Chương 16
Số có của và số đào hoa đúng là cùng phát triển song hành, cùng đến một lúc.
Tết xuân càng ngày càng đến gần. Khâu Vân Bằng bí bích không triển khai được gì.
Nhưng anh ta không hoang mang, anh ta bình tĩnh chịu khó chờ đợi.
Trong lúc chờ đợi hoặc là đón thất bại, hoặc là đón thành công. Amh ta luôn luôn tụng kinh, chép kinh, luôn luôn đốt hương quì lạy.
Trước tết thời gian rất phân tán, toàn bộ Kinh thành không một chút không khí buôn bán. Vô số chuyến bay chở khách buôn bán tụ tập tại đây đi trời nam đất bắc, càng đến gần tết xuân, kinh thành càng vắng lạnh.
Một số người trong ban trù bị Câu lạc bộ Văn hoá Trung Hoa cũng càng ngày càng ít qua lại với anh ta, ai cũng bận việc của mình.
Hoa Nhài lâu lắm cũng không đến.
Hồ Dã Bình và Cao Mục ngay đến điện thoại cũng không gọi, hình như đã bắt đầu tìm lối khác.
Tang Đại Minh ra tỉnh ngoài vẫn chưa về.
Hà Văn Khôi, chỗ khách sạn Đại Bắc Quốc chỉ hỏi tình hình vốn bên này, càng tỏ ra lạnh nhạt.
Nhà hàng lẩu Tứ Xuyên, anh ta vẫn đến ăn, Thẩm Tây Muội vẫn làm ăn khá tốt, sốt sắng thân thiết, nhưng quan hệ giữa hai người có thay đổi, chuyện giường chiếu hình như không còn, song hai tiểu thư Tứ Xuyên trong nhà hàng lần lượt được anh ta mồi chài sưởi ấm, tăng thêm được hai kỷ lục hết sức mờ nhạt trong bảng thống kê chiến tích chinh phục đàn bà hàng năm của anh ta.
Số có của và số đào hoa đúng là phát triển song hành, cùng đến một lúc.
Bỗng chuông điện thoại réo. Anh ta vội vàng bước đến cầm ống nói. Cả ngày không có tiếng chuông điện thoại, nỗi quạnh vắng khiến anh ta cảm thấy mùi chết chóc.
A lô, ai đó?
Trong giây lát, anh ta lên giọng tỏ ra bận mải trăm công ngàn việc, vừa bận rộn vừa nghiêm túc.
Giọng ở đầu dây bên kia sát khí đằng đằng, khiến anh ta giật mình sởn tóc gáy:
Khâu – Vân – Bằng.-
Phía bên kia nghiến răng nghiến lợi nói:
Nghe ra tôi chưa?
Hử một tiếng, anh ta bất chợt lạnh toát người. Đây là tên đầu sỏ nhỏ của xã hội đen ở Hải Nam được người ta thuê đi tìm và đòi nợ, có tên là A Hùng giết người không chớp mắt.
Hay lắm, Khâu Vân Bằng, coi như đã tìm thấy anh, làm thế nào đây?
Hắn vẫn bám đòi tiền cho chủ nợ của Khâu Vân Bằng.
Theo luật lệ làm ăn, Khâu Vân Bằng đã nói những lời cần nói: Phải tiền anh ta nợ, anh ta sẽ phải trả, không phải tiền anh ta nợ, một xu cũng không trả, hiện giờ chưa có tiền, chuyện đã rõ, chỉ có một cách là hoãn trả, ăn tết xong buôn bán ở Kinh thành mở ra, nợ cần trả, anh ta đều trả.
Đòi nợ cuối năm thành cái lệ lâu đời ở Trung Quốc. Tục ngữ có câu:Trón nợ mồng một, trốn sao nổi ngày rằm.
Phía bên kia vẫn căng cứng:
- Anh hãy chờ, tôi sẽ đến tìm anh. Chẳng phải anh đang ở Làng thế vận hội châu Á? Hãy nói cho tôi một lượt số phòng, số tầng nhà anh ở?
Khâu Vân Bằng nói thật một lượt số phòng, số nhà gác, địa chỉ mình đang ở.
Khâu Vân Bằng, nói cho anh biết, không được trốn, hãy thật thà chở ở đó.
Việc gì tôi phải trốn? Tôi chờ anh – Khâu Vân Bằng đáp.
Tối đến, Khâu Vân Bằng mở một bên cánh cửa ra vào. Anh ta đốt một nén hương ở phòng ngoài, để sẵn kinh Phật trên bàn, quyển “Đạo đức kinh”, rót mực, cầm bút lông, lặng lẽ chép từng dòng, từng dòng kinh Phật.
Nghe thấy tiếng bật công tắc cầu thang điện, nghe thấy tiếng bước chân ở ngoài cửa.
Lại một lát nghe thấy tiếng đẩy mạnh cánh cửa nặng trịch, anh ta cảm thấy có kẻ sát khí đằng đằng đứng chặn ở cửa. Anh ta vẫn lặng lẽ chép từng dòng từng dòng kinh Phật, đang chép đến chương bốn mươi hai “Đạo đức kinh”: “ Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, vạn vật bế âm ôm dương, xung khí ôn hoà”.
Trong nhà ánh đèn mung lung.
A Hùng đòi nợ ở Haỉ Nam, râu sồm đầy mặt, mày rậm mắt to, lúc này hai tay chống nạnh, đứng tại chỗ, hau háu nhìn như hổ sắp vồ mồi. Phía sau hắn cửa đã đóng. Bên hắn còn có một chàng trai tầm tầm đang đứng. Ánh mắt của A Hùng dọi thẳng vào Khâu Vân Bằng đang chép kinh, xem anh ta giả vờ bình tĩnh đến mức nào..
Khâu Vân Bằng vẫn chép tại chỗ, không ngước mắt. Phựt phựt một phát, A Hùng cởi phăng cúc áo ngực, phanh áo ra, để lộ khẩu súng lục và con dao găm giắt ở thắt lưng, bước mấy bước sát bàn trà.
Khâu Vân Bằng đương nhiên nom rõ hai chân to khoẻ ở trước mặt, cũng nhìn thấy hung khí hắn gài ở thắt lưng và hai cánh tay lông đen sì chống nạnh.
Anh ta vẫn im lặng, chép từng nét từng nét bút cần chép.
Chỉ có chàng trai đi theo A Hùng không im lặng nổi, với giọng đặc sệt Bắc Kinh, anh ta nói với Khâu Vân Bằng:
Vờ vịt cái gì thế!
Khâu Vân Bằng khẽ thở, ưỡn thẳng lưng, liếm liếm bút, bình tĩnh ngước mắt, nhìn chàng trai:
Cậu làm gì vậy? Có thể cho xem giấy tờ được không?
Chàng trai lại định gây sự, Khâu Vân Bằng bỗng quăng bút lông lên bàn, chỉ vào A Hùng nói, chuyện của tôi và chuyện của anh bạn Hải Nam này có liên quan gì đến cậu? Cậu đi ra cho tôi.- Anh ta chỉ thẳng vào chàng trai quát to.
Anh chàng quen sống ở Bắc Kinh đỏ mặt, xắn tay áo lên định quát nạt.
Khâu Vân Bằng chủ động tấn công trước, gân guốc nổi lên, anh ta chỉ vào chàng trai quát to:
- Đi ra ngoài kia, ở đây không có chỗ cho cậu nói chuyện.
Cùng một lúc, anh ta ngước mắt nhìn A Hung:
- Chẳng phải anh làm việc của anh sao? Anh tìm tôi, chứ không phải cậu ta tìm tôi phải không? Chẳng phải anh muốn đòi tiền? Chẳng phải anh muốn giải quyết vấn đề? Chẳng phải để ra về anh có cái mà nói với người ta? Chẳng phải anh là một giang hồ hảo hán? Chẳng phải anh cũng tranh phần của mình theo luật làm ăn ?
Vừa nói, Khâu Vân Bằng vừa cởi áo cộc tay, vén áo sơ mi lót trong chìa ngực ra:
- Anh dùng thứ gì đây? – Anh ta chỉ vào khẩu súng ngắn và con dao găm giắt ở thắt lưng A Hùng, lại chỉ vào ngực mình – Tất cả ở đây, tính mạng tôi trao cho anh, án để anh đi báo – Tay trái anh ta chỉ vào A Hùng, tay phaỉ anh ta chỉ vào chàng trai.
Đến lúc này, trái lại chính A Hùng đã bị trấn áp, hắn quay lại xua tay với chàng trai cùng đến, sau đó nói:
- Tổng giám đốc Khâu, anh cũng đừng nóng nảy thế, tôi làm theo luật lệ, anh cũng biết tôi đến đây làm gì. Tôi chỉ biết đòi tiền, cần tiền, đòi nợ.
Hắn thay chủ nợ đòi về tám trăm triệu đồng.
Khâu Vân Bằng thở dài thườn thượt, lại mở quyển “Kinh Kim Cương” sao từng chữ, cũng không thèm để ý đến A Hùng hai tay chống nạnh.
Một lúc sau, anh ta ôn tồn nói với A Hùng:
- Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, không phải không báo mà chưa đến lúc,khi đến lúc tất cả đều báo. Tôi biết gia đình anh những mấy đời đều tin Phật phải không?
- Tin Phật, không ảnh hưởng gì đến chuyện đòi nợ cho người ta, tin Phật thì vay mượn tiền vẫn phải trả. – A Hùng nói:
- Rõ rồi – Khâu Vân Bằng nói - Tôi đã nói rõ với anh, hôm nay không để tôi ăn tết – Anh ta vỗ vỗ ngực- Cái này, trao cho anh, hoặc – Anh ta chỉ vào canh tay mình - Chặt một cánh tay đem về bàn giao cho chủ anh.
Ngừng một lát, anh ta lại nói:
- Hôm nay anh hoãn cho tôi ở đây, qua tết triển khai buôn bán ở Kinh thành, tiền cần trả tôi sẽ trả, tôi không để anh mất mặt trên giang hồ.
Tôi đã buôn bán trên phạm vi lớn, đương nhiên cũng mong anh tham gia. Hiện nay tôi làm ăn rất lớn ở Kinh thành, ở Hải Nam không phải anh không biết tôi, không làm thì thôi, đã làm phải làm lớn. Ở Hải Nam tôi buôn bán không thành công, không phải Khâu này không tháo vát, mà là ý Trời! Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên. ở Kinh thành có khác, ý Trời có thể cho tôi thành công, vậy thì một chút nợ là chuyện vặt. A Hùng, sau này anh buôn bán với tôi, tôi cảm thấy là việc lớn! – Khâu Vân Bằng trầm ngâm một lát, nói tiếp - Sau này tôi không hy vọng anh một ngày từ sáng đến tối lúc nào cũng gài dao mang súng đi làm kẻ giết người!
- Anh chửi ai thế? – A Hùng hỏi.
- Phải, chính là không đi làm một kẻ giết người.! – Khâu Vân Bằng vẫn không hề xuống giọng – Tôi đã nói với anh từ lâu, số anh cũng ít nhiều có của, có thì giờ anh hãy đi quan sát ở Kinh thành, sau này tôi sẽ bày cho anh xem thế bố trí của tôi, cho anh một vị trí, giành cho anh hai dự án, anh kiếm tiền một cách hoà bình thân thiện. Ở hiền gặp lành mà! Kiếm đồng tiền lương thiện không tốt sao? Mọi người ôn hoà thân thiện đặt tiền vào lòng bàn tay anh không tốt hay sao? Anh chưa xem hương hoả trong chùa, những đồng tiền mọi người cung phụng, đều là ôn hoà thân thiện, tình nguyện tự bỏ vào trong hòm công đức. Tiêu những đồng tiền ấy chắc là có cảm giác khác so với tiêu đồng tiền đòi lại bằng súng bằng dao của anh?
Dừng lại một lát, anh ta giục:
Anh cứ nói với họ không tìm được tôi ở Bắc Kinh.
Thấy A Hùng vẫn im lặng, anh ta lại thêm một câu:
Tôi ghi nhận lòng tốt của anh, sau này tôi nhất định sẽ trả nợ anh!
Khi nói những lời này, mắt anh ta cụp xuống, dơ tay chỉ vào bàn uống trà ở chênh chếch phía dưới, hình như không phải A Hùng đứng ở đó mà đang quỳ trước mặt anh ta.
Chương 17
Trong mắt anh ta, triết học quăng ném thòng lọng có lẽ là triết học đời sống của thế giới này.
Đêm ba mươi tết vừa huyên náo vừa vắng vẻ.
Mở máy vô tuyến truyền hình, đang dạ hội tết xuân, tưng bừng náo nhiệt. Tắt máy vô tuyến truyền hình, Kinh thành yên tĩnh giá lạnh, lửa đèn chiếu sáng vạn nhà.
Đường phố trống vắng, không có ô tô, khắp vùng Làng thế vận hội châu Á, các khách sạn nhà hàng vắng vẻ, nhà cao tầng từng cái, từng cái tối đèn.
Khâu Vân Bằng quyết định ở lại Kinh thành, một mình đón giao thừa.
Anh ta không thể về Hải Nam, ở đấy chỗ nào cũng có con mắt, bộ mặt và chân tay đòi nợ. Anh ta cũng không thể về quê, ở đó vẫn không có cảm giác an toàn, không thể giải thích rõ ngọn nguồn, đành phải nói với người ta một tiếng, buôn bán phải ra nước ngoài, không về được, xin bố mẹ thông cảm tha thứ, buôn bán cách biển không cho phép.
Anh ta ra ngoài, đi giữa những cụm nhà cao tầng, từng ngôi, từng ngôi nhà cao ngất sừng sững trống rỗng giống như những vách đứng cheo leo trong rừng sâu hoang lạnh, kẹp anh ta một cách nặng nề. Như một bóng ma anh ta bay qua bay lại, anh ta thậm chí nghĩ đến những chữ “ma khóc sói gầm”, “ rừng sâu vực thẳm”.
Vẫn là trở về phòng.
Đêm đó, kinh, đã từng chép, chú, đã từng đọc, hương cũng đã từng đốt.
Anh ta quyết định thử ngẫm ngộ một chút triết học cuộc đời, chơi một trò chơi nho nhỏ.
Một vò rượu mở ra, anh ta uống hết chén này đến chén khác.
Trên thảm nền nhà, anh ta bày một thế trận: Một cái ống bút, một phích nước, một cốc uống trà, một cái đồng hồ báo thức, một cốc nước lã, một người bằng sứ, một cái đèn bàn nhỏ, mấy lọ gia vị, hai bình hoa to, một loạt bát sứ to nhỏ khác nhau, chiếc gạt tàn thuốc lá, lại dựng dọc một tút thuốc lá, thậm chí còn có một gói hạt dẻ cười, hai chai rượu Khổng Phủ Gia…
Trên thảm nền nhà, xa xa gần gần xếp kín đồ vật. Đây là thế giới anh ta phải đối mặt, tượng trưng cho từng con người và từng dự án.
Anh ta mở va ly da, lấy ra một cái túi, từ trong túi lấy ra hàng trăm cái vòng mây. Vòng mây có cái to cái nhỏ, cái to bằng cái vòng ném bóng rổ, cái nhỏ bằng cái vòng đeo tay, không nhớ rõ năm nào, trong công ty ở Hải Nam, tổ chức liên hoan đón xuân chơi ném vòng có thưởng, anh ta rất thích, sau cuộc chơi anh ta đã thu cất một loạt vòng.
Anh ta thường hay chơi một mình trò quăng ném vòng tròn thòng lọng.
Anh ta ngồi xếp bằng trên xô pha, nhìn vật phẩm bày la liệt trên thảm nền nhà, đó là một đại thiên thế giới.
Anh ta thản nhiên ném hết vòng mây này đến vòng mây khác, cái thì tròng vào phích, cái thì móc chéo lên vai phích, cái thì chụp vào cốc uống trà, vào lọ mực. Vòng to tròng vật to, vòng bé chụp vật nhỏ, mỗi vòng có tác dụng riêng của nó. Vòng nào không ném trúng thì lăn lăn nhẩy nhảy, cuối cùng đổ ra đất, một thế giới loè loẹt ngập ngụa nền nhà.
Khi hàng trăm cái vòng mây bay khỏi tay anh ta, anh ta lơ đễnh nhưng lại chú tâm cân nhắc điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, kỹ thuật ném và sức tay ném. Ném xong đếm chiến quả, rời xô pha, thu nhặt vòng, rồi quay về chơi tiếp.
Mọi sự vật và nhân vật trên thế giới này, giống như những người bằng sứ, phích nước, cốc trà, đồng hồ báo thức, lọ mực xa gần cao thấp khác nhau, nặng nhẹ nhanh chậm khác nhau.
Triết học của ném vòng, quăng thòng lọng có lẽ là triết học của đời sống.
Một con người, ngày nào cũng quăng ra ngoài vô số thòng lọng. Một lời nói, một việc làm đều là thòng lọng quăng ra, tròng được bao nhiêu là bấy nhiêu, tròng được cái gì là cái ấy, đều ở kích thước, số lượng và kỹ thuật quăng ném thòng lọng của bạn.
Cái xa khó tròng, cái gần dễ tròng, là phép tắc thứ nhất. Cái quan trọng tròng trước, cái thứ yếu tròng sau, là phép tắc thứ hai. Vừa gần vừa quan trọng, đặc biệt phải tròng trước, là phép tắc thứ ba. Xa quan trọng, gần thứ yếu, phải cân nhắc tổng hợp, là phép tắc thứ tư. Đặc biệt quan trọng, phải quăng nhiều thòng lọng một lúc, là phép tắc thứ năm. Quan trọng hơn nữa, không tiếc xê dịch vị trí của mình, bước đến quàng tất cả thòng lọng vào, là phép tắc thứ sáu. Vòng to tròng vật to, vòng nhỏ tròng vật bé, tận dụng hết tác dụng của thòng lọng, là phép tắc thứ bảy. Vòng nhỏ tròng vật to, lực bất tòng tâm, vòng to tròng vật nhỏ, dùng dao mổ trâu cắt tiết gà, là phép tắc thứ tám. Một cái thòng lọng to có thể tròng một lúc mấy vật tương ứng, là phép tắc thứ chín. Còn có thể có thòng lọng liên hoàn, một thòng lọng tròng hai vật, còn thòng lọng kia tròng một cái trong đó, lại tròng được một vật khác và thế là vòng nọ liên hoàn vòng kia, tất cả người và vật bị tròng chặt trên thế giới này được nối lại với nhau, là phép tắc thứ mười. Ngay một lúc không tròng được, không sao - luyện tay, luyện kỹ xảo, là phép tắc thứ mười một. Có khi càng căng thẳng, càng cố chấp, càng cố tròng trúng, lại không chuẩn, càng vô tâm, càng ném tuỳ tay, càng ném mười trúng chín, là phép tắc thứ mười hai. Vòng ném ra không tròng được người và vật, kịp thời nhặt về sử dụng tuần hoàn, là phép tắc thứ mười ba. Không bao giờ có cảm giác chán ngán, phải luôn luôn quăng thòng lọng, là phép tắc thứ mười bốn. Cách một thời gian, dọn dẹp chiến trường một lần, chỉnh lý thòng lọng một lần, xem xét thế giới một lần, tổng kết một lần thành tích chiến đấu, là phép tắc thứ mười lăm. Mặc dù quăng ném thòng lọng như thế nào, mắt không được hoa, tim không loạn nhịp, liên tiếp ném không trúng cũng không được mất lòng tin, liên tiếp ném trúng, cũng không được mất tỉnh táo, là phép tắc thứ mười sáu. Mệt đến đâu chăng nữa, cũng không được dừng tay, nhắm mắt quăng cũng được, cũng có thể trúng, là phép tắc thứ mười bảy. Một cái thòng lọng sắp sửa mắc lên một vật, nói trúng mà không trúng, nói không trúng lại trúng, lúc này quăng thêm một thòng lọng nữa, vừa va vừa mắc, hai cái thòng lọng cùng tròng chặt một lúc,là phép tắc thứ mười tám.
Còn phép tắc gì nữa?
Anh ta cứ ném vòng mây vun vút.
Tim phải mạnh, tay không được mềm, cần tròng là phải tròng, dám tròng, là phép tắc thứ mười chín. Quăng chuẩn ném trúng, khi trạng thái tốt, phải tranh thủ thời gian quăng ném liên tục, thời cơ không bao giờ trở lại, không để lỡ thời cơ, là phép tắc thứ hai mươi.
Còn không?
Anh ta đã từng tổng kết hơn sáu mươi phép tắc.
Anh ta nheo mắt ném ra ngoài vun vút.
Nơi ngoài rìa nhất, cho dù không có mục tiêu gì quan trọng đắc biệt, cũng phải ném một hai thòng lọng, để chứng minh kỹ thuật của mình, để chứng minh tầm nhìn của mình, để chứng minh mức to rộng của phạm vi quăng ném thòng lọng của mình, là phép tắc thứ hai mươi mốt. Thòng lọng đã thu về, cái nứt, cái gẫy, buộc lại sửa lại, phải kịp thời chỉnh sửa thòng lọng, là phép tắc thứ hai mươi hai.
Còn phép tắc nào không?
Bản thân là một con người, đứng trong đại thiên thế giới, cũng có thể bị thòng lọng của người khác quăng ném ra tròng chặt, không được đứng chết dí một chỗ, phải hoạt động, phải linh động, phải linh hoạt, đây là phép tắc tránh bị thòng lọng siết chặt, là phép tắc thứ hai mươi ba. Anh tròng tôi, tôi tròng anh, tránh kịp thời, ra tay mạnh, là phép tắc thứ hai mươi tư.Thòng lọng có hình dễ tránh, thòng lọng vô hình khó phòng, là phép tắc thứ hai mươi nhăm. Phải đề phòng thòng lọng vô hình của người khác,phải sử dụng thòng lọng vô hình của mình, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng, là phép tắc thứ hai mươi sáu.
Phép tắc rất nhiều, nhiều lắm, anh ta vừa ném vòng, vừa có thể tổng kết ra rất nhiều phép tắc. Thường là tổng kết lần này không trùng lặp hết tổng kết lần trước, cá biệt có phép tắc bỏ quên, lại cá biệt có phép tắc mới sáng tạo.
Tròng đến mức cao tay, gọi là “ vô vi vô bất vi ”: không làm gì cả, không việc gì là không làm.
Vô tâm làm thòng lọng, đã có thòng lọng, vô tâm quăng thòng lọng, đã quăng trúng.
Tuỳ tâm sở thích, đều thành thòng lọng. Tròng vạn vật thiên hạ trong tay.
Hết lần này đến lần khác, thu về những cái vòng thòng lọng rải đầy nền nhà, hết lần này đến lần khác xếp lại hàng trăm vật trên thảm nền nhà, anh ta đã lập nên mấy quyển từ điển đóng bìa đẹp.
Văn hoá thòng lọng – chúng sẽ tượng trưng cho văn hoá.
Cuốn sách triết học tượng trưng cho giới triết học. Cuốn tác phẩm văn học nổi tiếng tượng trưng cho nhà văn. Tập ngôi sao thể dục thể thao tượng trưng cho văn hoá thể dục thể thao. Tập ca khúc tượng trưng cho các ca sĩ trong giới nghệ sĩ sân khấu. Quyển từ điển y học tượng trưng cho văn hoá y học.
Còn nói về thòng lọng, chỉ khác nhau ở kích thước đường kính to nhỏ, không vì quyển sách này cao nhã sâu sắc huyền bí, mà khó tròng hơn. Cũng không vì quyển sách này hoa lá mà dễ tròng hơn.
Chỉ cần bạn đối xử bình đảng, không ngẩng lên nhìn chúng, không khiêm tốn, không sợ hãi, ôn hoà, bình tĩnh quăng ném thòng lọng của mình, êm, mạnh, chuẩn, một lần quăng không trúng, hai lần ba lần, cuối cùng có thể trúng.
Toàn bộ thế giới là những thòng lọng liên miên không dứt.
Anh ta nhận xét, trên thế giới, nghệ thuật thao tác và chiến lược thao tác về chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao, thật ra là lý thuyết về quăng ném thòng lọng.
Chỉ cần không đánh giá xấu thòng lọng, nghiên cứu nó một cách chính xác về kỹ thuật, trình bày nó một cách triệt để về triết học, sẽ tương thông với những huyền bí của vũ trụ, huyền bí của trời đất và huyền bí của cuộc đời.
Nguồn: Siêu thòng lọng. Truyện của Kha Vân Lộ (Trung Quốc).
Vũ Công Hoan dịch.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info
|