tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
25.05.2009
Vũ Hạnh
Cô gái Xà Niêng

Khi tôi tỉnh dậy, ánh sáng bên ngoài đã tràn vào ngôi nhà sàn xiêu vẹo. Không tháy người cùi ở bên bếp lửa. Chắc anh ta đi kiếm thức ăn ngoài rừng. Tôi chờ một lát khá lâu, vẫn không thấy gã, vội rời khỏi chiếc nhà sàn. Một con ngựa tía kha lớn, khỏe mạnh cột ở bụi cây gần đấy. Trong tình trạng này, gặp được con ngựa thật là ngoài sự mong chờ. Tôi bước lại gần, con vật hí lớn, dậm chân như đánh hơi người lạ mặt. Tôi vỗ vào đầu, vuốt ve bờm nó, tìm cách làm quen. Con ngựa không lộ vẻ gì ngờ vực, hẳn đang chờ đợi gần gũi với người. Tôi tìm ít cỏ non mướt đem về cho nó. Bị cột một chỗ gặm những lá cây chua chát xung quanh, nay được món ăn thích khẩu, con vật dậm chân, rung đầu có vẻ ưa thích. Tôi chợt nghĩ đên những nỗi khô khát nó đã trải chịu vì chỉ liếm được những giọt sương đọng trên lá mà thôi. Chạy xuống mé suối ở gần đấy dùng cái gàu vải luôn mang theo ở bên mình tôi múc một gàu nước đầy mang lên cho nó. Con vật hí vang, dậm chân đì độp. Trong khi nó gục đầu uống miên man tôi vỗ về nó, khoát nước lên khắp mình nó để nó hưởng sự mát mẻ thiếu thốn từ bao ngày rồi.


Đáng lẽ tôi dắt ngựa xuống suối tắm cho dễ dàng hơn nhưng thấy cần phải thưa lại một lời với người chủ cũ. Khi đem gàu xuống lần thứ ba, thấy chỗ khoảng nước đã bị tôi làm vẩn đục, tôi lội ngược dòng tìm chỗ sâu hơn và trong trẻo hơn. Đang đi tôi bong chú ý đến những dấu chân không đều và không rõ lắm lờ mờ trên cát, dấu chân của người chủ nhà tàn tật.


Anh ta đi đâu về ngả lối này? Tôi tự nhủ thầm như vậy, tiến theo các lằn dấu ấy, hy vọng sẽ gặp người cùi hì hục hái rau hay đang mò bắt tôm cá ở ven khe đá. Đi được một đoạn, tôi đến hõm suối khá rộng, một cái hố nước lâu ngày gặp mùa mưa lũ tràn về tuôn xuống quá mạnh, xoáy thành vực sâu. Bây giờ đã qua mùa mưa lụt rồi, mặt nước bình hơn và trong leo lẻo.


Dấu chân người người cùi biến mất trên một mỏm đá ven bờ. Tôi leo lên mỏm đá ấy nhìn quanh. Không thấy gì cả. Mặt trời đã lên khá cao, rọi nắng chang chang. Tôi cúi sát xuống trên các mặt đá. Từng vết cát nhỏ rơi rớt đây đó. Tìm theo dấu vết, tôi đến ven bờ. Ở nơi miệng hố, một số bụi cây đã bị đè gãy. Tôi nhìn xuống dưới đáy sâu, và tôi hoảng hốt thấy một dáng người dưới đấy.


Người cùi đã chết, có lẽ tự vẫn hơn vì một rủi ro nào. Tôi đứng ngẩn ngơ trong nỗi buồn rầu mệt mỏi ở trên bờ suối. Nhớ lại những lời anh ta đã nói trong đêm, rõ ràng anh ta không muốn sống nữa. Nhưng tại sao bây giờ anh mới tự huy mình, mà không tự hủy sớm hơn hay trễ hơn? Tôi đã tình cờ đến gặp, hay vì chính sự hiện diện của tôi đã thúc đẩy sớm cái chết anh ta? Có lẽ người ấy không muốn tự hủy một cách cô độc, không ai hay biết, mà muốn ra đi có sự chứng kiến nào đó của đồng loại mình. Hay là sau khi có dịp làm một việc tốt là nhường con ngựa cho tôi, anh ta có thể ra đi mà không nuối tiếc đời mình? Dù sao, cho đến phút cuối, con người bệnh hoạn gần như tàn phế đã bị hắt hủi bởi đồng bào mình, bởi thân quyến mình, cũng thấy an lòng ra đi vào cõi hư vô vì đã tỏ được thiện ý với người đồng loại.


Xác chết người cùi ở dưới đáy sâu có thể là mầm bệnh hoạn gieo rắc đó đây khi dòng nước suối mang những xương thịt rục rã về các buôn xa. Vả lại, để anh nằm vậy coi không đành lòng. Tôi quay về ngôi nhà xiêu vẹo, tìm vật gì cứng đào một huyệt mộ. Không có vật gì bén nhọn, tôi phải lấy cây rựa trành vẫn thường mang theo bên mình xuống một triền thấp, lựa chỗ đất mềm, hì hục khá lâu mới hoàn thành được một nơi để an táng kẻ xấu số.


Rồi tôi chặt một cành giang khá dài, tra chiếc móc đẵn từ một chạc cây gai bớm, thòng xuống kéo xác anh ta lên khỏi vực nước. Tôi không dám nhìn lâu vào cái xác co quắp và tàn phế đó. Một nỗi kinh sợ choàng lấy người tôi, làm tôi tê lạnh đến cả xương sống. Những tiếng chim gì kêu lên, mơ hồ, ở trong rừng xa vọng lại. Tiếng chim rền rĩ, lạ lùng, khiến tôi lẩn thẩn nghĩ đến oan hồn của người đã khuất.


Tôi lấy tấm chiếu cũ kỹ mà người của buôn anh ta đã dành cho anh cuốn tròn xác lại, rồi dùng dây rừng bó chặt đem xuống huyệt mộ vùi nông một nấm. Xong, lấy tất cả vật dụng hàng ngày của anh đem đặt lên mộ, theo cái tục lệ của đồng bào Thượng khi chôn người chết. Đoạn tôi lâm râm khấn vái, mong anh tìm được yên nghỉ trong phần mộ đó, và chóng quên đi cuộc đời bạc bẽo mà anh đã từng chịu đựng lâu nay. Tôi gởi tặng vong linh anh ít giọt nước mắt mà từ lâu tôi cứ ngỡ rằng cạn khô rồi. Có lẽ nước mắt người không bao giờ khô cạn nhưng no cũng như bạc tiền, càng đi sâu vào cuộc sống khó khăn, những kẻ từ sớm đã quá phung phí về sau càng biết dè sẻn hơn lên để chi tiêu vào những dịp thật là cần thiết.


Tôi lo xong việc tống táng ân nhân của tôi thì đã quá nửa buổi rồi. Mệt mỏi nhưng an lòng hơn, tôi quay về chòi nấu cơm. Lúc chờ cơm chín, tôi dắt con ngựa xuống suối tắm rửa, kỳ cọ và cột nó gần một bờ cỏ tốt.


Ăn xong, tôi thu xếp gọn đồ đạc và đi ra suối, phóng lên mình ngựa tìm đường về nơi ông Chúp đợi chờ. Con ngựa còn sung sức lắm, tôi ép nó chạy khá mau, nhưng khi trời vừa sụp tối tôi chỉ đi được chừng hai phần đường. Tôi dừng lại một triền núi, đốt nhiều đống lửa xung quanh để tôi và con ngựa quý vào giữa. Khẩu súng của tôi luôn nạp sẵn đạn, khóa an toàn cũng không gài, để chực phòng hờ bên mình. Tôi ngủ yên tâm vì biết con ngựa là người lính gác mẫn cán, bởi nó đánh hơi được loài thú dữ từ xa và tiếng nó hí sẽ thức tôi dậy kịp thời trước mọi bất trắc.


Vừa dậy, tôi đã lên đường tức khắc. Đã qua thời hạn ba ngày hẹn với ông Chúp. Có lẽ bây giờ ông ta đang sống trong nỗi giày vò, lo lắng cực độ vì thấy tôi chưa trở về. Tôi muốn đến sớm để ông khỏi mong vì tôi nghĩ ông sẽ cố nán chờ chứ không tuyệt vọng bỏ đi.


Tôi không cho ngựa dừng lại gặm cỏ xanh mướt ven đường. Thỉnh thoảng, tôi cũng hái được một ít trái rừng chua chát qua các lối đi, và tôi lót lòng tạm đỡ, đợi về tới chỗ mới thổi cơm ăn.




 


Giữa trưa hôm đó, tôi về đến chỗ ông Chúp chờ đợi. Từ xa, nhìn thấy hang núi, tôi đã phập phồng không biết ông còn ở đó hay không. Tôi thúc con ngựa đuối sức, ướt đẫm mồ hôi, và con vật nghe theo tôi một cách miễn cưỡng. Khi vào miệng hang, tôi chưa kịp bước xuống ngựa đã thấy ông Chúp chạy ra, một ông Chúp già đi nhiều sau hơn ba ngày chờ đợi, vẻ mặt còn in những nét thảng thốt qua những đêm ngủ không yên. Tôi hỏi:


- Ông vẫn tin rằng tôi sẽ trở lại đây chứ?


Ông Chúp nở một nụ cười khô héo, trả lời:


- Không, tôi không tin ông sẽ trở về được.


- Nhưng tôi đã về và có cả ngựa nữa kia. Ông coi, con ngựa tuyệt đẹp.


Ông Chúp bước lại vuốt ve con vật, có vẻ sững sờ trong nỗi ngạc nhiên. Ông hỏi:


- Tìm ở đâu vậy?


- Ở giữa rừng già, trên ngọn núi cao. Thật cũng không ngờ, ông ạ. Dịp may thường đến vào lúc mà ta tưởng như là tuyệt vọng nhất.


Rồi tôi kể lại câu chuyện vừa qua cho ông Chúp nghe. Ông Chúp có vẻ cảm động khi biết người cùi đã chết sau khi gặp tôi và giao cho tôi con ngựa. Ong lẩm bẩm nói:


- Tội nghiệp. Anh ta không muốn sống nữa là phải lắm rồi. Anh ta đang cần một người chôn cất và đắp cho anh nấm mộ. Ông đã đi tới đúng vào cái lúc anh ta chờ đợi. Anh ta thực là may mắn.


Rồi ông thở dài, nói tiếp:


- Chỉ sợ như chúng ta đây, đến lúc nằm xuống giữa rừng già này mà không có được một nấm mộ nào.


Tôi hiểu những ý bi quan do sự cô độc vừa qua đang còn hành hạ ông già và tôi vội vàng nói lớn:


- Đừng nghĩ như vậy, ông Chúp. Đừng làm thêm buồn cái ruột chúng ta bằng những điều nghĩ mơ hồ. Ông xem, cái gì chúng ta mong đợi đều có cả rồi. Chúng ta mơ ước Mả Voi, và chúng ta đã tìm đựơc. Chúng ta mong ước một con vật thồ và chúng ta đã có đấy. Chúng ta đang ở giữa rừng già này chứ đâu phải ở trong buôn mà mọi việc đều có người giúp sức? Thế là quá tốt cho chúng ta rồi. Đừng nên nghĩ ngợi những gì làm cho chúng ta nản lòng.


Ông Chúp làm thinh nhưng trên nét mặt của ông có những gợn buồn. Tôi đành phải hỏi về điều mà tôi muốn tránh:


- Thế nào? Mấy ngày hôm nay có gì phá rối giấc ngủ ông không?


Ông Chúp nhíu mày, đáp lại:


- Vào cái đêm đầu khi ông ra đi thì không có gì xảy đến. Nhưng qua đêm sau, chúng không chịu để tôi yên.


- Chúng làm những gì?


- Chúng đến vào khuya, ném đất vào trong đống lửa. Chúng đông hơn lần trước nhiều. Tôi dùng khẩu súng mà ông để lại bắn liền máy phát, chúng mới chịu đi. Qua đêm vừa rồi, không thấy chúng trở lại nữa.


- Ông xem, chúng chỉ tò mò vậy thôi. Chúng không cố ý làm hại ta đâu.


Ông Chúp lặng làm thinh, tôi có cảm tưởng những lời vừa nói không làm cho ông yên lòng bao nhiêu. Lát sau, khi chúng tôi đã thổi cơm và ăn uống xong, nằm trên một tảng đá lớn tỏa rợp bóng cành ngắm nhìn con ngựa ăn cỏ ven bờ suối nhỏ, ông Chúp mới hỏi:


- Thế nào? Bao giờ chúng ta vào lại Mả Voi?


- Hãy nghỉ thêm một vài hôm cho khỏe đã chứ.


- Thức ăn chúng ta không còn nhiều đâu. Chần chờ quá lâu, lấy gì mà ăn trong những ngày gian nan ấy? Nhưng nếu đi ngay, tôi ngại ông và con ngựa  không còn đủ sức. Vậy nên dời về chốn khác có thể không bị quấy phá ban đêm, rồi tìm thêm ít củ mài và cây trái rừng ăn dặm với gạo còn lại, mới tính đến chuyện vào Mả Voi được.


Tôi thấy ý kiến ông Chúp hợp lý, và sau một giấc ngủ trưa ngắn ngủi tạm lấy lại sức, chúng tôi rời khỏi hang núi.


Chúng tôi quay về nơi đã dựng lều từ hôm mới đến, nghỉ lại năm hôm. Trong ba ngày đầu chúng tôi đi đào củ mài và hái trái rừng. Củ mài, củ nhen ở đây khá nhiều. Một phần chúng tôi xắt nhỏ phơi khô để dành nấu trộn với cơm, một phần làm bột. Không có dụng cụ chúng tôi mài những củ nhen trên đá, đặt trong một tấm khăn lớn, rồi nhồi bột ấy thành những bánh nhỏ. Để kịp thời gian chúng tôi không thể chờ phơi ngoài nắng, vì nắng ở đây thường bị bóng mát cây dày và trời mù sương che kín, nên nung trên lửa than hồng. Các bánh củ nhen khô cứng, khá nhẹ, mang theo thật là thuận tiện, cần ăn chỉ cần khuấy trong nước đun sôi với một ít muối hay đường là có chất bột thơm ngon. Về muối, chúng tôi vẫn phải dè sẻn và thường ăn dặm bằng loại rễ tranh, lá sim đốt cháy. Các loài cây cỏ này có chất muối nhưng không đủ mặn như muối bể, dù vậy cũng giúp cơ thể chúng tôi chịu đựng được thiếu thốn giữa rừng già. Còn đường thì chúng tôi thật khan hiếm, phải tìm những loại cây rừng chín ngọt sấy trên than hồng dành để mang theo. Trai rừng có khá nhiều loại, nhiều thứ thật ngon ngọt nhưng chúng tôi không biết tên, cũng chưa hề gặp những giống tương tự ở dưới đồng bằng. Chúng tôi luôn luôn no đủ vì núi rừng là một kho thực vật phong phú lạ lùng.


Sau năm ngày nghỉ nhưng thực là dành cho việc chuẩn bị khai thác Mả Voi, chúng tôi lên đường. Mọi sự gian khổ trong chuyến đi này không có gì lạ để tôi nhắc lại ở đây. Chúng tôi đã phải đương đầu với cọp, với voi, với nhiều loại thú dữ nữa, để tự bảo vệ và bảo vệ con ngựa quý bây giờ là cái phương tiện tiếp vận duy nhất mà chúng tôi có. Dù sống quen giữa núi rừng, con ngựa chúng tôi cũng cảm thấy nỗi khiếp sợ khi vào thung lũng Ma Voi, nơi đông đảo chúa sơn lâm ngự trị, nên chúng tôi phải mất nhiều công sức để giữ nó vững tinh thần.


Số ngà được chúng tôi chở mỗi lần từ năm đến sáu cặp thôi, vì không thể buộc con ngựa đèo quá một trăm kilô. Những cặp ngà tốt trên hai chục ký và chưa phai màu vì sức thời gian phá hoại được chúng tôi lựa chọn trước. Cứ vậy, ông Chúp đi đầu dẫn đường, tôi bước theo sau hộ tống, đoàn của chúng tôi vượt qua rừng già, gai góc, vượt qua mây mù của giống ba vỏ hút máu, vượt qua những cuộc tấn công quyết liệt của loài ác thú, để về một hang đá lớn được che đậy kỹ làm cái kho tàng chất chứa ngà voi.


Cứ sau một chuyến vận tải như vậy, chúng tôi lại nghỉ vài ngày dưỡng sức. Người và ngựa đều vất vả vì sự căng thẳng trong cuộc đối phó với nhiều kẻ thù, vì sự gian khổ của mỗi chuyến đi. Chúng tôi cũng tự giới hạn không cho phép mình nổ súng ở trong thung lũng, sợ làm kinh động quá đáng các loài dã thú hoặc khiêu khích chúng. Bây giờ đã thuộc đường lối, chúng tôi tiến vào thung lũng Mả Voi một cách âm thầm, lén lút, như những kẻ trộm lấy bớt của quý ở trong kho tàng rừng già được giao cho loài thú dữ trông coi. Chỉ khi ra ngoài thung lũng chúng tôi mới bắn những con mồi nhỏ để làm thức ăn. Ở đây thịt rừng khá nhiều nên sự bồi dưỡng thật là dồi dào. Trong các ngày nghỉ, chúng tôi chỉ cần đi săn vào một đôi giờ là có đủ thịt ăn đôi ba tuần. Các loài rau ở ven suối ngồn ngộn tươi xanh và thật ngon ngọt.


Từ chỗ chúng tôi hạ trại đến hang núi được sửa dọn để cất ngà voi không xa vì vậy sau vài chuyến đi, trở về chúng tôi dời hẳn đến ở nơi hang cho tiện. Chúng tôi đốt củi trong hang suốt ngày cho bớt khí ẩm, rồi đẵn những cây gỗ dài kê trên lớp đá làm bục chất các thớt ngà. Ở nơi miệng hang, chúng tôi làm một cửa bằng cây lớn và chèn thêm nhiều đá to. Tuy không sợ sự phá phách hay mất cắp giữa rừng già, nhưng chúng tôi muốn kho tàng được an toàn, bởi chuyển vận còn đòi hỏi dài ngày.


Sau khi đi được tám chuyến, chúng tôi đều đã thấm mệt và quyết định nghỉ đôi ba tuần lễ để hồi phục lại sức khỏe và có thể về những miền gần nơi qua lại khách buôn hỏi thăm giá cả để bán ngà voi. Chúng tôi đã nhìn thấy trước những món tiền lớn sẽ thâu lượm được và viễn ảnh ấy phần nào lại làm chúng tôi thành biếng lười hơn.


Hôm ấy, vào một buổi sáng tốt trời chúng tôi lên đường mang theo năm cặp ngà voi đẹp nhất. Riêng con ngựa chở bốn cặp, tôi và ông Chúp một cặp, dặm về của ba chúng tôi không kém gian nan vì con đường vào thung lũng Mả Voi là một hành trình ít ai kham nổi từ trước đến giờ.


Phải mất gần hai tuần lễ chúng tôi mới đến vùng đất gần miền phố thị. Món hàng chúng tôi được tieu thụ sớm với một giá hời do các Hoa Kiều sinh cơ lập nghiệp tại các khu chợ miền núi mua lấy để bán ra ngoài. Đã có tiền rồi đáng lẽ tôi nấn ná lại phố phường một thời gian dài cho quên bớt nỗi mệt nhọc của những tháng ngày vất vả, cô độc, để hưởng thú vui chỉ tìm thấy được ở những chỗ đông người với những tiện nghi của cái thời đại gọi là văn minh, nhưng chừng như tôi đã mất hẳn thói quen ấy, thói quen sống giữa sinh hoạt xô bồ trong một xã hội mà tôi nhìn toàn là giả dối, mưu mô, với những con người mang những mặt nạ gớm ghiếc. Tôi nhớ những khu rừng rậm gai góc mọc đầy, nhớ những hoa ngàn, nước suối, nhớ cả những loài thú dữ mà tôi đã từng gặp gỡ hay từng bắn ngã, nhớ những buôn Thượng cheo leo trên các sườn non, nhớ cả những nỗi đe dọa trong các đêm dài thao thức không yên. Tôi đã mất niềm tin tưởng nơi các con người sống giữa phố phường, mất cái thói quen trao đổi với họ, mất cả hơi hướng của họ ở trong sinh hoạt, và tôi muốn gần ông Chúp, gần sự câm lặng đầy những khôn ngoan của ông, muốn là một người bạn đường mãi mãi của ông trên những dặm dài trắc trở.


Tôi chỉ mua những đồ dùng cần thiết, thuốc men và những vật thực có thể dùng được nhiều ngày, mua cho ông Chúp và tôi những món quần áo có thể chống lại hữu hiệu lạnh lẽo rừng sâu, và tôi cũng tìm mua một ít sách có thể giúp tôi tiêu thụ một cách hữu ích những phút nhàn rỗi nằm chờ giấc ngủ bên suối một buổi trưa nào hay bên những ngọn lửa hồng sáng rỡ về đêm.


Ông Chúp đợi tôi ở một xóm buôn gần chợ, nơi đó ông có một người em ruột tên là A Don sống với gia đình bên vợ. Khi thấy tôi đến, ông ngạc nhiên, không ngờ tôi trở lại sớm như thế.


- Ông không ghé thăm nhà sao?


Tôi đáp:


- Không còn có nhà nào nữa.


- Ông không có bạn bè sao?


- Không. Nhà tôi là núi, là rừng, và bạn bè tôi là ông Chúp đấy.


Ông Chúp có vẻ cảm động khi nghe nói thế vì không bao giờ ông nghĩ tôi nói để đùa hay cốt làm vui lòng ông. Tôi đem những món quà mua tặng ông, và ông tỏ ra hết sức bằng lòng.


- Ông lo cho tôi nhiều quá. Ông tốt với tôi nhiều lắm.


- Đừng nói như thế, ông Chúp. Chúng ta đã sống với nhau giữa chốn rừng già, không có ai quen thuộc khác là loài thú dữ, không có ai đùm bọc khác là tôi và ông. Chúng ta dù không bà con nhưng còn hơn cả ruột thịt, chúng ta sống chết có nhau. Tôi đã tính rồi, nếu bán được thêm một số ngà nữa, chúng ta có đủ một cái vốn lớn để lập vườn tược, và tôi với ông sẽ sống bên nhau đến mãn cuộc đời.


Ông Chúp nhìn tôi một cách trìu mến, rồi nói:


- Ông không thể đi mãi trong rừng núi. Không ai lại đi như thế. Ông phải nghĩ đến cái ngày có vợ, có con, sống yên ở một nơi nào.


- Tôi không thể nào lấy vợ được nữa, đó ông Chúp à.


- Sao vậy?


- Tôi ghét đàn bà.


Ông Chúp có vẻ không được bằng lòng khi nghe tôi nói như thế. Tâm hồn của ông không chấp nhận sự cực đơn và những ý tình lệch lạc. Ông hơi lắc đầu, rồi nói:


- Không người đàn ông nào có thể ghét người đàn bà. Có những đàn bà xấu bụng nhưng cũng không thiếu những đàn bà tốt. Không nên nói thế, ông phải có vợ mới được.


- Tôi đã nhất quyết rồi mà. Toi không thể lấy người Kinh làm vợ.


Ông Chúp làm sao có thể hiểu rằng một khi đã bị tuyệt vọng, người ta không còn thiết tha gì nữa, dù sự oán ghét lắm lúc chỉ là mặt trái của sự yêu thương. Để chấm dứt những chuyện ay, tôi bảo:


-          Ngày mai, ta sẽ lên đường về lại Mả Voi.


(Còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »