Có lẽ anh ta công nhận điều Già Nanđa nói là phải, và tất cả những người còn lại đều cảm thấy điều đó. Già Nanđa nằng nặc đòi cho kỳ được cuộc gặp mặt này và muốn bước ra khỏi cuộc tranh luận với tư cách là người chiến thắng. Lão ném cái nhìn đắc thắng vào cậu con trai. Giô đứng tựa người vào bàn, trên khuôn mặt anh hiện lên cái bóng đen ảm đạm rất quen thuộc đối với người cha. Anh thường có biểu hiện như thế mỗi khi phải quyết định một vấn đề hoặc một nhiệm vụ khó khăn, và trong những ngày qua Già Nanđa bao giờ cũng buồn rầu vì cậu con trai không muốn chia sẻ mối lo âu của mình với lão, thậm chí không yêu cầu cả sự giúp đỡ. Lão từng trải qua chính cái cảm giác của sự thất vọng. Cũng cái cảm giác đó đang chiếm lĩnh người lão lúc này rõ ràng là do không đồng tình với sự đắc thắng nhỏ nhoi của lão.
“Trong rừng hoang, không có chỗ dành cho sự mơ ước” - Giô ngẫm nghĩ, không một chút ác cảm đối với cha.
Đavut Nankhu ngồi tụt sâu vào trong ghế bành, lưng uốn cong lại hệt như một cái càng xe kéo. “Chúng ta cần phải nhìn thẳng vào cái sự thật chẳng dễ chịu gì đối với chúng ta - Ông tự nhủ. - Sự xấu xa và tội ác cũng mạnh như vẻ đẹp và lòng tốt. Những ước mơ, lòng khao khát điều thiện đối với chúng ta, bản tính tự nhiên của con người là một cái gì đó tự nhiên và không cần phải giải thích. Đụng chạm với điều ác và sự xấu xa, chúng ta cố giải thích chúng bằng sự trợ giúp của các lý thuyết chính trị, lịch sử và xã hội học. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ tìm ra được sự giải thích về sự cao quý của người này hay người nọ. Ví dụ, chưa bao giờ chúng ta tự hỏi, vì sao Nêru đã có thể trở thành mà lại không trở thành nhà độc tài của Ấn Độ (nếu như ông ấy trở thành nhà độc tài, các nhà bác học vĩ đại lập tức xác định được những cội rễ nảy sinh chế độ độc tài này). Rồi sự tồn tại một cách tự nhiên của cái thiện trước mắt chúng ta ; rồi sự tồn tại của cái ác, tất cả đều đòi hỏi sự giải thích. Có thể là chúng ta sẽ tỏ ra sợ hãi trước thực tại của thế giới, nơi cái thiện và cái ác đang diễn ra cuộc giao chiến bất phân thắng bại và mỗi phía đều có thể giành được thắng lợi? Tuy nhiên, chính tôn giáo của chúng ta, lịch sử của chúng ta, tất cả những gì mà chúng ta nhận thức được, đều tiên đoán sự toàn thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác. Nếu như cái thiện và cái ác tiến hành cuộc giao tranh bất phân thắng bại và mỗi phía đều có khả năng giành được thắng lợi…”.
Nỗi vui mừng của Già Nanđa đã bị dập tắt. Ba người trẻ tuổi sẵn sàng cho rằng lão thắng điểm, tuy nhiên điều đó hoàn toàn không gây cho họ một ấn tượng nào. Tại sao?
- Nghĩa là các anh hành động một cách ngu xuẩn, liều mạng - Lão nói với ý khích bác có phần quá đáng.
- Trong vấn đề này tôi không đồng tình với ông! - Nkôzi phản đối. - Thừa nhận tất cả những cái ấy là mơ ước không có nghĩa công nhận rằng đã ước mơ một cách xuẩn ngốc. Ông cho rằng điều đó là xuẩn ngốc, đấy là quyền của ông. Tuy nhiên về phía chúng tôi, chúng tôi không cho là như vậy.
- Vậy thì anh hãy giải thích cho tôi biết ý nghĩa trong những điều ước mơ của anh là thế nào? - Già Nanđa sốt ruột yêu cầu.
- Tôi không tin là tôi làm được điều đó. Làm thế nào để giải thích được cho ông vì sao tôi lại ngắm nghía những bông hoa? Tôi không đủ sức lý giải điều đó, thậm chí cho chính bản thân mình. Cố nhiên tôi có thể đề cập đến mùi hương, nhưng, trời tru đất diệt tôi đi, nếu như tôi biết vì sao chúng gợi cảm đến thế trong lòng tôi. Tôi chỉ biết quả thực là chúng gợi lên cảm xúc trong lòng tôi mà thôi. Tôi thậm chí không biết đời sống tinh thần của tôi bắt nguồn từ đâu. Tôi chỉ biết rằng tôi là người đang sống và nếu tôi là người đang sống thì cái nhu cầu đó của tôi cũng là cái nhu cầu của các thế hệ cha ông, nó càng khẳng định sự bền vững của tinh thần con người, cái sức mạnh bí ẩn ấy đã tạo ra cho chúng ta sự dịu dàng và sự phẫn nộ, tình yêu và niềm tin vào những khái niệm trừu tượng giống như danh dự, sự công bằng và cái thiện. Ông vừa mới chứng minh cho chúng tôi rằng trên thế gian đang tồn tại cái ác. Ngay cả điều đó tôi cũng không giải thích được. Tuy nhiên tôi biết là cái ác đang tồn tại và tôi biết rằng niềm khao khát khẳng định sự bền vững của tinh thần con người có thể xuất hiện vào lúc hiểm nghèo để chúng ta lao vào cuộc chiến đấu sinh tử chống lại sự độc đoán bẩn thỉu. Thế hệ của chúng tôi không phải là đầu tiên và tôi cho rằng không phải là cuối cùng mà sứ mệnh tương tự đã đặt vào đó. Hiện thời đây là trách nhiệm thiêng liêng của chúng tôi, bởi vì không nơi nào trên thế giới lại xảy ra những tội ác khủng khiếp đến thế, không có nơi nào đe dọa tinh thần con người đến mức như ở đất nước chúng ta. Điều đang nói hoàn toàn không phải là về chủng tộc hoặc là về màu da. Có thể ông sẽ hỏi, thực chất là ở đâu? Chắc gì tất cả những người tham gia phong trào của chúng tôi đồng tình với tôi, hơn nữa chính tôi cũng không đồng tình với nhiều thứ đang diễn ra trong phong trào, mặc dù vậy, có trời chứng giám, tôi làm được rất ít việc có ích so với những người khác. Thế đấy, theo tôi thực chất là ở chỗ sự phát triển nhanh chóng của Nam Phi, nơi đang diễn ra cuộc đối thoại căng thẳng tột độ giữa nhân dân và đất đai mà họ đã tạo ra, đã gieo những hạt giống đặc thù và nuôi dưỡng nó, có thể bắt đầu ngay sau khi đất nước của chúng ta chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc xấu xa. Thiếu cái đó thì phong trào không thể nào phát triển được.
- Đấy là quan điểm của dân tộc anh và tổ chức của anh.
- Tôi không thể nói thay cho mọi người. Nhưng tôi biết rằng nhiều người nghĩ như vậy. Trước đây chúng tôi từng bắt đầu đấu tranh với những kẻ đối địch với những quan điểm của chúng tôi, bởi vì một xã hội được sắp xếp một cách hợp lý sẽ bảo vệ quyền lợi cho tất cả dân tộc, đó là một trong những bộ phận cấu thành niềm tin của chúng tôi. Chế độ dân chủ, đó là chính thể của số đông, nhưng chỉ riêng mình nó thôi thì còn chưa đủ đối với sự phát triển trọn vẹn tinh thần con người, nhưng cần phải bắt đầu từ cái đó.
- Cám ơn anh, - Già Nanđa nói và quay về phía con trai. - Cuộc trao đổi của chúng ta đã bị kéo dài. Giô, uống một ít rượu chắc cũng chẳng có gì là xấu. Hãy mang rượu vang ra đây, còn ba thì đem cho ba một ít rượu brandy.
Giô rót đầy rượu vào các cốc và phân phát cho những người có mặt. Suốt thời gian này trong phòng hiện diện sự im lặng khó tả. Già Nanđa bưng cốc của mình, yêu cầu cho sôđa và ngả người trên lưng ghế.
- Cố nhiên là anh hiểu rằng tôi không đồng tình với anh, nhưng giờ thì tôi hiểu, anh cố gắng để đạt được cái gì. Tôi vẫn tiếp tục cho rằng đấy là những mơ ước vô bổ, nhưng ít nhất tôi cũng đã hiểu rõ ý nghĩa của chúng. Anh không bao giờ thay đổi được thế giới này, nhưng giờ thì có lẽ tôi hiểu rằng anh cần phải vượt qua thử thách…
- Mặc dù sự thất bại đang đe dọa chúng tôi - Giô Nanđa nói.
- Anh không tạo dựng được thiên đường trên trái đất, - Già Nanđa quay về phía Nkôzi. - Khổ một nỗi là con trai tôi bao giờ cũng cho rằng tôi là một tên phản động cỡ bự, bởi vì nó không bao giờ nói chuyện cởi mở với tôi và không bao giờ nhờ tôi giúp đỡ - Lão uống hết chỗ rượu còn lại và chìa cốc cho Giô.
Giô lại rót rượu đầy cốc.
- Thế bây giờ ông không giúp chúng tôi nữa sao? - Nankhu hỏi.
Già Nanđa thận trọng.
- Lại có những chuyện khó chịu mới nào đó phải không?
- Con sợ là có, - Giô đáp và giải thích rằng họ đã nhận được kế hoạch mà họ từng chờ đợi và chuyện họ buộc phải đưa Nkôzi vượt qua biên giới mà không có sự trợ giúp của người nào cả.
- Nghĩa là, anh ở đây cũng như đang ở trong bẫy, - Già Nanđa nói với Nkôzi. Và lão tự nghĩ xa hơn: còn tất cả chúng ta thì đang ở trong tình trạng hết sức nguy hiểm. Từ bây giờ mối nguy hiểm sẽ luôn bám theo ta và những người gần gũi của ta, bởi vì ta nuôi dưỡng cho con trai trở thành người hay mơ mộng trong cái thế giới tàn bạo này.
Nhưng giờ thì không hiểu tại sao những mơ ước của họ không còn làm cho lão tức giận nữa. Lão đứng lên khỏi ghế và khom người kiểu cách ra dấu chào ba người và đi về phía cửa. “Chính là nhờ anh chàng người Phi bé con - lão thoáng nghĩ - lão đã trở nên gần gũi với con trai của mình hơn bao giờ hết, kể từ khi người con trai trưởng thành”.
- Tôi sẽ cố gắng làm tất cả những gì mà tôi có thể làm được, - Lão hứa, khép cánh cửa sau lưng và vừa mải mê suy nghĩ, vừa từ từ đi xuống phía dưới.
Lão hiểu rằng, nếu như hai người ấy giờ đây còn ở lại trong nhà cùng với Giô, con lão, thì chẳng mấy chốc cảnh sát sẽ tìm ra họ - điều này chỉ còn là vấn đề thời gian - lão và những người thân của lão sẽ bị tiêu vong cùng với bản thân họ, những ước mơ và những câu chuyện thần thoại của họ. Nhưng trong tim lão không hề có sự phẫn nộ mà chỉ có sự lo lắng hết sức sâu xa.
BỐN- Già Nanđa tỉnh dậy ngay tức khắc, không có bất cứ sự chuyển tiếp nào từ một giấc ngủ sâu đến khi tỉnh giấc.
Và cùng lúc, khi đã tỉnh dậy, trong đầu lão liền nảy ra một kế rõ ràng và dứt khoát đến mức dường như lão đã từng ấp ủ nó trong nhiều ngày. Già Nanđa bắt đầu xét đoán theo các quan điểm khác nhau của mình, cố gắng tìm ra những chỗ khiếm khuyết. Tuy nhiên lão không thể tìm thấy bất cứ điều gì, ngoại trừ thiếu sót mà lão đã biết ngay từ những giây phút đầu tiên. Cố nhiên là có mối nguy hiểm nếu như bại lộ. Bại lộ có nghĩa là thảm họa. Tuy nhiên việc không hành động cũng có nghĩa là thảm họa. Lối thoát duy nhất trong tình thế hiện thời chỉ có thể tìm thấy ở sự hành động và chỉ có nó mới hứa hẹn thành công. Vì thế cần phải mạo hiểm.
Lão chìa tay về phía cây đèn, bật công tắc điện. Lão nằm nguyên trên giường một lúc lâu, ngước mắt nhìn lên trần nhà, lại tiếp tục cân nhắc cẩn thận kế hoạch của mình, cố gắng trong chừng mực có thể không đụng chạm đến mặt yếu của nó, nơi có thể làm tiêu tan tất cả những ưu điểm của nó. Cuối cùng Già Nanđa hất tấm mền đang đắp qua một bên và leo xuống giường. Đồng hồ báo thức chỉ gần năm giờ. Lão mở toang cửa sổ, từ đó hiện ra mảnh sân sau và khu vườn rộng rãi - nơi mà gia đình lão đã sử dụng phần lớn thì giờ rảnh rỗi - xa cách hẳn với những cặp mắt tọc mạch của người láng giềng. Nếu anh đang sống ở khu phố da trắng thì anh không những phải chơi những trò ồn ào mà còn tỏ ra phải ngạo mạn một cách có tính toán.
Từ nơi xa xăm nào đó, một con gà trống cất tiếng gáy báo hiệu buổi sáng bắt đầu.
Và chỉ đến lúc cảm thấy không thể nào trì hoãn được nữa, Già Nanđa mới suy nghĩ về mặt yếu trong kế hoạch của mình.
“Nếu viên thuyền trưởng từ chối thì sao?
Liệu hắn ta có biết giữ mồm giữ miệng không? Hay là xuất phát từ ý thức trách nhiệm của mình, hắn sẽ tố giác với chính quyền? Nếu như hắn từ chối thì hắn sẽ hành động ra sao? Mọi chuyện đều lệ thuộc vào sự trả lời cho câu hỏi này”.
Tối hôm qua, viên thuyền trưởng đã dùng bữa cùng với lão tại đây, trong ngôi nhà này một vài giờ sau buổi chuyện trò của Già Nanđa với những người trẻ tuổi. Không hiểu vì sao lão không nghĩ ngay tới viên thuyền trưởng theo quan điểm này. Nhưng giờ đây lão cảm thấy hình như chỉ có viên thuyền trưởng là có thể có khả năng cứu thoát được họ. “Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu như hắn từ chối? Hắn có tố giác không? Hãy nghĩ cho thật chu đáo đi, Bố Già ạ; sinh mạng của nhiều người đã đặt vào ván bài này, đấy là chưa kể đến việc ngươi sẽ mất hết tất cả những gì mà ngươi có”.
Lão quay trở lại chỗ chiếc giường, rót cho mình một cốc nước lạnh, uống cạn một hơi và lại đi về phía cửa sổ.
Lại tiếng gáy của con gà trống lúc nãy.
Tiếng một con chó bắt đầu sủa ngậu xị.
“Hãy suy nghĩ cho đến nơi đến chốn đi, Già Nanđa ạ. Ngươi biết rằng gần chín năm trời - từ dạo đó hắn đem đến cho ngươi các thứ hàng vải sợi của Ấn Độ và Nhật Bản… Nhưng ngươi hiểu hắn chưa đủ. Đúng là không thể biết rõ một con người mà ngươi mới tiếp xúc mỗi lần hai ba giờ và một năm chỉ có vài ba lần, nhất là, nếu như cả hai đã nốc say nến nỗi không còn có thể xét đoán một cách minh mẫn… Ngươi thì mập và thấp, còn viên thuyền trưởng thì cao và thon; ngươi là giống tóc đen, còn hắn ta là người tóc vàng. Thế thì sao nào? Điều quan trọng không phải ở chỗ hắn ta nhìn sự vật như thế nào mà là ở chỗ sự vật ấy xuất hiện trước bản thân hắn như thế nào. Hắn có phải là người thật thà không? Phải. Chưa bao giờ hắn lừa dối ta và thậm chí không có ý định lừa dối”. Lão có một người dẫn mối mà trong mỗi chuyến hàng gã có phần ít nhất là một vài cuộn vải, hai tá áo sơ mi, áo dài và một số đồ vật khác. Thoạt đầu là mất các thứ lặt vặt, cuối cùng là sự cưỡng đoạt trắng trợn đã được cái gã ranh ma diễn đạt bằng lời: “Cứ để cho mấy thứ lặt vặt đó mất đi, Nanđa, cứ cho nó mất!”. Đành phải tìm người thay gã và ở thuyền trưởng Xtickelunđ thì việc mất những thứ lặt vặt đã được chấm dứt. Cố nhiên, lão đã tặng quà cho thuyền trưởng. Chuyện đó cũng thường xảy ra trong giới kinh doanh: để công việc tiến hành trôi chảy, cần phải mua những nhân viên bến cảng và các nhân viên hải quan bằng những tặng phẩm nho nhỏ. Nhưng khác với những người khác, như một việc dĩ nhiên, thuyền trưởng không bao giờ nhận những món quà này. Là người chân thật - đúng, và không có một chút kiêu ngạo nào trong quan hệ với những người không phải là da trắng.
“Một con người điềm tĩnh, rất không thích giao thiệp và không thích nói về mình thậm chí dưới mức bình thường. Có một bận, vào hôm trước lễ Giáng sinh, cách nay từ nhiều năm trước, hắn đã có nhắc đến vợ và hai đứa con nhỏ. Nhưng ngay lúc đó hắn đã thu mình lại và uống cho đến tình trạng không thể quay về tàu được nữa. Hắn đã ngủ trên bờ, trong ngôi nhà này, một lần duy nhất trong suốt thời gian quen biết lâu dài của họ.
Một con người cô độc, từng gánh chịu không ít đau khổ trong cuộc đời mình, một con người đã đặt phần lớn cuộc đời ở ngoài biển khơi và có nhà là ca bin bé nhỏ, đồ đạc bày biện rất nghèo nàn trên chiếc tàu thủy già nua, ì ạch chuyển vận dưới cờ hiệu của một trong những quốc gia non trẻ. Một con người có thu nhập vừa phải và chắc có lẽ, có những nhu cầu vừa phải. Nói trắng ra, đây là một người vô tư. Liệu con người này có thực hiện lời yêu cầu của ngươi không? Còn nếu là không, liệu hắn có giữ kín điều ngươi yêu cầu không?”.
Dù suy nghĩ căng thẳng đến thế nào đi nữa, Già Nanđa cũng không thể tìm được câu trả lời cho vấn đề này. Đây không phải là trường hợp có thể dễ dàng đoán ra mọi chuyện. Sự quen biết hời hợt của lão với con người này đã không cho phép nói một cách chắc chắn: hắn ta sẽ hành động đúng như vậy chứ không còn cách nào khác.
- Chỉ có một cách làm sáng tỏ điều này, - Nén nỗi sợ hãi, Già Nanđa lẩm bẩm.
Lão nhìn đồng hồ báo thức, nhận thấy còn quá sớm để nói chuyện với thuyền trưởng nên lại chui vào mền và bắt đầu suy tính cách thức nào an toàn nhất và có cơ hội thành công nhiều hơn cả. Tuy nhiên, nói cho đúng ra, không thể có cách nào gọi là an toàn.
Để giết thì giờ, thuyền trưởng Xtickelunđ ngồi lật xem cuốn nhật ký của người gác tàu. Buổi sáng ở cảng bao giờ cũng làm cho người ta chán nản, nhất là ở bến cảng này, nơi mà ông không có bạn bè và là nơi thậm chí ông cũng không muốn làm quen với họ; vì thế ông vội quay về với công việc. Hôm qua họ đã hoàn tất việc bốc dỡ hàng. Sáng hôm nay người ta chất than lên, tiếp nhiên liệu và nước ngọt, thêm một ít trái cây và đường, sau đó con tàu sẽ rời khỏi cảng và đi về hướng kênh Xuyê. Như vậy, trước lúc mặt trời lặn, họ đã từ giã bến cảng hôi thối này, nơi mà thậm chí nước đại dương cũng bị vấy bùn hết sức là dơ dáy.
(còn tiếp)
Nguồn: Quyền lực của đêm tối (The night of their own). Tiểu thuyết của PETER ABRAHAMS. Thái Thành Đức Phổ dịch từ tạp chí Văn học nước ngoài, Matxcơva, số 6 & 7 năm 1986. Nhà xuất bản Văn học, 2006.
www.trieuxuan.info
|