tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
23.05.2009
Vũ Hạnh
Cô gái Xà Niêng

Ông Chúp bảo tôi:


- Ba vỏ đã thấy bay nhiều. Chúng ta sắp đến những nơi voi đã đi qua.


Tôi không đáp lời, sợ chúng ùa bay vào miệng, tay phất lia lịa nhành lá trước mặt để xua đuổi giống côn trùng độc hại. Mỗi lúc ba vỏ xuất hiện càng đông đảo hơn vần vù bay lượn. Tôi kéo cổ áo và choàng chiếc khăn trùm kín khuôn mặt, chỉ chừa đôi mắt để nhìn. Ông Chúp cũng vội làm theo như thế. Cả hai chúng tôi đều biết nếu phải dừng tay chịu sự bất động trong giây phut thôi thì sẽ bị giống ba vỏ làm cho khốn đốn. Vì thế mỗi người phải cử động thật gấp rút, tay chân vung vẩy, dậm đạp liên hồi. Nhưng giống ba vỏ xuất hiện mỗi lúc càng nhiều hơn trước. Chúng bay lè xè từng đám vàng ngầu, lắm khi che khuất cây cối trước mặt, tạo một tiếng động vần vù, kéo dài vang vọng trong bóng lá dày như những thanh âm trùng trùng điệp điệp.


Tôi hốt hoảng nhìn ông Chúp. Ông già như bước giữa cơn mơ sảng, tay quơ nhanh lá, tay phát chiếc rựa trong một dáng điệu rối loạn dị kỳ.


Rồi đến khi cả hai cùng dừng bước lại. Tôi định mở miệng thì đám ba vỏ đã ùa vào họng. Vừa khạc nhổ đám côn trùng vừa quay lắc đảo chiếc đầu không ngừng, tôi cố quơ mạnh nhành lá ở chung quanh mặt, kêu lên:


- Ông Chúp! Chúng ta trở lại!


Thế là chúng tôi vội vã tháo lui như kẻ bại trận, bị những giống vật li ti xua đuổi trong một vòng vây ngột ngạt. Bây giờ khỏi phải vung rựa vì lối vừa qua đã được khai quang, chúng tôi bước đi khá mau. Tất cả nỗi lo lắng ấy trong cơn bối rối tột độ đã làm cho quên bẵng đi nhọc mệt, và sau khi đã tháo chạy vong mạng qua các lùm cây, bụi rậm được một quang xa, để cho gai sướt cào trên da thịt, chúng tôi mới dừng bước lại. Thở phào, tôi nói:


- Thoát nguy.


Ông Chúp vuốt mồ hôi trán, thở dốc, không nói lời nào. Một lát, khi đã tỉnh người, ông mới bảo tôi:


- Chúng ta không thể vào sâu trong thung lũng được.


Tôi hơi cảm thấy tuyệt vọng. Nếu là cọp beo, sói rừng hay bất cứ loài thú dữ nào khác cản đường, chúng tôi vẫn đủ sức đương đầu. Nhưng với loài ba vỏ này, làm sao có thể bình yên mà tiếp tục đi? Một lát, tôi hỏi:


- Không có cách gì nữa sao?


Ông Chúp vẫn ngồi yên lặng, suy nghĩ. Rồi ông chậm rãi bảo tôi:


- Phải tìm loại lá kơ-rao đuổi ong lấy mật mới vào được thôi. Chúng ta hãy về lều đã.


Cả hai chúng tôi vội vã quay về. Tới nơi, thì trời đã chiều. Đồng hồ chỉ bốn giờ rưỡi, nhưng cây rừng che khuất nắng nên như sắp tối. Chúng tôi vội nấu cơm chiều và lo đốt lửa. Ăn vội vàng xong, chúng tôi leo thang dây lên lều lá chênh vênh ở trên ngọn cao.


Ngày đường mệt nhọc sớm đẩy chúng tôi vào một giấc ngủ mê mệt. Đến khi mặt trời đã lên khá cao, tôi mới choàng dậy. Ông Chúp có lẽ thức giấc lâu rồi, đang ngồi nấu nước, rít những hơi thuốc lá dài. Đêm nay không biến động nào xảy ra, nên trông vẻ mặt của ông bình thản, yên lành.


Suốt ngày hôm đó chúng tôi lục lạo chung quanh tìm lá kơ-rao. Đến ngày tiếp theo, chúng tôi phơi khô và quấn thành từng bo đuốc nhỏ dài. Công việc chuẩn bị phải mất thêm vài hôm nữa. Và một buổi sáng, chúng tôi men theo con đường hôm trước tiến vào thung lũng Mả Voi.


Chỉ mới bốn ngày trôi qua mà cây cối đã phủ kín lối đi. Núi rừng giành lại phần sống đã bị tước đoạt, và sức vươn dậy của nó thật là nhiệm màu. Nhưng các chồi non nhánh nhỏ không làm cản trở chúng tôi nặng nề, nên cái thời khoảng vượt qua những chướng ngại ấy cũng rất ngắn ngủi. Khi bay ba vỏ đầu tiên chờn vờn xuất hiện, chúng tôi chưa đốt lá cây kơ-rao. Đến lúc bị giống loại đó vây dày như một màn mây vàng nâu vần vù, chúng tôi mới vung các bó đuốc được thắp cháy. Như một phép lạ, chất khói xua rạt chúng đi chỉ trong thoáng chốc. Khi đã chắc rằng không bị đe doạ bởi loài côn trùng ấy nữa, chúng tôi vội tắt đuốc gấp, dự phòng cho những chặng đường sắp tới. Cứ thế, nhờ các cây đuốc kỳ diệu chúng tôi đã xua đuoi được kẻ thù vô vạn liên tiếp tấn công trên mỗi bước đường gian nan.


Tới một đám cây khá dày và thấp, chúng tôi hết sức mừng rỡ khi nhìn thấy các dấu chân voi dẫm đầy ở trên mặt đất lồi lõm. Các dấu chân dẫm khá sâu, lan dài trên một vạt lớn. Loài voi thường đi theo những lộ trình nhất định, ít khi xê dịch ra khỏi con đường đã lựa chọn rồi. Thân xác vốn lớn nên tìm ra một lối đi nào đó, dọn được con đường nào đó thích hợp là chung cứ mãi tận dụng hành trình chọn lọc suốt trong nhiều năm. Đó là những kẻ bộ hành dẻo dai, không hề biết đến mệt mỏi, và các tay săn bắn đều nhận biết voi là loài giống xê dịch nhiều nhất trong các thú rừng.


Tôi đa lưu ý nhiều năm về con đường voi di động, thường là đôi ba thung lũng gần nhau giữa có một dòng nước chảy. Lộ trình nếu gặp phải miền đất xấu, cỏ cây cằn cỗi, thì được kéo dài cho đến khi nào gặp những thảo mộc hợp với khẩu vị và đủ dung lượng cung ứng dồi dào cho những dạ dày rộng lớn. Voi thường tránh xa giống người vì không muốn bị quấy rầy và muốn tìm được những vùng cỏ cây thạnh mậu có thể nuôi sống bốn mùa. Thung lũng này thật thích hợp, để những voi già quay về gặm lớp cỏ non trước khi chờ đợi cái chết mang đi. Các miền ẩm ướt, cây lá quá chằng chịt này, những lớp chồi non luôn luôn có đủ cho giống vật đó. Loài voi cứ men theo các dòng nước mà đi, ít khi bước lệch ra ngoài quá xa, và thường lộ trình của chúng được kết thúc trong những góc rừng hoang xa khuất, ở một miền đất hiểm trở, có những đỉnh cao vây bọc, những vạt thung lũng sâu dày cây cối thâm u, căn cứ an toàn để thoát khỏi sự săn đuổi của người.


Bây giờ, đã dò được lối chúng đi, con đường dẫn về Mả Voi coi như đã được xác định một cách dứt khoát.


Chúng tôi lại tiếp tục bước, tin tưởng nhiều hơn và nỗi nhọc nhằn cũng nhẹ phần nào. Quá trưa hôm ấy chúng tôi tới vùng cây cối rậm rạp hơn nhiều ở trên triền đất cao hơn. Đã hết những quãng ẩm ướt quanh năm nước rỉ chảy luồn qua các bụi lùm, đã hết những miền lá mục rã nát hòa thành một chất bùn đen quánh đặc nhung nhúc sâu bọ dưới chân.


Triền đất không vươn cao lắm nên vẫn giữ được chất ẩm chung quanh, lại thêm cây cối rậm dày làm cho không khí vẫn giữ mát lạnh suốt ngày nóng bức. Loài voi sợ nóng, và chúng đã khéo chọn được một chỗ yên nghỉ thật là lý tưởng.


Chúng tôi đi thêm chừng một giờ nữa thì bỗng nghe mùi hôi hám nực nồng. Tôi dừng bước lại, đồng thời ông Chúp cũng khìn khịt mũi như cố phân chất mùi hôi, rồi bảo:


- Voi đấy, chúng ta đã đến tận nơi voi chết.


Ông già rút cây nỏ ở trên vai, thủ sẵn nơi tay. Tôi cũng lấy cây súng săn nạp đạn, chuẩn bị đối phó. Chúng tôi đều hiểu trên những xác chết loài voi, các giống thú rừng tìm đến mở một tiệc lớn mà cọp là kẻ sốt sắng hơn hết. Cọp thường tìm đến xác voi ăn nhậu nhiều ngày, xua đuổi các loài thú khác, đồng thời những loài chim dữ xao xác từng luồng bay tới, chí chóe giành nhau vang động cả rừng.


Ở đây là chỗ những con voi già cảm thấy cái chết gần kề tìm đến yên nghỉ. Đây là Mả Voi, nấm mồ vĩ đại của loại thú rừng khổng lồ, vừa là kho tàng lớn lao của những chiếc ngà quý giá. Từ lâu người ta cũng đã đoán biết hay nghe nói về một nơi chốn ấy, và lòng mơ tìm nghĩa địa loài voi cũng đã ám ảnh nhiều người, nhưng hầu như chưa có ai đến được nơi này. Một phần vì voi vốn sống xa khuất, trong những vùng núi rậm dày giữa những địa thế vô cùng hiểm trở, con người khó lòng tìm đến mà còn hy vọng quay về. Hơn nữa, trong nơi chốn ấy không thiếu những loài thú rừng dữ tợn tự nguyện làm kẻ canh giữ điên cuồng để mà bảo ve chất sống dồi dào. Thật không có kho vật thực nào sung túc hơn Mả Voi. Những con cọp già săn đuổi mệt nhọc suốt một ngày dài ròng rã chưa chắc có gì bỏ bụng, trong khi ở đây chất thịt thường có đủ đầy. Nhưng chính vì thế mà sự tranh giành cướp đoạt ở đây mới thật khốc liệt. Những con vật nhỏ, những loài già yếu, không sao đương cự lại những mãnh thú rừng xanh sung sức, luôn luôn giành quyền chúa tể trên mảnh đất mình. Và chỉ ngày nao có nhiều voi già cũng ngã quị xuống một lượt thì sự xô xát mới tạm hoà hoãn đôi chút, còn thì những cơn cấu xé hãi hùng cứ tiếp tục mãi trong chốn thâm u.


Chúng tôi bắt đầu tiến bước một cách chậm chạp, lắng tai nghe ngóng. Mùi hôi vẫn tỏa nồng nực. Tôi cố nhíu mũi, đẩy bớt những chất hôi hám, nhưng lồng ngực quá nặng nề. Bỗng ông Chúp dừng bước lại, nép vào một gốc cây lớn. Tôi cũng dừng lại. Ông già đưa tay ra hiệu cho tôi lưu ý. Và qua kẽ lá từ xa, tôi nhìn thấy một con cọp đang vươn mình lên trên một khối đen khổng lồ.


Đó là một con cọp lớn, loại cọp hoàng-gia mà ta thỉnh thoảng có thể gặp gỡ trong các núi rừng cao nguyên. Giống cọp thật đẹp, lông vàng óng mượt, điểm những vệt đen khá đậm. Thân hình vừa mạnh, vừa mềm, chuyển động một cách nhịp nhàng, loại cọp này có sức khỏe phi thường và sự lanh lẹ đặc biệt.


Chúng tôi có cái may mắn là đứng ở dưới ngọn gió nên cọp không đánh được mùi. Nhưng những bước chân chúng tôi từ xa có lẽ đã khiến con vật nghe động. Nó nhổm người lên, chong mắt về hướng chúng tôi, dáng điệu nghi hoặc.


Ông Chúp là tay thợ săn gan dạ và ông có nhiều kinh nghiệm đối phó với loại thú này. Tôi chưa kịp làm một dấu cản ngăn đã thấy ông đưa nỏ lên và một mũi tên lao vút rạch vòm lá dày phóng tới. Con cọp chồm lên, nhào xuống lăn lộn kêu thét. Tôi vội chĩa súng nhắm vào đầu nó, nhả đạn. Nhưng trong lồng lộn con vật đã né thoát được, rồi nó bỗng đứng dựng lên, phóng nhanh vào một bụi rậm.


Tiếng  nổ đánh thức tất cả sinh hoạt của loài thú rừng chung quanh. Ông Chúp lo lắng bảo tôi:


- Coi chừng. Con hổ sẽ quay trở lại.


Những con cọp bị thương rất hung dữ và sau khi vượt khỏi cơn hiểm nghèo chúng sẽ tìm về chốn cũ. Chúng tôi cùng bước thật mau qua phía bên trái, nơi cây cối thưa thớt hơn.


Nhưng soạt, một tiếng động mạnh ở phía bên phải. Tôi kịp nhìn thấy một cái bóng vàng lướt vụt qua những kẽ lá xanh dày. Lại một con khác. Chúng tôi rõ ràng đang ở giữa một vòng vây chằng chịt của loài thú dữ. Khác với mọi nơi, khi thấy con người đông đảo, loài cọp thường lánh xa đi, ở đây chúng đã có đủ can đảm để mà bám lấy con mồi. Có lẽ từ lâu chúng quen coi đây là giang sơn riêng, một cõi bất khả xâm phạm đối với bất cứ loài nao, dù là loài người.


Để đối phó lại tình hình khá nguy ngập ấy, tôi và ông Chúp lưng tựa vào nhau chờ đợi. Khá lâu, chung quanh vẫn không có động tĩnh gì. Tuy vậy, chúng tôi biết rằng đâu đó dưới đám lá cành dày rậm, những con hổ dữ đang rình.


Tình thế không cho phép đứng lại đây chờ đợi kẻ địch bốn phía tấn công. Tôi bảo ông Chúp:


- Chúng ta đi thôi, không nên gây sự với chúng làm gì. Ta bắn con hổ vừa rồi là việc sai lầm. Hiện giờ đối với chúng ta nó không phải là thù địch.


Ông Chúp đáp lại:


- Nó không hiểu được như ta vậy đâu. Không diệt nó trước, khó lòng mà yên ổn được.


Chúng tôi lại chăm chỉ bước, vạch lá, rẽ cành, chong tai nghe ngóng. Mùi hôi mỗi lúc càng nồng nặc hơn làm cho lồng ngực càng khó thở hơn. Ba vỏ lại vần vù bay, không khí rừng già chứa đầy đe dọa.


Chúng tôi chỉ tiến rất chậm, vừa đốt đuốc lá kơ-rao vừa thủ khí giới trên tay. Bỗng một tiếng động trên cao, ngước lên chúng tôi thấy con beo lớn đang bám chặt lấy một nhánh cốc rừng. Đồng thời qua một bụi cây trước mặt, chiếc lưng vằn vện của chúa sơn lâm nào đó vẽ một đường vòng nhẹ như một dải lụa vàng phất qua. Bây giờ mọi sự sơ suất có thể trả bằng giá đắt. Tôi càng hiểu hơn vì sao Mả Voi là nơi bí mật, nơi mà kẻ vào không có lối ra.


Bây giờ chúng tôi gần như không xê dịch được bao nhiêu. Một lúc nào đó, lửa đuốc tan rồi, làm sao đối phó? Lồng ngực càng nặng nề hơn, khó thở lạ lùng. Tất cả những nỗi đe dọa quanh mình không làm chúng tôi khốn đốn bằng chính cái mùi hôi hám bủa vây. Tôi bảo ông Chúp:


- Bước tới mau lên, không thì chúng ta trở lại.


Ông Chúp gật đầu:


- Hãy đi thêm một quãng nữa, coi sao.


Chúng tôi mạnh dạn sấn tới, hướng về cái khối đen sì thoáng thấy ban đầu. Đó là một con voi già nằm chết, một con voi đực với hai chiếc ngà cong dài cắm chĩa xuống đất. Ở phía sau mông, cọp đã xé thành mảng lớn, phơi ra lớp thịt nhầy nhụa và nơi đùi trước cũng rách toạc dài, dấu vết còn tươi. Ông Chúp bảo tôi:


- Hãy đi xa mau. Có nhiều cọp đang rình rập.


Chúng tôi không muốn bị coi như những đối thủ đến đây giành mồi vì khó lòng đương cự lại một cuộc tấn công đến từ bốn phía. Dù tiếc cặp ngà bao nhiêu tôi cũng quay đi. Một lúc nào đó, có thể tôi sẽ quay lại nơi đây cũng chẳng muộn gì.


Tôi và ông Chúp vừa rời xác con voi già độ chừng ít thước đã thấy một con cọp lớn chắn ngay trước mặt. Con cọp cao to một cách kỳ dị, tôi chưa hề gặp được một mãnh thú cỡ đó trong những chuỗi ngày lặn lội giưa chốn rừng già.


Con vật chong mắt nhìn về chúng tôi, mình cong vòng lại trong một thế thủ tỉnh táo, chuẩn bị một cuộc tấn công. Giữa hai con mắt, khoảng trán phơi ra như chờ đón một viên đạn. Tôi thèm bắn vào nơi đó, tin rằng có thể triệt hạ con vật chỉ trong nháy mắt. Nhưng liệu tôi có đối phó được hết bao nhiêu thú dữ hiện đang vây quanh? Tôi đang chần chờ, ông Chúp đã bảo:


- Bắn đi.


- Không. Chúng ta sẽ gây náo động tất cả.


- Chúng ta cũng đã làm náo động rồi. Không cần tiếng súng, bóng người đi vào nơi đây đã làm thức dậy muôn loài.


Ông Chúp là người dẫn đường khôn ngoan và ông ít khi hạ thủ nếu xét thấy không cần thiết. Nhưng từ lúc vào thung lũng, tôi nhận thấy ông có vẻ quyết liệt hơn bao giờ hết. Phải chăng đó là kết quả của nỗi sợ hãi đang làm lòng ông hồi hộp không yên?


Chúng tôi đều hiểu phát súng hay mũi tên đầu quyết định tất cả. Nếu phát súng đầu bắn hụt, thật là khó lòng hy vọng bắn được phát súng thứ hai vào con thú đó. Do đó bắn một con hổ là phải vận dụng tất cả tinh thần và phải chờ đợi cho nó trình diện trong cái tư thế tốt nhất để mà bóp cò.


Tôi nhìn con hổ trước mặt, đẹp rất oai vệ, màu lông láng mướt, chứng tỏ đã được nuôi sống đầy đủ trên các thi thể loài voi và các con mồi phong phú trong cái bóng mát dày rậm của thung lũng này.


Tôi biết nó không chạy trốn như các con hổ thường gặp đó đây trong các rừng già. Hoặc là không có kinh nghiệm, hoặc là cuộc sống quá ư dễ dãi khiến nó trở thành tự tin đến mức ngu ngốc. Dù sao không thể đứng đây để chiêm ngưỡng nó quá lâu.


Tôi đưa súng lên, khẩu ca líp lớn 456, và nhắm vào cổ con vật bấm cò. Tiếng nổ chát chúa vang lên, con vật không kịp có đủ thì giờ phản ứng. Nó nằm giãy giụa, thoáng chốc đã thành một khối bất động.


Sau đó, tôi và ông Chúp lặng lẽ vạch lá đạp cây đi về một ngả lối khác. Tôi thầm tiếc bộ da lông con thú nhưng không còn có cách nào để ở nán lại. Bây giờ chúng tôi cố đi về ngả nào có nhiều voi đã chết, và tôi đoán rằng chỗ đó không còn bao xa. Quả vậy, chỉ trong thoáng chốc, đã thấy rải rác trước mắt những đống xương lớn và những chiếc ngà nằm đây đó trên mặt đất. Xương voi khá nhiều, ngà voi đủ loại, dài ngắn nhiều cỡ. Có những chiếc bám đầy lá mục hoặc bị chôn vùi dưới lớp đất bùn khi con voi chết cắm sâu vào đấy. Có những chiếc đã ngả màu, không còn màu vàng tươi sáng mà nhuộm một sắc xám đen, qua những gió mưa dầu dãi của nhiều tháng năm lạnh lẽo trong thung lũng này.


Tôi cúi xuống một gốc cây, kéo lên một cặp ngà voi trên vài chục ký cong vòng tuyệt đẹp, bảo với ông Chúp:


- Thế là chúng ta đến rồi. Bây giờ phải làm sao đây?


Ông Chúp cũng bị xúc động trước sư tìm thấy kho tàng, tỏ vẻ ngẩn ngơ. Rồi ông lẩm bẩm:


- Nhiều quá. Săn voi suốt một đời người cũng không được đến như vậy.


- Không chỉ một đời mà cả mười đời cũng chưa chắc gì đã được một phần bé nhỏ ở đây.


Ông Chúp nhìn quanh:


- Nhưng làm thế nào để mang những chiếc ngà này?


- Đó chính là điều tôi đang băn khoăn.


- Chúng ta mang chỉ một chiếc cũng vất vả rồi. Thôi hãy quay về nghỉ ngơi rồi sẽ tìm cách lấy sau.


- Nếu chúng ta có một số ngựa thồ!


- Làm gì mà kiếm được ngựa ở đây. Có voi là tốt hơn hết. Nếu có những buôn ở gần thế nào cũng có những giống voi thồ. Hãy quay về sẽ xem sao.


Chúng tôi vội vàng trở lại. Con đường đã được đi qua, chuyến về không mấy khó khăn. Đến chỗ dựng lều thì trời tối mịt, tứ chi rã rời, nhưng lòng chúng tôi cảm thấy rộn ràng, vui sướng. Những nỗi lo sợ về sự xuất hiện kỳ quái trong các đêm nào đã được xua tan.


Bên bếp lửa hồng reo vui giữa lòng rừng thẳm, chúng tôi ngồi đợi cơm chín, nước sôi, với bao ý nghĩ rộn rã về một ngày mai. Dầu sao, chúng tôi coi như đạt đến mục đích một phần. Tìm được thung lũng Mả Voi đã là một kỳ công rồi. Vào được chính nơi chất chứa bao nhiêu ngà quý là việc không dễ gì ai thực hiện, do những khó khăn và những bất trắc tràn đầy. Tôi đã may mắn hơn nhiều người khác, phần lớn là nhờ ông Chúp, một người dẫn đường già dặn khôn ngoan.


Viễn ảnh sáng ngời về kho tàng ấy làm tôi bận rộn và những kỷ niệm đau buồn đã xua đuổi tôi vào nơi rừng thẳm như chìm khuất hẳn. Tôi có cần nhắc lại đây nguyên nhân đã khiến cho tôi trở thành một kẻ chán đời, lưu lạc hay không? Có lẽ cũng có những người muốn biết vì sao tôi phải làm kẻ lang thang trong chốn rừng già, và lấy sự việc giết loài ác thú làm một niềm vui, một sự thỏa mãn sâu xa.


Tôi không ngại sự thành thật của tôi có thể trở thành trò cười, dù tôi vẫn hiểu xã hội mà ta đang sống không thiếu những kẻ chỉ đợi khai thác lòng thành thật của người khác để trục lợi và khiến cho sự dối trá trở nên lối sống phổ biến của những con người muốn được an toàn. Thời ấy, tôi không được may như nhiều bạn trẻ ngày nay, bởi vì hoàn cảnh mà ta đang sống, dù còn lắm nỗi khó khăn, nhưng con đường về tương lai, con đường tốt đẹp dẫn về một cõi đời mới với những lý tưởng nhân đạo, công bằng đã được rộng mở. Và những ai biết suy luận sáng suốt về đời, hoặc có ít nhiều kinh nghiệm bi thảm về những sự tình trước mắt, có thể rứt bỏ tất cả - ái tình, danh vọng, bạc tiền, cùng trăm thứ loại ảo ảnh buồn cười khác nữa - để lao vào con đường ấy với lòng xây dựng nhiệt thành.


Nhưng vào thời tôi đã sống, thời bọn thực dân cỡi cổ đè đầu, chặn đường bít ngõ, thời mà con người nhìn đâu cũng chỉ thấy sự xu mị và cảnh sa đọa, nỗi lòng oán ghét tha nhân, ghê tởm xã hội trở thành một cái phương cách tự vệ duy nhất. Thật không có gì làm ta đau xót bằng chỉ tìm thấy đố kỵ mà không thấy lòng hỗ trợ, chỉ tìm thấy mối tà tâm, ác ý mà không thấy lòng cao thượng và nghĩa kết đoàn. Trong bế tắc ấy, dễ sinh tấm lòng yếm thế, chỉ muốn đi xa, khuất nẻo loài người.


Tôi còn nhớ rõ chú tôi đã cầm một lưỡi dao nhọn đâm ngay vào ruột cha tôi đe mà cướp đoạt gia tài. Cái gia sản ấy, kết quả của bao nhiêu năm chắt bóp, bon chen, đã do cha tôi gầy tạo với sự nhẫn nại và lòng khắc khoải, tưởng  làm một cái sức mạnh hòng đối phó lại cuộc sống đầy những lừa đao, bấp bênh, nào ngờ chính là đầu mối của một tai họa. Tôi còn thấy lại cảnh người quằn quại trên chiếc võng gai treo ở ngoài vườn một đêm trăng sáng, nơi người nằm mát ngắm trăng và thấy từng dòng máu tuôn xuống đat đọng vũng đen ngòm, lấp lánh ánh bạc. Từ đó, chơi trăng, thưởng nguyệt với tôi thật là dại dột, thật là quái gở không biết chừng nào. Người ta không thể tìm được niềm vui và sự thanh thản khi lòng còn bị vẩn đục bơi điều tư lợi, ám ảnh bởi sự ghen hờn.


Cha tôi, trước khi trút hơi thở cuối, chỉ kịp phều phào:


- Thằng chú mày… Ký Tam… Ký Tam đã giết chết tao. Đừng cho ai biết… mà thêm… xấu hổ gia đình. Tao chết… mà nó… ở tù thì ích lợi gì. Giao hết ruộng vườn cho nó… Nó sẽ toại nguyện… để cho các con yên ổn…


Rồi ông thở hắt, đi về thế giới bên kia. Mẹ tôi đã qua đời sớm, chúng tôi trông chờ vào mỗi người cha tháo vát để mà lớn lên. Bây giờ thì chúng tôi thật trơ trọi. Chú cúng như cha, đối với chúng tôi đó là câu nói cũ xì không còn có nghĩa gì khác ngoài một cái nghĩa mỉa mai tồi tệ nhất đời. Chúng tôi lẳng lặng đem hết gia sản giao cho người chú để xin hai chư bình an. Quả nhiên, chúng tôi được hưởng bình an, sau khi đã mua nó bằng bạc tiền và cái mạng sống của một người cha rất đỗi hiền từ.


Chúng tôi lớn lên trong nỗi khốn khổ mọi mặt, nhưng bù đắp lại chúng tôi cũng trưởng thành mau do cái cuộc sống gian nan và xảo trá này ban cho quá nhiều bài học tưởng đến nổ tròng con mắt.


Chú tôi, Ký Tam, lưu lại hình ảnh trong tôi như một ác thú, và ấn tượng ấy thật là sâu đậm trong cuộc đời tôi. Khi tôi vào đời, rạo rực thương yêu, tôi đã yêu thương mà không dè dặt. Tình yêu với tôi có một năng lực cứu rỗi, ít ra tôi cũng tưởng là như thế. Sau nỗi đau xót do những ma chiết của đời tạo nên, người ta khát thèm tình cảm, bởi lẽ tình cảm vỗ về, tình cảm có vẻ dịu ngọt của mật mà kẻ cô đơn thường chỉ là ruồi. Tôi gặp Diễm Tuyết trong một trường hợp tình cờ và tôi đã thương yêu nàng một cách say đắm như chưa có kẻ nào trên đời nay thương yêu như thế. Đáp lại tình yêu của tôi, người đàn bà ấy có sự nồng nhiệt kỳ lạ, một sự nồng nhiệt mà ta dễ có cảm tưởng đó là tặng vật duy nhất của thứ tình yêu chân thật. Con người dễ có ảo tưởng, và sống vui vẻ trong mê hoặc ấy cho đến một lúc ảo tưởng vỡ tan như bọt xà phòng trước gió.


Cơn gió khá phũ phàng ấy thổi vào cuộc sống chúng tôi vào một buổi sáng mùa xuân. Sau chuyến đi xa trở về đột ngột, tôi được một người quen thân cho biết là người đàn bà mà tôi thương yêu tha thiết và tưởng như có thể chết vì nàng có sự đi lại quá đáng thân mật với một bạn tôi, người bạn giàu có mà tôi tưởng rằng có thể sống chết vì tôi bất cứ là trường hợp nào. Kẻ thù lợi hại của ta lại là những kẻ gần gũi với ta hơn hết, câu nói quá xưa cũ này vẫn còn có giá nữa chăng?


Còn nhớ cái ngày tôi tìm đến được nơi họ hẹn hò, tôi đứng tần ngần khá lâu trước cánh cửa phòng khoá chặt, nghe cơn giận dữ trào lên nơi cổ họng mình. Tôi nghiến răng lại, thu chặt nắm tay, tưởng có thể đâm hay giết những kẻ đã phản bội mình như giết một giống sâu bọ dơ bẩn nhất đời. Nhưng tôi giet họ làm gi? Tất nhiên tôi sẽ trả giá cơn giận dữ ấy bằng những thiệt thòi bất xứng. Hẳn tôi không đủ ngu ngốc để mà tiếp tục chịu sự gạt lừa bởi người đàn bà mà tôi bắt đầu cảm thấy khinh bỉ và cái thằng bạn khon nạn lợi dụng tình thân để giở những trò đốn mạt, tôi cũng không thể vì chúng mà chịu vất vả đời mình thêm một chút nào. Vả lại, khi một người đã không còn gắn bó với ta, đã vui thích vì lừa gạt được ta, thì ta còn bị ràng buộc gì với họ nữa? Thế là dứt khoát, ai đi đường nấy là xong.


Tôi đứng trước căn phòng họ yêu đương để mà suy nghĩ nhẩn nha như thế, để nghe lòng mình dịu lại trong nỗi lạnh lẽo khác thường. Có lẽ tôi đã mang trong người tôi một sự tính toán sáng suốt như cha tôi từng nghĩ đến lợi hại cho đám con mình, khi bị người em đâm vào giữa ruột để mà cướp đoạt gia sản. Tôi không gõ cửa, không mở con dao mài nhọn, và lúc toan quay trở về bong dưng tôi bật cười lớn. Tôi cười sặc sụa, cười đến ngã gập người vào cánh cửa, cười khụy người xuống trên bậc tam cấp và không thể ngồi dậy nổi ngay liền sau đó. Tôi cười cho sự ngu ngốc của tôi và cười cho những ngu ngốc của những kẻ khác, như tôi, đã cứ mê lầm tưởng rằng có thể tìm được cứu rỗi ở trong vòng tay ái tình.


Tôi chợt hiểu rõ ái tình tự nó không phải là một cứu cánh, cũng chẳng phải là lý tưởng. Nó chỉ là một phương tiện, một loại phương tiện có thể trở thành nhiệm màu, tuyệt diệu, nếu biết sử dụng vào một lẽ sống cao xa và cũng có thể trở thành độc dược hay là rác rưởi nếu đi ngược những ý hướng tốt đẹp của người.


Tôi đa để mất phần lớn cuộc đời, đánh mất quá nhiều năng lực tuổi trẻ trong cuộc chạy đuổi theo cái ảo tưởng quái đản là vậy. Tôi đã khờ khạo tin tưởng vào sự tuyệt đối của những liên hệ tình cảm đến mức đánh rơi cả sư cảnh giác cần thiết có thể đưa đến phá sản lớn lao cho cuộc sống mình. Thế mà chẳng có một đàn anh nào đi trước dạy bảo cho tôi điều ấy, ngoại trừ những bài luân lý khô khan mà ta có thể coi như là món tâm sự lẩm cam của những chú, bác về già.


Ái tình đã tạo cho tôi một cái hang hốc khá tốt để tôi ẩn núp nhiều năm và lầm tưởng đó là chốn an toàn vĩnh viễn. Bây giờ thì thật hết rồi. Sự thật trần truồng - đúng là hai tiếng trần truồng - đã xô ngã tôi trước cửa phòng bọn gian dâm trong một tiếng cười còn bi đát hơn là tiếng khóc nữa. Có lẽ chúng đã nhận ra được tiếng cười ấy của tôi, và sự im lặng bên trong có phải là dấu hiệu hoảng hốt tột cùng? Tôi cũng chợt thấy tiếng cười nhiều khi lại có tác dụng kỳ quái hơn là chửi bới, nạt nộ, dù đấy chỉ là tiếng cười của sự thất bại, một thứ biểu chứng của lòng tự ái. Và kể từ đấy không bao giờ tôi gặp lại người đàn bà nọ và gã đàn ông kia nữa.


Chú ruột của mình, người yêu của mình, bạn thân của mình đã đâm vào chính giữa gan ruột mình, đã làm mất hết chút gì ảo tưởng nhân nghĩa còn lại nơi tôi về xã hội này. Quả la trong thế giới xô bồ mà tôi đang sống, đồng tiền lớn hơn một cái bánh xe và chiếu ánh sáng mạnh hơn mặt trời. Bởi vì ngày và đêm, mưa và nắng, ngoài mặt và trong hồn, nơi nào cũng nhìn thấy ánh sáng ấy chiếu tỏa và khơi dậy nguồn sinh hoạt.


Tôi đã rời nhà mà đi, vào một buổi sáng, khi mặt trời chưa lên khỏi chân mây, quay lưng lại bóng tròn ấy, bóng tròn đổ lửa chứa chan khi tôi lên khỏi đỉnh đồi trước mặt và tiến sâu vào rừng thẳm. Không thể sống với xã hội loài người, tôi tìm về với thiên nhiên. Cây đá, cỏ hoa, suối ngàn, gió núi, đó là tất cả những gì sẽ là bạn hữu của tôi, sẽ đem cho tôi quên lãng, an vui, những thứ tình cảm mà tôi tin rằng chân thật lâu dài.


Nhưng ở trong rừng còn có vô số những loài thú dữ. Tất nhiên là chúng không dữ bằng loài người ở trong xã hội mà tôi trốn thoát, chúng vẫn còn khá nhiều điểm đáng yêu, nhưng chúng cũng chẳng chịu để tôi yên. Đó là lý do khiến tôi trở thành thợ săn và tôi hăm hở đi sâu nhiều hơn vào chốn rừng già, mỗi ngày mỗi gần gũi hơn với những tâm hồn ngay thẳng, chất phác của những thổ dân không biết đến sự đieu ngoa của chốn phố phường, mỗi ngày mỗi cảm mến hơn sự câm lặng của những con người ấy. Còn gì đáng để nói nhiều nữa đâu? Tôi nhắm vào giữa đỉnh đầu hay giữa lồng ngực những con hổ lớn, những con beo già, những con gau to, và tôi bóp cò. Tiếng nổ chát chúa vang dội trong rừng, vẳng lại từ các hốc đá và tôi nhìn sự giãy giụa của những con mồi với nỗi say sưa khôn tả. Mỗi lần chĩa súng về phía con vật, tôi lẩm bẩm nói:


- Đây là phát súng tặng cho Ký Tam.


Hoặc như tự nhủ với mình:


- Đây là viên đạn biếu thằng Trần Hải.


Ký Tam là chú của tôi và Trần Hải là bạn tôi, nhưng giờ đây các danh hiệu ấy không gợi cho tôi một xúc động nào ngoài nỗi hận thù. Các loài thú dữ đều được tôi cho mang một cái tên quen thuộc của hạng bất nhân, tàn bạo mà tôi đã gặp trong đời, để tôi có thể trút nỗi căm hận một cách ồn ào, qua các phát súng gửi đi một cách quyết liệt.


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »