Hang núi chúng tôi cất dấu ngà voi vừa hiện trước mắt đã thấy có nhiều dấu vết khả nghi. Chúng tôi vội vã chạy đến. Cửa hang bật tung như bị một đám người nào phá phách để vào cướp đoạt những món ngà quý mà tôi cất giấu bên trong. Một số ngà bị kéo tung đây đó trên đất, nhiều vết chân nhỏ xéo giày như có một cuộc giành giựt xảy ra. Chúng tôi thâu nhặt những gì đã bị vung vãi, và khi kiểm tra lại những chiếc ngà chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên thấy chẳng có gì mất mát. Thế thì những sự xáo trộn như vậy do đâu mà ra, và để làm gì? Tất nhiên chúng tôi nghĩ ngay đến những con người - hay là con vật - xuất hiện trong những đêm khuya và thấy nặng nề thêm một bí ẩn không sao giải tỏa. Ông Chúp vẫn còn cái vẻ sững sờ như trước nhưng nỗi sợ hãi đã giảm phần nào. Tôi làm ra vẻ tươi cười bảo ông:
- Đây hẳn là những bạn cũ của chúng ta thôi. Kể cũng phiền thực, lợi dụng chúng ta vắng nhà mà vào phá phách, thật là quá tệ. Phen này nếu gặp lại họ, tôi quyết hỏi cho ra lẽ.
Ông Chúp trầm ngâm rồi chợt hỏi tôi:
- Ông tin là họ không có ý gì muốn hại ta chứ?
- Chắc chắn là không?
Thấy ông vẫn còn hồ nghi, tôi tiếp:
- Ông xem, họ có muốn lấy gì của ta đâu? Nếu có ác ý họ vẫn có thể ném hết đồ ăn mà ta cất giấu xuống dưới suối kia một cách dễ dàng. Ta đã rời xa nơi đây gần hai tháng trời, chứ phải một ngày một buổi gì đâu. Không, họ chỉ là những con người tò mò, vậy thôi. Họ muốn làm quen với ta cũng chưa biết chừng.
- Nhưng họ là ai ?
Phải rồi, họ là ai vậy? Họ có phải là người không hay là một loại thú rừng có những nét giống với người? Họ từ đâu đến, và họ được gọi là gì? Thật ra họ có nguy hiểm hay không? Tất cả điều này tôi vẫn chưa giải đáp được. Để trấn an ông già Chúp, tôi bảo:
- Chúng ta sẽ biết, lo gì.
Hôm sau trời còn nặng trĩu sương mù, núi rừng bị xóa mờ trong màn trắng mênh mông, chúng tôi quyết định nghỉ thêm ngày nữa mới vào thung lũng Mả Voi. Vào khoảng mười giờ trời chưa tỏ hẳn, không thể ở mãi trong không khí u uất ấy tôi xách khẩu súng lang thang quanh rừng hy vọng tìm gặp con mồi nào chăng. Đi trên một giờ chưa bắn được thú rừng nào tôi toan quay về bỗng thấy trước mặt một con nai lớn phóng qua. Lập tức, tôi rượt đuổi theo. Con vật băng trên sườn non lao đi như một mũi tên, tôi không sao kịp nổ súng. Một phần bị lớp sương mù dày đặc khiến sự theo đuổi khó khăn, một phần con vat lanh lẹ khác thường, mang vẻ hoảng hốt của con thú rừng đã bị săn hụt nhiều lần.
Tôi đã chạy theo như vậy khá lâu, con mồi nhấp nhử khiến tôi bị lôi cuốn mãi. Đôi lần tôi muốn bỏ cuộc nhưng vẫn chạy theo con vật ẩn hiện trước mắt. Đến một thung lũng, con nai chui vào một rừng lau dày, biến mất. Tôi đứng ngơ ngác vừa lau mồ hôi trong cái buổi sáng lạnh ngắt vừa tự an ủi là nhờ con vật mà được trải qua mấy giờ thể dục vô cùng hào hứng.
Lúc tôi quay về, trời đã xế trưa, sương đã tan nhiều. Tôi lên một mỏm núi cao, đảo mắt nhìn quanh thấy mình đã đi khá xa khỏi nơi dựng trại. Chỉ có những nỗi say mê mới khiến chúng ta quên đi những quãng đường dài va mới làm cho chúng ta lạc lối một cách lạ lùng như thế.
Lúc đổ xuống một triền núi, tôi chợt nghe tiếng kêu thét. Tiếng thét hãi hùng giống tiếng của người, vụt xé sương dày, xuyên vào tai tôi như mũi dao nhọn. Ở đây không có ai khác ngoài chúng tôi ra, và tiếng kêu ấy không phải xuất phát từ nơi cổ họng một ngưòi tuổi tác là ông già Chúp.
Tôi chạy băng về hướng có tiếng kêu như bị một sự thu hút kỳ lạ. Qua một bờ cỏ tôi thấy ở dưới vực nước có một con người nhỏ bé chống chọi tuyệt vọng với một con hổ trên bờ đang tìm mọi cách nhoài mình xuống chộp miếng mồi. Mỗi lần con hổ trườn tới, phóng những vuốt nhọn vào người đứng dưới tôi lại nghe tiếng kêu thét như xé không khí vang lên. Không một phút giây lưỡng lự, tôi vội nổ súng. Con hổ trúng đạn nhưng chưa nhằm chỗ tử huyệt, nhào lăn trên cỏ, rồi lao mình vào bụi rậm.
Chạy đến mé nước, tôi thấy con người ban nãy nhoài trên bờ cỏ và nằm ngất lịm, bê bết những máu. Đinh ninh đó là một đồng bào Thượng ở trong buôn nào tới đây rồi bị cọp đuổi, tôi chạy đến gần và rất ngạc nhiên thấy kẻ trước mặt không phải là người. Tôi bước lùi lại theo một phản ứng tự nhiên, phân vân chưa biết phải làm thế nào thì nghe con vật giống người trước mặt kêu lên những tiếng rên rỉ đau đớn. Những tiễng kêu ấy hoàn toàn giống hệt tiếng người, và khi kẻ ấy ngẩng đầu ngước về phía tôi với sự ngạc nhiên pha sự sợ hãi thì tôi thật sự hoảng hốt. Tôi đã hoảng hốt, vì đó chính là một khuôn mặt người, pha trộn những gì của loài dã thú với những lông lá phủ đầy nhưng vẫn mang vẻ dịu dàng nào đó dưới mớ tóc rối thành từng về lớn.
Tôi chưa trông thấy một giống loại nào như vậy, ở khắp núi rừng trải qua từ trước đến giờ. Phải đây là một trong số những kẻ lạ mặt đă đến quấy rầy tôi trong giấc ngủ từ trước đến nay, đã gieo khủng khiếp cho ông già Chúp đến độ kinh hoàng muốn rời bỏ hẳn núi rừng mà đi về lại buôn xưa? Có thể đây là giống loại dã nhân thỉnh thoảng vẫn nghe xuất hiện ở chốn hoang vu, mà kẻ nằm trước mặt tôi là một trong bầy đám ấy đã bị lạc loài vì sự đe dọa của chúa sơn lâm? Dù sao tôi không thể đứng mãi đây suy đoán mông lung và sự tình ở trước mặt rõ ràng đòi hỏi giải quyết, hoặc là bỏ đi hoặc là cứu cấp. Tôi đang lưỡng lự giữa suy tính đó thì con vật-người - xin tạm gọi vậy - lại ngước nhìn tôi với vẻ đau đớn tột cùng rồi ngất lịm đi.
Bây giờ tôi mới thực đủ can đảm cúi xuống sờ vào người đó, nghe hơi nóng vẫn còn trong da thịt, hẳn là có thể sống đựơc. Tôi sờ soạng tìm chỗ ngực để nghe tim đập và thật thẹn thùng khi nhận biết rằng nạn nhân thuộc về giống loại đàn bà.
Con vật người này bị ra máu nhiều và ngất lịm thôi. Nó có sức khỏe, chắc cầm cự được với sự suy kiệt lâu dài. Mang được nó về, tôi hy vọng cứu nó thoát khỏi tay tử thần và đó cũng là dịp tốt giúp tôi tránh được những nghi kỵ của giống loại này, đồng thời đem lại cho ong già Chúp ít nhiều bạo dạn hơn trước.
Tôi bèn cúi xuống đỡ con vật-người kia dậy. Nó nằm mê man, các vết thương vẫn rỉ máu. Tôi phải đặt nó nằm cạnh bờ nước, rửa bớt những chỗ dính bê bết máu và xé khăn tay cột đỡ những chỗ không cầm máu được. Con đường về chỗ tạm trú còn xa, tôi không biết mình có đủ sức vác con vật-người này về tận nơi không. Hơn nữa, nếu tôi cố gắng đưa về tận nơi, liệu nó còn sống được chăng.
Giữa lúc tôi đang phân vân, bỗng nghe ngựa hí từ xa, ngẩng lên thấy ông già Chúp cưỡi con ngựa tía phóng đến. Ông ta nói lớn:
- Ông đi sao mà lâu thế? Tôi chờ suốt một buổi mai, vội vã đi tìm. Không nghe tiếng súng vừa rồi, dễ gì mà đến được đây?
Rồi không đợi tôi trả lời, ông già xuống ngựa chạy lại:
- Bắn được con mồi gì vậy?
Vừa thoạt nhìn thấy con vật-người kia, ông đã kêu lên:
- Trời ơi! Ông bắn nó sao?
- Không. Nó bị cọp vồ, tôi bắn cọp để cứu nó.
Ông ta lại cúi xuống nhìn:
- Con gì thế kia?
- Tôi cũng không biết là con vật gì. Có phải là dã-nhân không?
Ông Chúp nhìn kỹ, lắc đầu:
- Không phải là dã-nhân đâu. Có lẽ là con Xà Niêng.
- Xà Niêng?
- Tôi cũng chưa thấy giống này bao giờ. Từ lâu tôi chỉ nghe các ông già bà cả nói về nó thôi. Chắc là lâu nay chúng ta đã bị bọn nó quấy phá trong những đêm khuya.
Tôi cũng được nghe nói đến mơ hồ về giống loại này. Đặc tính của nó là mớ tóc rối như là bòng bong. Cha mẹ khi thấy con mình đầu tóc bù xù vẫn thường la bảo: trông giống như con xà niêng. Người ta mô tả về nó như một giống loại ma quỷ ở chốn rừng sâu. Bây giờ tôi đã được nhìn tường tận một con vật ấy trước mắt và tôi nhận thấy nó chẳng khác với loài người bao nhiêu, trừ những lông lá ở trên mình mẩy. Ông Chúp khi thấy rõ được kẻ đã ám ảnh giấc ngủ của mình trong bấy lâu nay, xem chừng đa vơi bớt nỗi lo sợ, cúi xuống hỏi tôi:
- Giờ tính sao đây?
- Mang về cứu cấp, hy vọng có thể sống được.
- Nó có chịu để cho ta săn sóc hay không?
Ông Chúp lộ vẻ suy nghĩ, rồi tiếp:
- Chỉ ngại đồng bọn của nó tưởng mình hại nó thì lôi thôi lắm. Chúng sẽ báo thù.
- Tôi nghĩ nó không khác với con người bao nhiêu, nó phải khôn hơn loài khỉ. Chúng ta đã giúp đỡ nó, tất nó phải biết. Con người có thể nhớ ơn với nhiều tính toán, nhưng loài vat thường trả ơn một cách sòng phẳng tự nhiên.
Tôi tiếp:
- Cho dù nó chẳng nhớ ơn thì cũng không sao. Chúng ta chẳng mong hưởng lợi khi làm như thế. Để cho nó chết ở đây là điều bất nhẫn, nếu chần chừ thêm tôi sợ không cứu sống được.
Ông Chúp gật đầu. Chúng tôi cùng khiêng con vật-người ấy lên ngựa, ràng buộc cẩn thận, rồi vội trở về. Qua một chặng rừng thật rậm, cây cối bủa vây giăng như một màng lưới bao la bỗng nhiên tôi nghe có những tiếng kêu ríu rít. Ông Chúp vội nói:
- Ông có nghe những tiếng gì đấy không? Những tiếng mà ta đã nghe trong những đêm khuya.
- Chắc là đồng bọn của con Xà Niêng.
Chúng tôi im lặng đi qua nhưng được một đoạn khá xa lại nghe những tiếng ríu rít như thế ở gần đâu đó bên mình. Ông Chúp bảo tôi:
- Chắc là chúng đến đòi lại đồng bọn.
- Nếu quả như thế chúng ta sẽ giao trả lại chứ giữ làm gì.
- Làm sao biết chúng có ý định ấy? Chỉ có một cách là chúng ta bỏ con vật này trên tảng đá nào đó rồi rình thử xem. Nếu chúng muốn thế thì chúng sẽ tới mang đi.
Ông Chúp nói thật có lý, nhưng ông quên con Xà Niêng cần được cấp cứu mới hy vọng sống. Bỏ nó nơi đây để chờ xem đồng bọn nó phản ứng ra sao thì chẳng khác nào coi sự chết sống của nó là chuyện dửng dưng. Hơn nữa, nếu đồng bọn chúng mang đi, chắc gì chúng có thể cứu nó được? Tin rằng loài thú có những khả năng cưu cấp hơn cả con người là chuyện phi lý. Nghĩ ngợi như thế, tôi bảo ông Chúp:
- Chúng ta cứ việc đi thôi.
Qua khỏi một thung lũng dài rồi băng qua một triền núi khá cao, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nghe tiếng kêu ríu rít như thế theo gần. Nhìn quanh không thấy một dấu vết nào khả nghi, không có một bóng dáng nào xuất hiện. Sự xuất nhập của loài này thật là kỳ diệu, và hẳn vì vậy mà những kẻ thường qua lại nơi chốn núi thẳm rừng sâu, nếu không dừng lại quá lâu như bọn chúng tôi, khó lòng biết được có chúng hiện diện.
Đến khi vượt qua một cánh đồng cỏ khá rộng cách quãng giữa hai dãy núi, chúng tôi không còn nghe những tiếng ríu rít kia. Có lẽ quang cảnh trống trải khiến loài Xà Niêng e sợ, và cho đến khi chúng tôi về nơi tạm trú thì không còn nghe chúng nữa. Tôi nói:
- Thế là ta đã rời xa được bọn chúng rồi
Ông Chúp đáp lại:
- Nhưng mà tối nay chúng sẽ lại đến cho xem.
- Càng hay, ta đã có một con tin, không sợ gì nữa. Bây giờ phải lo cấp cứu nó thôi.
Lập tức tôi bắt tay ngay vào công việc đó. Các vết thương được rửa sạch, được băng bó kỹ. Tôi cũng tiêm loại phòng ngừa bệnh sài uốn ván có thể gây ra do các vi trùng đủ loại ở nơi móng vuốt loài cọp, và để con vật chịu được đau đớn một cách dễ dàng, tôi chích thêm mũi thuốc ngủ với liều lượng nặng.
Loay hoay bao nhiêu việc đó thì trời gần tối. Tôi đem con vật-người ấy vào hang, đặt nằm trên một nệm lá và bên một bếp lửa lớn. Ông Chúp vừa lo cơm tối vừa theo dõi việc tôi làm một cách tò mò, dần dần cảm thấy thích thú vì được chứng kiến một việc khác lạ ơ trong sinh hoạt.
Con Xà Niêng đã làm chậm công việc đi vào Mả Voi của chúng tôi lại. Nhưng ngoài nhiệm vụ cấp cứu cho kẻ bị nạn, dù kẻ đó không thuộc hẳn vào giống loài người, chúng tôi còn bị thu hút trong sự tò mò về một chủng loại sống nơi rừng già mà từ trước giờ chỉ nghe nói tới một cách mơ hồ.
Già Chúp bảo tôi:
- Ông xem, con vật này có thể giúp chúng ta khiêng các ngà voi được chăng?
- Tôi chưa nghĩ đến điều ấy, nhưng nếu no chịu ở lại và giúp chúng ta thì tốt không biết chừng nào.
Ông Chúp đáp lại:
- Các loại thú rừng không ưa đời sống trói buộc và nếu lành các vết thương nó sẽ chạy trốn ngoài rừng. Muốn giữ nó lại, hãy cột vào một gốc cây.
Tôi có thoáng nghĩ điều này, nhưng nhìn con Xà Niêng kia mê thiếp với những vết thương tôi thật không đành. Nó có đầy đủ dáng vẻ để được xem như con người. Trói một con vật, điều ấy coi còn hợp lý, nhưng trói mot con người lại, thực là bất nhẫn. Tôi bảo ông Chúp:
- Để xem. Chúng ta còn có cách nào khác không?
- Không có cách nào khác đâu. Để tôi vào rừng chọn ít loại dây thật chắc và đánh kỹ lại mới giữ nó được.
Ông Chúp không thể nhìn con Xà Niêng bằng một đôi mắt nào khác. Theo ông, đó chỉ là một con vật không hơn không kém, và với những ý nghĩ thiết thực ông chỉ muốn sử dụng nó cho công việc mình.
Không đợi tôi có ý kiến, ông lặng lẽ đi vào rừng tìm các loại dây. Chẳng rõ khi muốn cột giữ con Xà Niêng lại ông có ẩn ý trả thù hay không, bởi nó và đồng bọn đã làm ông mất ăn mất ngủ nhiều ngày, khiến ông chập chờn, hoảng hốt không phải là ít.
Khi tôi cúi xuống sờ vào ngực con Xà Niêng để xem tim đập, tôi lại cảm thấy một nỗi sượng sùng. Đây là con vật giống cái, và một con cái còn trẻ qua cái dáng dấp khỏe mạnh, gọn gàng. Tôi chưa bao giờ có nhưng kiểu cách sỗ sàng với người đàn bà, và trong mối tình đầu tiên với người đã gieo cho tôi những nỗi đau khổ sâu xa, tôi vẫn luôn giữ một niềm tôn trọng, cả ở trong vòng thân mật. Thâm tâm, tôi chưa bao giờ nghĩ xấu về người đàn bà. Trái lại, tôi vẫn hiểu rằng con người có thể đạt đến tốt đẹp tuyệt vời nếu không bị những điều kiện xấu xa của một xã hội sa đọa làm cho hư hèn. Tôi cũng nhìn thấy những nỗi thiệt thòi, khó khăn ma người đàn bà phải chịu giữa cuộc sống này. Trong cái nhiệm vụ lưu tồn nòi giống, phát triển nhân loại, giống cái rõ ràng đã chịu vất vả hơn hết, thế mà cuộc đời đã chẳng đền bù cho họ được gì ngoài việc luôn luôn đoi hỏi nơi họ những sự hy sinh. Hy sinh cho con, hy sinh cho chồng, hy sinh cho những thành kiến hẹp hòi, hy sinh cho những quan niệm hủ lậu, cứ vậy họ bị dồn mãi trong thế bị động triền miên. Và đã bị động, làm sao tránh khỏi những thứ áp lực điêu ngoa của xã hội này?
Nhìn con Xà Niêng nằm phơi thân hình gần như trần truồng, tôi thấy ái ngại, lấy bộ quần áo của tôi mặc vào cho nó. Và mặc quần áo vào người, nó càng giống hệt như người. Tôi bỗng nghĩ rằng nơi hang hốc này lại có một cô thiếu nữ lạc loài tới nằm yên ngủ và tôi lấy làm kỳ quái cho ý nghĩ ấy. Khi ông Chúp về, mang một đòn dây khá lớn được đánh thật kỹ ngoài suối, tôi thật phân vân:
- Ong xem, có khác gì là người đâu? Ai nỡ đi trói một kẻ lâm nạn đến đây nhờ vả chúng ta.
Ông Chúp lầu bầu:
- Muốn nó ở lại thì không còn cách nào khác. Trói một thời gian, rồi nó quen đi.
Tôi không trả lời. Ông Chúp hiểu sự im lặng là cách đồng tình và ông tiến tới vòng dây thắt ngang lưng nó, cột lại, rồi dòng ra gốc cây lớn bên ngoài và quấn thật chặt. Tôi không đành lòng, bảo ông:
- Làm thế chỉ khiến nó càng sợ hãi và càng căm ghét ta thôi. Tốt hơn, chúng ta nên chắn lại một phần hang bên trong, như cái chuồng giam và để nó được thong thả. Nó cũng không làm hại gì ta được.
Ông Chúp nghe theo lời tôi, phụ lực với tôi đốn cây, đào đất, đưa con Xà Niêng vào hẳn bên trong, mở các dây trói rồi dựng một hàng rào cản thật chắc có cánh cửa lớn gài bằng cây ngang bên ngoài.
Phải mất một ngày chúng tôi mới dựng xong gian buồng ấy. Vào tối hôm đó, đang ngủ tôi bị đánh thức bởi tiếng ồn ào náo động bên ngoài. Ông Chúp đã dậy tự bao giờ rồi. Thấy tôi choàng tỉnh, ông nói:
- Bọn chúng lại đến. Coi bộ làm dữ hơn là mọi khi.
Giọng ông chỉ nghe một thoáng lo âu chứ không hoảng hot như là ngày nào. Tôi ngước nhìn ra, thấy một đám đông lố nhố, rõ ràng là những họ hàng Xà Niêng đang đứng chen chúc, nhiều lần như muốn vượt hàng rào lửa, tiến vào trong hang. Sợ chúng tràn vào, tôi rút khẩu súng ban dọa một phát cho chúng rút lui. Tiếng nổ làm chúng dạt ra, và tôi nã tiếp phát súng thứ hai. Tôi bắn đến phát thứ năm mới nghe im hẳn. Nhưng khi nằm xuống, chúng tôi nghe một tiếng hú não nùng vọng lại từ xa. Tiếng hú kéo dài trong nỗi đau thương được nối tiếp bằng nhiều tiếng hú khác cùng một âm thanh như thế. Họ hàng Xà Niêng bày tỏ nỗi niềm đau khổ, vì phải xa cách một kẻ thân yêu đó chăng?
Suốt quãng thời gian gần sáng, chúng tôi vẫn còn nghe chúng kéo đến lảng vảng nhưng không dám xáp lại gần cửa hang như trước. Chúng đi quanh quẩn, ríu rít, thở than qua tiếng hú dài, rồi lúc mặt trời hiện lên lại chìm khuất vào trong lòng rừng thẳm.
Đáng le chúng tôi phải vào Mả Voi hôm ấy vì đã bỏ mất mấy ngày chờ đợi, nhưng chúng tôi muốn nghỉ thêm một hôm xem con Xà Niêng có sống được không và nó phản ứng ra sao một khi tỉnh lại. Suốt ngày hôm đó nó vẫn nằm vùi, me man, hơi thở mệt nhọc. Tối đến, tôi nghe tiếng nó rên rỉ. Như thế, nó gần tỉnh lại. Giữa khuya, khi tôi tỉnh giấc rọi đèn bấm vào tôi thấy con Xà Niêng vẫn nằm thiếp nhưng bộ quần áo mà tôi mặc vào cho nó đã bị xé rach tả tơi, vứt bỏ đó đây từng mảnh.
Nghe động, ông Chúp hỏi tôi:
- Gì thế?
- Lại đây mà coi.
Ông Chúp ghe mắt nhìn vào, chép miệng:
- Uổng chưa. Nó đã quen sống như vậy, đâu có chịu được áo quần.
- Nhưng trông nó nằm như thế, thật là bất nhẫn.
Tôi nảy một ý, lấy kim chích thêm cho nó một mũi thuốc ngủ, rồi sau khi băng lại các vết thương, lấy dao cắt sát các móng chân tay khá dài của nó. Xong rồi tôi lựa bộ quần áo ấm vào loại dày nhất của tôi mặc vào cho nó. Tôi cũng cẩn thận gài nút ra phía sau lưng của con Xà Niêng, phòng khi tỉnh dậy nó khó tháo gỡ.
Ông Chúp nhiều lần tỏ ý muốn ngăn cản tôi, nhưng thấy thái độ sốt sắng của tôi, ông lại không nói thành lời. Khi tôi làm xong, ông bảo:
- Lỡ nó xé rách luôn bộ đồ ấy thì sao?
Tôi cười:
- Thì thôi, chứ sao. Nhưng tôi tin rằng nó chẳng xé rách nữa đâu.
Ông già nhìn tôi, lộ vẻ không tin. Qua ngày hôm sau, chúng tôi chuẩn bị đi vào Mả Voi. Sau khi cho thêm lửa vào trong hang, tôi đặt cạnh con Xà Niêng một mo cơm lớn, một ít thịt khô và vài thỏi đường. Tôi cũng để thêm vào đấy một ít trái rừng hái chín đã được sấy khô, và gàu nước suối được treo gần cửa ra vào. Thấy sự săn sóc của tôi, ông Chúp cười bảo:
- Nó sẽ chẳng ăn gì đâu. Quen những thịt sống và những cây trái ngoài rừng, nó đâu thèm các món này.
Đồ ăn mà tôi để lại dự tính đủ cho hai ngày, bởi tôi vào trong Mả Voi trở về cũng mất ba hôm. Con Xà Niêng còn ngủ vùi ít nhất một ngày mới tỉnh.
Chuyến này tôi muốn đi mau để sớm trở về. Tôi thấy nôn nao mong trở lại gấp để xem bệnh trạng của con Xà Niêng ra sao. Tôi cũng ngại nó đã thoát khỏi hang hoặc được đồng bọn kéo đến phá vỡ cửa rào kiên cố để mà giải thoát. Kể ra, tôi đã ngăn chặn thật kỹ trước khi ra đi, đã cột thêm dây mò tró, chèn thêm nhiều tảng đá lớn ngoài hang.
Lúc tôi trở về, môt số tảng đá ở nơi miệng hang đã bị xê dịch, nhưng vào bên trong, ngoại trừ bếp lửa tàn lụi còn chút hơi nóng thoi thóp, tất cả vật dụng vẫn nguyên như cũ. Trên nền đất có những vết chân nhỏ, đôi chỗ vết chân khá dày, chứng tỏ họ hàng Xà Niêng đã kéo vào đây.
Tôi vội vàng đến gian buồng nhờ ánh sáng từ kẽ đá bên trên hắt xuống lờ mờ như một bóng điện huyền ảo, thấy con Xà Niêng vẫn còn nằm đấy. Cửa buồng nguyên vẹn, đồ ăn thức uống được dùng cạn sạch.
Nghe động, con Xà Niêng bỗng ngồi dậy. Nó ngước đôi mắt sợ hãi nhìn tôi một cách chăm chú. Đôi bàn tay nó bực dọc sờ soạng lên mình như tự cảm thấy xa lạ trong bộ quần áo. Tại sao đồng bọn của nó không vào giải cứu? Đó là một điều khiến tôi hết sức phân vân. Tôi đem ý ấy nói với ông Chúp. Ông bảo:
- Có lẽ chúng sợ vì thấy ta rào cản quá kỹ chăng? Hoặc muốn chúng ta chữa lành cho con Xà Niêng rồi sẽ giải thoát?
- Nhưng biết đâu chúng cảm thấy xa lạ vì con xà niêng đã mặc áo quần? Có thể vì thế mà chúng bỏ đi cũng chưa biết chừng.
Ông Chúp gật đầu:
- Bọn chúng hẳn là một giống đa nghi, như tất cả loài vật sống trong rừng. Còn về phần con Xà Niêng, muốn lưu lại phải tìm những phương cách khác. Tốt nhất đó là món ăn. Vốn quen với những thịt sống, nếu tập dần ăn thịt nướng chắc nó sẽ phải thay ngon hơn. Ban đầu chỉ nên nướng chín một nửa để nó không thấy lạ lùng, muối cũng pha ít, tăng thêm mỗi ngày. Muối sẽ là món quan trọng để lưu giữ nó.
Tôi thấy ý kiến ông Chúp rất hay và đem thực hiện. Bây giờ công việc chúng tôi trở nên bận rộn vì sự chăm sóc con Xà Niêng này. Ở giữa núi rừng sâu thẳm, tự nhiên có một việc làm như thế, người ta dễ quên bớt nỗi hoang vu.
Trong thời gian con Xà Niêng chưa bình phục tôi cố gắng tranh thủ nó, để giữ nó lại chỗ hang hốc này. Nếu nó không bị suy yếu và gần như tê liệt hẳn một chân do các vết thương gây nên, tôi chắc nó đã bỏ đi từ lâu. Những ngày đầu tiên, khi nó tỉnh dậy và tôi tiến lại gần bên chăm sóc, tôi thấy vẻ mặt của nó cau lại một cách dữ dằn và cố lết vào một hốc đá gần, như tìm con đường lẩn trốn. Tôi phải ngồi yên khá lâu, giữ một vẻ mặt hiền từ để gợi thiện cảm. Rồi vừa tươi cười vừa có cư điệu nhẹ nhàng tôi tiến lại gần bên nó, chỉ vào các chỗ đã được băng bó. Con Xà Niêng cứ nhìn tôi chăm chắm, cuối cùng thấy tôi không làm gì để hoảng sợ, nó dịu mặt lại, ngồi yên. Tôi phải giữ ý hết sức khi băng bó các vết thương trên mình nó. Dần dà, nó không còn vẻ bực tức hay là sợ hãi như trước, chỉ lộ ít nhiều nghi hoặc rồi lại ngoan ngoãn ngồi yên để tôi săn sóc.
Tôi tự dành lấy phần việc đem lại thức ăn cho nó. Do sự suy yếu vì máu ra nhiều, do các vết thương làm cho cơ thể đuối liệt, con Xà Niêng đã ăn sạch những gì tôi đem cho nó hàng ngày. Được trên một tháng, tôi dọn những miếng thịt rừng nướng chín đặt cạnh những miếng thịt sống và tôi thấy nó không chạm tới thịt sống nữa. Rồi tôi dọn món thịt lạt đặt cạnh món thịt ướp muối và con Xà Niêng đã thấy thèm khát chất vị mặn mòi.
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản. |