn, mặc dù chính xác nhất vẫn là anh không thể. Ngay cả người như anh thì cũng có lúc… Minđret!
- Dạ!
- Nào, được không?
- Anh cần cái gì thế, Karl?
- Thế còn em thì cần gì?
- Em chẳng cần gì cả, ngoại trừ sự yên tĩnh của tâm hồn và công việc.
- Đó là tất cả những thứ mà em có suốt trong hai năm qua phải không?
- Anh càng ngày càng trở nên thông thạo hơn trong nghề nghiệp của mình đấy, Karl ạ.
- Nếu như em muốn làm cho anh đau khổ thì em đã đạt được mục đích của mình rồi đó! - Hắn buông thõng một cách thản nhiên, giống như không có chủ ý, nhưng người phụ nữ đã biết rõ hắn và biết cái gì ẩn bên trong lời lẽ của hắn.
Khi nàng nói lại, giọng nói của nàng đã không còn vẻ gay gắt như cũ.
- Cái đó thì chẳng mang lại điều gì tốt đẹp đâu, Karl ạ…
- Như vậy là em đã tìm thấy sự yên tĩnh của tâm hồn rồi phải không?
- Không.
- Thì anh cũng… không. Nào, được không?
- Để làm gì? Anh biết là người ta có thể lôi chúng ta ra tòa. Hãy nghĩ đến bước đường công danh đi!
- Thôi mà, Minđret!
Im lặng một lúc khá lâu, sau đó người phụ nữ thốt lên bằng giọng của đứa con nít bất hạnh bị lạc đường:
- Thôi được, Karl ạ. Nhưng…
- Anh sẵn sàng nhận lấy toàn bộ trách nhiệm về phần mình - Hắn ngăn chặn sự đổi ý của nàng. Và chỉ đến lúc này trong giọng nói của hắn mới lộ ra sự dịu dàng cố nén từ lâu - Hãy đợi anh mười phút nữa nhé!
Ngôi nhà Minđret cư ngụ không lấy gì làm lớn lắm ở ngay tận rìa khu phố của những người da màu. Đường phố chạy ngang qua ngôi nhà đó, một phần được dùng làm ranh giới giữa hai khu da trắng và da màu. Theo luật bất thành văn, những người da màu xứng đáng nhất được cư trú ở đây. Họ là những người gần những người da trắng nhất bởi vẻ ngoài, bởi cách xử thế, bởi học vấn và sự giàu có của mình. Họ cư xử như những con người chịu sự thử thách thường xuyên, mặc dù họ không thú nhận điều đó ngay cả với chính bản thân họ. Con cái của họ không bao giờ chơi đùa trên đường phố; chính họ cũng cố gắng không làm ồn ào; nếu như họ có những tối vui hoặc những vụ cãi cọ và ẩu đả thì mọi thứ đều diễn ra một cách lặng lẽ ở bên trong các cánh cửa đã bị đóng chặt. Những người thợ da trắng nghèo khổ nhất sống ở bên kia đường ranh giới. Vừa có cơ hội tốt xuất hiện là họ lập tức dời ngay đến chỗ khác. Cứ vào ngày thứ bảy và chủ nhật, những người da trắng thường gây náo động: sinh sự đánh nhau và tắm cho nhau bằng những lời chửi rủa tục tĩu; nhưng ở phía bên kia, nơi những người da màu sinh sống vẫn là sự yên lặng bất di bất dịch.
Hầu như tất cả nhà cửa của những người da màu đều được vây bọc bằng những bức tường cao hoặc bằng hàng rào cây xanh cao và rậm rạp, cổng bao giờ cũng được khóa kỹ. Một ngôi nhà không lớn nằm tại một góc phố được bảo vệ bằng cả tường xây lẫn hàng rào cây xanh. Bức tường rào xây cao ít nhất là 8 foot, ở đó nổi lên những mảnh thủy tinh của vỏ chai vỡ, còn bên trên thì căng hai lần dây thép gai. Các loại cây vùng nhiệt đới mọc chen chúc trong sân, tạo thành bức bình phong cao và đủ các mùi hương bao quanh ngôi nhà, chúng phủ đầy cả vườn lẫn hè phố bên ngoài hàng rào bởi các bông hoa đủ màu trắng, đỏ và tím. Những dây hoa tigôn phủ kín các bức tường bê tông của ngôi nhà. Còn dưới chân là thảm cỏ dày được cắt xén bằng phẳng với những lối đi rộng rãi.
Ngôi nhà ấy thuộc quyền sở hữu của miss Minđret Xcott, một người phụ nữ 35 tuổi, chưa có chồng, hiệu trưởng một trường trung học lớn nhất dành cho nữ sinh da màu ở Natan. Nàng sống một mình ở đây nếu như không tính đến bà già người vùng Gricva. Bà già này là gia sản của miss Xcott. Bà đã nuôi nấng Minđret khi nàng còn là một cô bé con, và sau đó bà trở thành Gouvernante(1) và thị tỳ của nàng. Khi Minđret từ giã trang trại, ở phía đông Cricvalenđ, nơi bố mẹ nàng đã sống và vào học trường Cape Town, bà già cũng đi cùng với nàng.
Bà già người Gricva là chứng nhân duy nhất khi Van Ax đầu tiên đến thăm căn hộ hai phòng của Minđret Xcott ở vùng ngoại ô tĩnh mịch của Cape Town. Tối hôm đó, bà nấu nướng thức ăn cho họ, và phục vụ họ vào tất cả những tối tiếp theo. Cố nhiên, lúc nào họ trò chuyện, cười đùa hoặc chuẩn bị các bài học, bà đều đi sang phòng khác. Thường vào những đêm trăng, họ cùng nhau đi ra bờ biển và bà là người chuẩn bị giỏ đồ ăn cho họ. Trong thời gian này ở Cape Town, đặc biệt là giữa đám thanh niên trong trường đại học còn có nhiều sự dễ dãi. Dĩ nhiên là cần phải giữ gìn cẩn thận. Trong một số ngôi nhà riêng nào đó đã tổ chức những tối vui hỗn tạp, và có thể tìm thấy những nhà hàng đèn đóm không lấy gì làm rực rỡ cho lắm, nơi mà chính quyền không để mắt đến một cách chặt chẽ bởi những con người trẻ tuổi này hầu hết đều là con cái của những gia đình danh giá. Bà già người Gricva đã nhìn thấy tình yêu của họ nảy sinh và khai hoa như thế nào, lẽ tất nhiên bà không lấy gì làm lạ vì có lần vào buổi sáng bà đã phát hiện ra người trai trẻ đêm qua đã ngủ lại ở nhà họ. Nàng đã chuẩn bị cho việc tiến hành đám cưới và thậm chí bắt đầu xây dựng một vài kế hoạch thầm kín nào đấy. Khi cái ngày tưởng như nhất định sẽ xảy ra mà lại không xảy ra, nàng tiếp nhận chuyện đó như là một hậu quả tất nhiên của nề nếp đã được quy định ở mọi trường hợp. Có lẽ không phải là điều tốt nhất, nhưng, than ôi, nó lại không phụ thuộc vào ý chí của nàng.
Chàng trai tốt nghiệp đại học trước. Anh ta đã ra đi và quay trở về, rồi lại ra đi và lại quay trở về. Những bức thư của anh ta đã được gửi về từ khắp mọi miền của thế giới. Anh ta ra đi rồi quay về, ra đi rồi quay về.
Sau đó Minđret Xcott nhận được bằng đại học. Đầu tiên nàng làm việc ở nước Cộng hòa tự do(1), sau đó ở Tranxvan và cuối cùng thì nàng làm việc ở tỉnh Cape. Suốt cả thời gian này anh ta đã gửi thư và cũng suốt cả thời gian ấy Minđret Xcott tiếp tục sống một mình đến mức có khả năng đón tiếp anh ta vào bất cứ giây phút nào. Chính vì vậy mà nàng không tìm bạn gái, chỉ duy trì những quan hệ mang tính công vụ và luôn luôn mỗi khi dọn về nhà mới nàng lại tân trang ngôi nhà của mình cho ngày càng lớn hơn và lộng lẫy hơn theo kích thước tăng lên của sự mong đợi của nàng, nhưng đó là ốc đảo đối với mọi cặp mắt lạ. Thoạt đầu nhiều người có thế lực ở những nơi mà nàng từng làm việc, đã cố gắng công phá lớp vỏ bọc của nàng. Những người phụ nữ bền bỉ chèo kéo nàng đến các cuộc họp và các câu lạc bộ. Các chàng trai săn đón nàng. Nhưng về sau cả những người phụ nữ lẫn các chàng trai đã từ bỏ những cố gắng vô hiệu của mình, và miss Minđret Xcott chỉ còn quan hệ với bà già người Gricva. Điều đó chắc là hoàn toàn phù hợp với ước muốn của nàng. Một số phu nhân cố xáp lại gần bà lão để khai thác nhưng cũng chẳng đạt được kết quả gì. Luôn luôn biết kiềm chế và trầm tĩnh, Minđret Xcott giữ được vẻ trang nghiêm, nên đã tạo được sự kính trọng của mọi người. Nàng điều hành nhà trường một cách xuất sắc, nhưng ngoài phạm vi chức trách của mình, nàng đã tách rời số phận của mình với số phận của cả những người chung quanh lẫn số phận của đất nước. Ít nhất thì mọi người ai cũng nghĩ rằng, dường như mình là người đã hiểu được Minđret Xcott.
Sau khi rẽ ngoặt một cách đột ngột, chiếc xe chạy vào cánh cổng mà trước đó bà già người Gricva đã mở toang ra. Chạy thêm một vài phút nữa, chiếc xe chạy tọt vào trong nhà để xe, đậu bên cạnh chiếc xe hơi của Anh bé tẹo cũ kỹ thuộc quyền sở hữu của Minđret. Bà già đóng cổng lại và vội vàng vào nhà để chuẩn bị nếu như họ cần đến sự giúp đỡ của bà. Karl Van Ax gặp bà già tại bậc tam cấp đầu tiên của chiếc cầu thang dẫn đến hàng hiên.
- Hello, Lêna! - Hắn chào bà bằng giọng điệu hệt như là họ mới gặp nhau ngày hôm qua.
- Hello, mister Karl! - Bà lão đáp lại với vẻ điềm tĩnh, tạm cho là tự nhiên đối với người vắng mặt lâu ngày. Hắn ngước mắt nhìn lên phía trên, chỗ hàng hiên và một nỗi tức giận đã trào lên đâu đó tận đáy lòng của hắn: vì sao nàng không bước ra đón hắn! Nhưng hắn lập tức dẹp bỏ ngay cảm giác này và thong thả đếm tất cả sáu bậc cầu thang và bước vào phòng khách mà cánh cửa lắp kính đã được mở sẵn. Khứu giác của hắn đã bắt được mùi hoa hồng đậm đặc. Và chỉ một thoáng sau, khi nàng từ cửa bước ra, hắn có cảm giác dường như hắn sắp khuỵu xuống: hắn đứng rụt rè, vụng về, lo lắng hệt như vào cái ngày xa xưa ấy, khi lần đầu tiên hắn cả gan nói chuyện với nàng… Đây là người đàn bà duy nhất, người mà tôi muốn coi là vợ mình! Sự rụt rè, sự vụng về, nỗi lo sợ đã biến mất ngay trong khoảnh khắc sau đó. Hắn bình tâm trở lại: dường như có thể san sẻ được với nàng gánh nặng như trước. Ở đây, ít nhất hắn cũng không cô đơn; ở đây, bên cạnh nàng còn có thể yên tâm được… Nhưng sự yên tâm là nhược điểm nguy hiểm trong cái thế giới tù hãm này… Hắn cố nhìn nàng bằng cặp mắt lý trí sắc sảo, nhưng cảm xúc đã làm giảm bớt thị lực của hắn, còn hồi ức về những giây phút đáng xúc động của sự gần gũi đã cắt vụn hình ảnh của nàng: hắn đã nhìn thấy ở phía trước cả dãy khuôn mặt của người đàn bà mà hắn quen biết từ nhiều năm nay, chất đầy những cuộc hẹn hò ngắn ngủi và kín đáo… Chỉ có phụ nữ mới có thể kiên định như vậy mà thôi.
(còn tiếp)
Nguồn: Quyền lực của đêm tối (The night of their own). Tiểu thuyết của PETER ABRAHAMS. Thái Thành Đức Phổ dịch từ tạp chí Văn học nước ngoài, Matxcơva, số 6 & 7 năm 1986. Nhà xuất bản Văn học, 2006.
|