tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
21.05.2009
Vũ Hạnh
Cô gái Xà Niêng

Mở đầu


Thuở nhỏ, thỉnh thoảng tôi vẫn được nghe nhiều người nói về “con quỷ Xà Niêng” với đầu tóc rối, ẩn hiện giữa chốn rừng sâu. Những chuyện huyễn hoặc như thế là mối ám ảnh đối với đầu óc trẻ thơ, có thể sống khá lâu dài theo với tháng năm. Lớn lên, qua các sách vở, tôi hiểu Xà Niêng là một giống người thiểu số ở các vùng cao, trải qua nhiều đời không có điều kiện tiếp cận với các cuộc sống phát triển nên đã suy thoái, dần dần rơi xuống tình trạng nửa vật, nửa người. Chúng ta từng nghe nói về người Nục, hoặc người Đồi Mồi, hay là người Khả Lá Vàng, cũng đang chìm dần vào tình trạng ấy ở trong sâu thẳm Trường Sơn.


Vào năm 1969, ở tại nhà lao Tân Hiệp, hai anh bạn tù dân tộc Ra-đê là Y Bang Niê và Y Đuan Niê kể cho tôi nghe một chuyện Xà Niêng mà theo các anh, đó là sự thực: trước đây, có một người Pháp, làm việc ở Pleiku, trong một chuyến săn đi sâu vào trong rừng già, bắt được một con Xà Niêng. Ông đã tìm đủ mọi cách thuần hóa con “vật-người” ấy, rồi lấy làm vợ, nhưng cô Xà Niêng đã sớm lìa đời.


Câu chuyện có thể gợi cho chúng ta nhiều mối suy nghĩ khác nhau, tùy theo chủ đề tư tưởng mà mình ưa thích. Một cuộc phiêu lưu kỳ thú đầy những tình tiết bất ngờ qua sự săn đuổi giữa lòng rừng thẳm, đòi hỏi biết bao gan dạ, thông minh. Một câu chuyện tình trái ngang giữa hai thực thể so le, không có cảm thông, không thể đối thoại, cuối cùng dẫn đến tan vở, bi kịch. Một sự hy sinh ở trong lĩnh vực khoa học qua sự phối hợp quái đản của các đối tượng khác biệt giống loài. Va còn gì nữa?


Nằm trong bốn vách tường giam, suy tưởng lớn nhất thường xuyên đến với người tù là nỗ lực giữ mình tồn tại trong sự đủ đầy nhân cách, để khỏi làm giảm mất đi quân số của một đội ngũ sẵn sàng cho mọi tiến công. Chế độ nhà tù đế quốc có mỗi cố gắng là kéo con người lùi lại, trở về cuộc sống bản năng: làm cho tù nhân thấm thía về sự thèm thuồng miếng ăn, khát khao sinh lý, khiếp sợ cái chết, ngờ vực đồng bào, đồng chí của mình. Nhà tù, theo phương thức ấy, là một khung cảnh bắt bí để mong đánh bại con người, bảo tồn con thú, chứ không thể nào là chỗ khai thông cho các bế tắc, vun quén cho một hồi sinh, tạo lập cái đà thuận lợi để giúp con người lấy trớn hòa nhập kịp vào cuốc sống đang lên. Người tù bị buộc mua vé vào cửa bằng một giá đắt, là tự do của cuộc sống, là năm tháng của cuộc đời, và có thể, là sinh mạng. Đế quốc cũng như tay sai bao giờ cũng muốn bán vé ra cửa bằng một cái giá đắt hơn, là sự chối từ nhân phẩm, về phía người tù. Nhưng con người không phải loài sinh vật một chiều nên không dễ dàng chịu sự khuất phục, con người luôn biết quẫy cựa bang tư thế đa dạng của mình, đã biết phản kháng, biết tự chế ngự hoặc tự vượt qua, và sau những cuộc đấu tranh quyết liệt để giành chiến thắng, con người có thể ngạc nhiên đối diện với mình, vì không ngờ mình có thể lớn lao như thế.


Từ những ngục tù chứa đầy thủ đoạn rừng già, tôi lại nghĩ đến những khu rừng già rất đỗi phức tạp mà chế độ ấy đã gầy tạo được, trên quê hương này. Đó là những cái rừng-già-thành-phố, nơi mà đông đảo con người đã bị dồn đuổi về đây để tìm sự sống và hang trú ẩn, những cái rừng già hiện đại tràn đầy cuộc sống bản năng và những mưu toan của loài dã thú. Hãy xem đông đảo cư dân các rừng già ấy, chúng ta thấy gì? Ben trong những chiếc xe hơi bóng lộn, những tòa biệt thự cao sang, những bộ áo quần hợp với thời trang, là những con thú dễ dàng để lộ nguyên hình trước các khêu gợi bản năng và những miếng mồi tư lợi, sẵn sàng dẫm đạp lên nhau một cách bạo tàn.


Gần non thế kỷ đã qua, phố phường trên đất nước ta không phải là sự bừng nở hợp lý của một tình trạng sinh hoạt đã được chín muồi, không phải là những trung tâm điều tiết thích hợp với những đòi hỏi của một căn tạng mạnh lành. Phố phường chỉ là kết quả của một áp đặt ngoại nhập, những cái dinh lũy cần thiết cho bọn thống trị xuê-xoang với lũ tay sai, từ đấy các liều độc dược được đem phân bố về các địa phương và cũng từ đấy máu tủy quần chúng được bòn rút về trên các trục lộ giao thông. Phố phường đã thành một sự đối lập đầy rẫy thách thức đối với thôn quê, phố phường là thứ hang ổ chứa nhiều cám dỗ và những lãng phí đủ loại, một cái bụng phệ trên một cơ thể gầy còm, bệnh hoạn. Bên trong các phố phường ấy, một thứ luật rừng đã được duy trì, luật của các sức mạnh - sức mạnh vũ khí, sức mạnh đồng tiền, sức mạnh bản năng - và những con người yếu đuối, nghèo khổ, cô đơn, đã bị tước đoạt hầu hết khả năng tự vệ. Sống giữa những bầy thú rừng đã được tân trang mang đủ các loại mặt nạ thời đại, trong cái không khí u uất của những cảnh đời don nén pha trộn các mùi rượu mạnh, khói thuốc ma túy, son phấn, nước hoa và cả rác rưởi, vang vọng thường xuyên tiếng nhạc kích động, những câu rao hàng khuếch đại, cùng các lời nói nịnh bợ tôn xưng, xen lẫn các trò đố kỵ,  các ngón vu cáo đê hèn bên cạnh một ngàn kiểu lối tán tỉnh sàm sỡ, cợt đùa nhẫn tâm - giữa một môi trường như thế, con người vươn lên thật khá gian nan. Biết bao nhiêu là bạn trẻ dạt dào sức sống nhưng thiếu bản lĩnh và thiếu chuẩn bị vào đời, đã bị đô-thị-rừng-già hủy diệt.


Cô gái Xà Niêng hẳn cũng khát khao trở lại làm người. Nhưng nếu để cô sống mãi trong các rừng già sâu thẳm, giữa những tiếng hú vang vọng của đồng loại mình luôn nhắc nhở lại cội nguồn thấp kém, dĩ vãng tối tăm, luôn bị kềm tỏa bởi bao thế lực hắc ám, cô sẽ lại chìm vào sự tự hủy.


Hãy phát quang những rừng-già-đô-thị, xua đuổi các loài ác thú ra khỏi hang sâu, hãy xẻ dọc ngang là những con đường mở rộng giao lưu, khai thông những bãi đầm lầy ngưng trệ, và mở vào đấy những ngọn gió lành có thẻ xóa tan chướng khí và làm mát dịu hồn người. Công việc dọn dẹp các khu rừng ấy là một nhiem vụ chiến đấu trong cuộc chiến đấu vĩ đại mà dân tộc ta vẫn còn đòi hỏi mỗi người phải biết quên đi những nỗi dằn vặt riêng tư để cùng lao về phía trước, với tư thế những con người đã biết mình sẽ về đâu, và phải lam gì cho sự tồn tại rất là trong sáng và rất bình yên của dân tộc mình và của nhân loại.


Với những cảm nghĩ như thế tôi đã cấu tạo truyện này từ khi còn ở nhà lao Tân Hiệp, và đã hoàn thành tác phẩm, sau khi ra tù, vào những tháng cuối của năm 70.                                                                                 


                                                                                    


30-6-1987


VH      


 


Vào truyện


Tôi vội nhổm dạy, lắng nghe, tay sờ soạng tìm khẩu súng đặt trên đầu nằm. Ông Chúp cũng đã thức giấc, nghiêng mình trên cái sàn tre, và trong ánh sáng lờ mờ toả ra từ đống than hồng âm ỉ tôi thấy chiếc đầu ông ta nhiều lần được giở hổng lên rồi lại áp xuống. Bên ngoài vẫn cái màn đêm dày dặc khua động âm thầm bao nhiêu sinh hoạt rừng khuya.


Đã hai đêm rồi chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng động như thế, tiếng động của nhiều bước chân dồn dập và những tiếng nói líu ríu mơ hồ, chợt đến, chợt đi. Lần đầu, cách đây ba hôm, ông Chúp là người nghe trước những tiếng lạ ấy. Tuổi già vốn sẵn tỉnh ngủ lại thêm bản chất tinh nhạy của một con người rừng núi khiến ông vẫn như mở rộng cả năm giác quan giữa cơn mê mệt, do đó không biến động nào, cho dù nhỏ nhặt đến đâu, xảy đến quanh mình có thể vượt qua khỏi tầm kiểm soát của ông trong cơn say ngủ. Ông nằm ngay ở cửa lều mỗi đêm, tự nguyện làm người lính gác cho tôi và có nhiều khuya trở giấc nghe những tiếng ngáy kéo dài của ông tôi vẫn yên lòng tiếp tuc gối đầu trên cái bá súng để chìm vào trong mộng mị chập chờn. Cái đêm đầu tiên ông Chúp đã được đánh thức trước hết về tiếng động ấy. Ông đã nằm yên nghe ngóng rồi lại ngồi dậy chong tai lắng nhận từng chuyển động nhỏ quanh mình, và sau nhiều lần nằm xuống ngồi lên vì những tiếng lạ khi biến khi hiện, ông đã quờ tay khẽ đánh thức tôi.


Chúng tôi cùng ngồi gần nhau nghe ngóng hồi lâu. Chỉ có gió núi khua lá rạt rào và tiếng thác nước ì ầm vọng lại từ xa. Thỉnh thoảng vài tiếng chim rừng kêu lên đột ngột chỉ làm tăng nỗi u buồn của chốn hoang vu. Tôi ghé sát tai ông Chúp, thì thầm:


 - Nào có nghe thấy gì đâu?


Ông già không trả lời, như chìm đắm trong theo dõi miên man của cái thính giác vẫn còn tinh tế lạ thường. Rồi ông nói trong hơi thở:


- Bây giờ thì nó biến rồi. Nhưng nó sẽ lại kéo tới.


Tiếng nói của ông mặc dầu quá nhỏ cũng lộ rõ vẻ bất thường của sự lo au. Cái gì đã làm ông Chúp sợ hãi như thế? Phải có sự gì quá đỗi lạ lùng mới khiến cây cốc già cỗi của núi rừng này rung động. Ông Chúp còn cứng cáp hơn một cây cốc rừng, ông là một tảng đá núi lì lợm đứng trơ giưa chốn sườn non mà không có bão rừng nào lay chuyển, ông là con beo, con cọp đã mang quá nhiều năm tháng ở trong da thịt để không biết đến khiếp sợ trước các đe dọa hàng ngày. Thế mà bây giờ ông Chúp hồi hộp… Hay là cơn lạnh về khuya của chốn rừng sâu đã làm giọng nói của ông mất đi cái vẻ bình thường? Tôi gặng hỏi thêm:


          - Ông nghe thấy gì?


- Không rõ....


Rồi ông nói tiếp, vẫn giọng hồi hộp vừa rồi:


            - Giống như nhiều người rình rập quanh đây. Nhưng không phải người.


Tôi ngồi lặng yên, cố suy đoán qua lời nói của người dẫn đường tuổi tác:


- Không phải người?


- Không phải.


- Một loài thú dữ?


- Không, không... Không phải loài thú. Tiếng nói của nó thật là lạ lùng.


Ông già im lặng. Nhưng trong nỗi im lặng đó người ta vẫn nghe xao xuyến lo âu. Lâu lắm, chúng tôi cứ ngồi chong tai như thế, đợi chờ. Rừng đêm vẫn sống trong cảnh âm thầm, gió khuya rào rat, côn trùng tỉ tê, muôn ngàn những tiếng động nhỏ quen thuộc ở trong bóng tối mênh mông của chốn núi ngàn sâu thẳm, cách xa vời vợi những miền đông đảo con người sinh hoạt.


            - Ngủ đi... Tôi sẽ canh chừng. Khi nào chúng kéo đến, tôi sẽ gọi ngay.


Tôi nằm xuống sàn, loay hoay tìm lại giấc ngủ đã mất. Bên ngoài gió núi như thổi mạnh hơn, lốc qua từng cơn ồ ạt. Cành khô gãy rụng lạt sạt trên lều, lá rừng rơi xuống nghe như trời dội cơn mưa. Tôi kéo tấm chăn trùm kín cả đầu, rồi gối lên khẩu súng săn tự ru hồn vào cõi mộng theo với tiếng rừng vang dội chung quanh.


Không biết tôi nằm ngủ được bao lâu thì nghe đau nhói nơi bắp đùi mình. Tôi vụt tỉnh thức. Ông Chúp đã bấm gọi dậy, và ông vỗ nhẹ như muốn ra hiệu cho tôi đừng vội ngồi lên.


Có nhiều bước chân rón rén, chập choạng ở phía sau lều. Những cành cây gãy lắc rắc, lá khô xào xạc khua dồn, tiếng thở phì phò nặng nhọc, rồi cái vách lá như có những bàn tay nhẹ lướt qua sờ soạng. Tôi nín thở, nghe tim đập mạnh ở trong lồng ngực, tưởng tượng một lúc nào đó những bàn tay kia chạm vào mái tóc của tôi và tự hỏi mình sẽ phải đối phó ra sao. Khẩu súng đã nạp đạn sẵn đang gối dưới đầu, con dao săn lớn gài trong bao da treo ở cột lều, chỉ một động tác, một cái với tay là tôi đã nắm vũ khí được rồi.


Tôi nằm im lặng, chờ đợi cái phút quyết liệt của sự phản ứng.


Nhưng các hơi thở nhẹ dần rồi loãng tan ra cùng với tiếng chân nhỏ lại mất hút trong sự xao động về đêm của chốn rừng già. Chỉ trong thoáng chốc đe dọa biến đi một cách bất ngờ và tôi tưởng chừng mình đang hồi tưởng mơ hồ sự việc của giấc chiêm bao. Nhưng từ đâu đó tôi nghe tiếng kêu, tiếng nói líu ríu và trong các âm thanh đó chừng như có một tiếng cười của đứa trẻ con và tiếng thét lên hết sức nhẹ nhàng của một cô gái.


Ông Chúp thì thầm:


- Nghe thấy gì không?   


          - Có. Tôi vẫn không hiểu thế nào.


Ông già yên lặng, chia xẻ nỗi phân vân ấy. Rất lâu sau đó, khi chẳng còn dấu vết nào khác nữa trong muôn ngàn tiếng xao động mơ hồ của chốn rừng sâu, ông mới sẽ lại thì thầm:


           - Sáng ngày, coi các dấu chân, chúng ta sẽ biết được mà.


Tôi cũng hy vọng ông Chúp sẽ đoán được một phần nào khi nhìn dấu vết ở trên mặt đất, ở trên thân cây sau khi hít thở hơi hướng mọi loài trên những ngả lối chúng đi. Kinh nghiệm núi rừng đã dạy cho ông nhiều điều và ông có thể đảo qua cặp mắt già nua sáng quắc, nhíu lại cái mũi nhỏ bé lỗ chỗ những vết thâm đen là đọc được hết sinh hoạt của chốn rừng già. Tất cả biến thành chữ viết sống động trong các trang sách thiên nhiên vĩ đại trải giăng trước mắt và ông là người độc giả tinh thông mà tôi gặp gỡ đầu tiên giữa những tháng ngày vượt suối trèo đèo.


Chúng tôi không ai còn muốn ngủ nữa. Sự nhận thấy chung về cái hiện tượng lạ lùng vừa qua làm cho chúng tôi tỉnh táo hơn lên, tỉnh táo vì quá lo âu bởi mọi biểu hiện khác lạ trong nơi chốn này giữa đêm khuya khoắt dễ mang sắc thái ghê rợn, hãi hùng. Phủ chăn lên kín tận cổ, chúng tôi ngồi sát bên nhau, không ai còn muốn nói chuyện với ai một lời, nghe gió vi vu lùa hơi sương lạnh tê người vào trong cửa lều. Nhiều lần tôi muốn chồm xuống khơi đống than hồng âm ỉ, cho thêm một ít củi khô, nhưng tôi lại vẫn ngồi yên. Sai bảo ông Chúp lúc này, lòng tôi không nỡ. Đáng lẽ tự ông phải biết làm công việc đó, nhưng ông không muốn ra khỏi tình trạng bất động của mình.


Do dự khá lâu tôi mới rút tay khỏi chăn để nhìn đồng hồ. Ba giờ. Ít nhất phải năm tiếng nữa mới tìm lại được ánh sáng mặt trời xuyên qua vòm lá rậm dày. Buổi mai bóng nắng chậm đến, buổi chiều bóng nắng vội đi, khoảng ngày ở đây thật là ngắn ngủi làm cho đêm lạnh âm u trở nên dài dặc, nặng nề.


Chúng tôi ngồi dựa vào nhau, như thế rất lâu, cho đến khi tôi nhìn ra cửa lều thoáng thấy qua kẽ lá xa có một vệt sáng lờ mờ. Vệt sáng loang dài, chậm chạp, ngập ngừng. Tôi khẽ thở dài:


           - Trời gần sáng rồi.


            Ông Chúp vẫn không nói gì. Nhưng tôi thấy ông nghễnh tai nghe ngóng hồi lâu rồi ông chợt nói:


           - Sắp mưa.


Tôi lại nhìn ra cửa lều. Vệt sáng tái nhợt loang dài ở sau kẽ lá xa xôi bây giờ đen xám lại dần. Ông Chúp không bao giờ đoán thời tiết sai lầm. Ông cũng bén nhạy như tất cả loài thú rừng về cái mặt đó và ông co thể nghe được đất trời biến chuyển, qua lớp da lông khắp trên thân thể của mình.


Phút chốc, mây mù che phủ vòm trời, màn tối bỗng dày đặc lại. Căn lều nhỏ bé như chìm hút trong một sự vang động và nỗi lạnh lẽo mỗi lúc siết lấy chúng tôi, làm cho tê nhức thịt da. Đống lửa lèo xèo lụi tắt bốc lên chút mùi tro than khét nồng. Giữa lúc đang ngồi run lạnh, tôi nghe ông Chúp càu nhàu:


- Cơn mưa ác thật.


          Cơn mưa đang xóa tất cả dau vết, dội hết hơi hướng, cuốn trôi tất cả những gì chứng tích của sự xuất hiện vừa qua.


            Tôi không đáp lại, mặc nhiên tỏ sự đồng tình. Chúng tôi đã sống bên nhau nhiều ngày ở giữa rừng sâu và đã quen sự ít lời. Như tất cả đồng bào Thượng, ông Chúp thích sự câm lặng hơn là tiếng nói. Lầm lì, bất động, ông như đá núi cây rừng chìm dắm trong nỗi ngẩn ngơ kỳ lạ, nhưng cũng sẵn sàng vụt dậy, tỉnh táo như một con sóc, lanh lẹ như một con beo. Phần tôi, mang nhiều tâm sự u buồn, quà tặng của cái xã hội loài người đông đảo, tôi muốn vào giữa thiên nhiên, trốn giữa bất động, im lìm của nó như trốn trong sự lãng quên mọi niềm dĩ vãng, mọi kẻ thân yêu, moi hình ảnh và kỷ niệm nặng nề. Tôi thích sự câm lặng đó và học sự câm lặng đó. Lại thêm cuốc sống chứa đầy gian khổ, đâu có vui gì để nói líu lo? Chúng tôi đối phó vơi mọi bất trắc trên mỗi bước đường và chỉ có sư yên lặng mới đủ tỉnh táo để mà kịp thời phản ứng.


  Cơn mưa dai dẳng làm cho chúng tôi cùng héo ruột gan. Ở rừng về mùa lạnh này vẫn có những cơn mưa sáng đột ngột. Chúng tôi đã quen chờ đợi, nhưng buổi sáng này cảm thấy sốt ruột không biết bao nhiêu.


  Cơn mưa dịu dần, rồi ngừng hẳn lại. Chỉ có những giọt nước còn đọng trên cây lá lách tách tuôn rơi rạt rào theo cơn gió thoảng từng luồng. Bây giờ trời đã sáng hẳn. Các mảng trời xa rạng dần qua các kẽ lá của những vòm cây. Nhưng niềm hy vọng tìm biết những gì xảy đến trong đêm đã trôi theo dòng nước lũ về các lũng thấp, khe sâu.


Cả ngày hôm ấy chúng tôi không dám đi xa và khi tối đến chúng tôi lo lắng đợi chờ những sự xuất hiện như đêm vừa rồi. Có thể lần này mới đến cái phút thật sự quyết liệt. Nhưng một đêm dài trôi qua, rồi một đêm nữa trôi đi yên lành như thế, không nghe không thấy được gì. Chúng tôi gần như đã thức ròng rã trong bốn đêm liền và đến hôm nay khi đã đốt xong ngọn lửa, ăn xong cơm chiều, vừa đặt mình xuống sàn tre đã vùi trong giấc mê mệt.


Đêm nay, đúng là cái đêm thứ năm, những tiếng động ấy bắt đầu hiện lại. Tôi đã tỉnh dậy không cần bấm gọi, tuồng như một nỗi thảng thốt âm thầm vẫn đang thao thức trong tôi. Ông Chúp vẫn nằm để mà theo dõi và tôi thấy trong ánh lửa lờ mờ ông đang khều chân kẹp lấy chiếc dáo đat nằm ở một góc lều.


Chúng tôi cùng giữ một sự yên lặng chăm chú tưởng như mỗi lúc càng nghe rõ hơn những tiếng động nhỏ bên mình và tôi như hình dung được cái đám kỳ lạ lố nhố chập chờn ở sau căn lều. Tôi cũng ngac nhiên không hiểu tại sao chúng không xô mạnh vách lá để mà tràn vào. Chúng hung dữ không? Và chúng là ai?


Đôi lúc tôi tưởng như bắt gặp được giọng nói quen thuộc của chúng. Tôi nghe như đã có gặp đâu đó một lần những âm thanh ấy, song kỷ niệm quá mơ hồ đến nỗi không hồi phục được dễ dàng. Những bàn tay sờ soạng trên vách lá kêu lạt sạt và tiếng phì phò một lúc như đến gần sát tôi hơn, rồi thoáng một cái bỗng tan biến đi, như cái đám người kỳ lạ vụt chạy vào trong rừng già.


Chúng tôi lại phải ngồi sát bên nhau chờ đợi, và lúc mặt trời đã lên sáng rõ, vội vã kéo ra phía sau. Hôm nay không có cơn mưa nào đến bất ngờ, chỉ có sương đêm rơi xuong khá nhiều ở trên cây lá và trên mặt đất ủ dày lá mục.


Ông Chúp tay cầm cây dáo xăm xăm đi trước, đầu hơi cúi xuống như để đón bắt hơi hướng còn vương quanh quất với sự chăm chú mỗi lúc càng tăng. Tôi cầm khẩu súng đã nạp sẵn đạn lò dò từng bước theo sau.


- Có thấy gì chưa?


Ông Chúp hít trên vách lá sau lều, gật đầu: 


- Có thấy.


Nhưng ông đứng lặng, không nói rõ thêm.


           - Thế nào?


            - Tôi cũng vẫn chưa biết được. Coi đây… những dấu chân người, nhưng nhỏ hơn người nhiều lắm.


Tôi cúi xuống nhìn chỉ thấy những vết lờ mờ trên các lá mục. Ông Chúp nói tiếp:


- Không phải loài khỉ… Loài khỉ nhỏ hơn và chúng không chỉ đi toàn bằng mấy chân sau. Mùi lông lá chúng cũng kỳ lạ lắm. Hăng hắc, nồng nồng… Tôi chưa gặp giống loại này.


Ông Chúp nói lên mấy tiếng sau cùng với nỗi lo âu hiện rõ. Chính sự không giải thích được làm cho ông già mất hẳn niềm tin nơi mình. Tôi cố gắng nói:


           - Chắc chúng không có ý gì ác độc. Nếu không, chúng đã phá nát căn lều để mà tràn vào.


Ông Chúp lặng lẽ đáp lại:           


- Những loại thú rừng hung dữ bao nhiêu cũng vẫn đa nghi. Chúng chỉ xông vào trong lều khi biết rõ rằng trong ấy có gì. Đêm tối, bọn này kéo đến rình mò là chúng vẫn còn dè dặt. Súng đạn, thuốc men, lương thực, mồ hôi của chúng ta đây tiết ra những mùi vị lạ làm chúng sợ hãi. Chúng chưa phá phách không phải là chúng hiền đâu.


Rồi ông chỉ tay lên mấy cành cây ngang tầm vai mình gị gãy, nói tiếp:


          -  Chúng cao lớn lắm, ông à. Gần bằng chúng ta kia đó.


Ông lại lặng thinh, và tôi ngại rằng ở trong đau óc người già cả ấy ý nghĩ bỏ cuộc cũng đã thành hình. Tôi nói:


           - Không nên lo ngại, ông Chúp. Chúng ta quanh quẩn ở đây đã năm ngày rồi. Hôm nay đi sâu vào trong rừng già xem sao.


Ông già vẫn đứng yên lặng, không nói một lời. Tôi lại gợi ý:


- Những cái tiếng động ban đêm có phải là người ở một buôn nào gần đây tìm đến hay không? Có thể có nhiều buôn sống khuất lấp ở trong rừng già chưa bao giờ gặp những người như chúng ta đây nên họ tò mò. Ta có thể đến tìm họ…


Ông Chúp lắc đầu:


- Không phải… Không phải là người.


Nhưng rồi cuối cùng thấy tôi nhất quyết đi tới, ông ta không dám cưỡng lời. Bây giờ sự tình giữa hai chúng tôi có vẻ đổi thay. Chuyện lạ xảy đến trong đêm đã làm chúng tôi rúng động và dù không ai dám nói thẳng thắn ý nghĩ của mình cho người kia biết, nhưng ai cũng thấy rằng mình phải dựa cậy vào người kia như bấu víu vào một lẽ nương tựa cuối cùng.


Khi ngồi thổi nồi cơm sáng để mong ăn một ruột no trước khi lên đường, tôi nói:


-          Hai tháng rưỡi trời vượt núi băng rừng mới đến nơi đây, chúng ta không thể vội vã rút lui. Ông đã chẳng bảo chúng ta hãy nên vui mừng đó sao? Có phải ai cũng biết rõ con đường này đâu! Không, ta phải đi tới, ông Chúp. Chẳng có gì làm cho ta sợ hãi được đâu. Hãy mang hết cung nỏ theo. Súng tôi còn nhiều đạn lắm, đừng ngại.


(Còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »