tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
27.05.2009
Vũ Hạnh
Cô gái Xà Niêng

 


Tôi bảo ông Chúp:


- Hy vọng là nó sẽ ở lại với chúng ta


 Ông Chúp thở dài:


- Nó không ở lại, thiệt là dại khờ. Chúng ta chưa chăm sóc người thân nào của ta kỹ càng như vậy. Con tôi, vợ tôi, bây giờ sống ở một buôn nơi xa xôi, tôi nào có biết là họ ra sao? Vậy mà phải lo mọi việc cho “con rừng” này.


- Ông nói chỉ đúng một phần sự thực mà thôi, đó ông Chúp à. Không phải nó cần chúng ta mà chúng ta cũng cần nó. Ông xem, từ hôm có nó đến đây ông không còn lo sợ nữa. Nhớ mới ngày nào ông ăn không ngon, ông ngủ không yên, thảm não biết bao. Ông còn muốn nó giúp ta chuyên chở ngà voi trong thung lũng nữa.


Rồi tôi nói tiếp:


- Này ông Chúp xem, nó chỉ khác với chúng ta ở cách cảm thông với kẻ đồng loại và ở khả năng sử liệu dụng cụ để mà làm việc. Ta tập cho nó nói đi. Rồi tập cho nó quen những thói quen cần thiết của chúng ta nữa. Tôi tin là nó làm được.


Từ hôm mang về đến giờ, con Xà Niêng không mở miệng nói một lời nao. Tiếng nói ríu rít và tiếng hú dài của giống loại này chúng tôi chỉ được nghe ở nơi xa nên không có một ý niệm thật rõ về cách phát biểu, phát âm của nó. Dầu sao loài chim như sáo hay nhồng nói được tiếng người, thì con Xà Niêng có thể nói hơn như thế. Vả lại, ở giống loại này bộ não có lẽ đã được cấu tạo tinh vi hơn nhiều loại dã thú khác, và cái cốt dáng như người của chúng cho tôi hy vọng chúng sẽ nói được tiếng người và se cảm hiểu gần giống như người. Con Xà Niêng không phải là loài thú, nó là một thứ người rừng, và cái khuynh hướng của nó về những sinh hoạt đổi mới, nâng cao ắt hẳn phải có, như trong các loài sinh vật biết sống cao hơn cuộc sống bầy đàn.


Tôi nhớ lại ngày mang con Xà Niêng về hang và đồng bọn chúng theo mãi chúng tôi, lân la quanh quẩn, cho đến hôm chúng vào được bên trong rồi lại biến mất. Như thế, giống loại ấy rõ ràng có suy luận, dầu là đơn giản. Chắc rằng chính bộ quần áo của tôi mặc vào cho con Xà Niêng làm cho họ hàng Xà Niêng e ngại, coi đồng bọn mình như kẻ phản bội, một kẻ chấp nhận nếp sống khác lạ với mình, nên đã bỏ đi. Nhưng còn con người rừng này, liệu sự chăm sóc của tôi có quyến rũ nó được không, có làm nó quên được những họ hàng, quên được cuộc đời lang thang ở trong núi thẳm rừng sâu?


Tôi bèn nghĩ cách tập cho nó quen tiếng nói của mình. Mỗi lần đem các thức ăn, tôi nói thật rõ tiếng “ăn” và lặp nhiều lượt để gây ấn tượng về ngôn từ ấy. Những lúc tôi và ông Chúp ngồi lại dùng bữa, tôi cũng gọi thật lớn tiếng như thế, và lúc ban đầu tôi không cố tình ép nó ghi nhớ cho nhiều. Được vài hôm sau, đến giờ cho ăn, tôi cố tình quên mang lại thức ăn cho nó, và tôi ngạc nhiên vừa mừng rỡ biết chừng nào khi thấy con Xà Niêng ngước nhìn tôi, mấp máy đôi môi rồi nói một cách khó khăn tiếng “ăn” hay một âm thanh tương tự như thế. Tôi hỏi lại nó:


- Ăn?


Nó ra dấu hiệu như gật đầu. Tôi bảo ông Chúp:


- Ông xem, người bạn chúng ta đòi ăn rồi đó.


Tôi bèn mang thức ăn đến, không quên nhắc lại cái tiếng quen thuộc hàng ngày. Cứ thế con Xà Niêng đã nói được tiếng “ăn”, cảm hiểu với tôi một cách dễ dàng. Sau tiếng “ăn” đến tiếng “uống”, đến những động tác cụ thể và những việc làm có thể biểu diễn thành những cử điệu. Mỗi khi tôi nhắm mắt lại, nói “ngủ” con Xà Niêng ngoan ngoãn nghe theo lời và nằm lặng lẽ trên mớ lá dày, riu riu nhắm lại đôi mắt. Tôi điều khiển dần con Xà Niêng bằng những tiếng nói đơn giản, và qua nhiều ngày chúng tôi có thể cảm thông qua nhiều ngôn ngữ.


Ba tháng trôi qua, con Xà Niêng lành hẳn các vêt thương. Số ngà voi đã tích trữ được nhiều, chúng tôi nghĩ cách chuyển về tiêu thụ ở các thị trấn ven núi. Để con Xà Niêng lại đây là sự khó khăn nhưng mang về theo là cả vấn đề.


Tôi đưa ý đó bàn với ông Chúp, ông bảo:


- Hãy thả nó ra ngoài đi.


- Nếu nó lại chạy vào rừng?


- Kể cũng uổng công trong bấy lâu nay. Nhưng ông đã muốn giúp nó chữa lành được các vết thương, bây giờ đã lành thì tùy ý nó là hơn. Không ai ràng buộc được một giống loại khôn ngoan.


Ông Chúp nói đúng ý tôi trong buổi ban đầu nhưng từ khi con Xà Niêng đã biết trao đổi với tôi những tiếng đầu tiên và tỏ ra rất chăm chú bắt chước ngôn ngữ của người, thì ở nơi tôi nảy sinh một niềm quyến luyến. Dầu sao ông cũng có lý: ràng buộc được một giống loại khôn ngoan là chuyện khó lòng.


Và tôi định qua ngày mai, sau bữa cơm sáng, đưa nó ra khỏi gian buồng phải bị cầm giữ lâu nay.


Lúc tôi mở rộng cánh cửa, con Xà Niêng vẫn không có một cử động nào. Nó ngồi chăm chú theo dõi hành động của tôi, không lộ mảy may xúc động. Tôi chỉ lối đi đã được khai thông, đưa tay làm dấu mời mọc, và bảo nhẹ nhàng:


- Đi ra.


Con Xà Niêng ngước nhìn tôi, lộ vẻ muốn hỏi tất cả sự việc như thế có nghĩa là gì. Trên khuôn mặt đã hòa dịu, như có một vẻ giễu cợt hay một nụ cười. Tôi lặp lại một lần nữa:


- Đi ra!


Con Xà Niêng vẫn không chịu nhúc nhích.


- Này ông Chúp ơi, ta làm cách nào bây giờ?


- Chờ xem.


- Thế mà cứ sợ nó bỏ chúng ta đi mất.


- Chắc nó đang nghi kỵ mình muốn giở trò gì, và nó tìm hiểu. Khi hiểu rằng mình để nó tự do, nó sẽ quyết định


- Theo ông, nó sẽ quyết định thế nào?


- Tôi nghĩ nó không ở lại với chúng ta đâu.


- Tôi thì nghĩ khác. Tôi đoán nó sẽ ở lại với chúng ta đó.


- Để coi.


- Mình cuộc gì nào?


- Tùy ý ông đấy.


- Nếu ông đoán đúng, tôi sẽ…


Tôi không biết phải chịu mất cái gì cho ông Chúp. Ở đây gần như tôi không có gì để mất. Và nếu tôi thắng, ông Chúp cũng chẳng có gì để mà đền bù. Nhưng ông Chúp đã mỉm cười, bảo tôi:


- Từ lâu cái gì của ông cũng như là của tôi rồi. Ngược lại, phần tôi cũng thế. Mình nói cho vui, đánh cuộc với nhau làm gì. Này xem, con Xà Niêng muốn đứng dậy…


Tôi thấy nó nhổm người lên rồi lại ngồi xuống, cặp mắt lấp láy một vẻ lém lỉnh. Tôi tiến lại gần, nắm cánh tay nó dìu lên. Con Xà Niêng thoáng một vẻ phản ứng nhưng tôi vốn quen thuộc quá và nó hiểu tôi không hề hại nó bao giờ. E dè nó nhìn về phía ông Chúp. Liệu người đang ngồi phun khói nơi miệng đằng kia có ý gì hại nó không? Tôi bèn khích lệ:


- Đứng lên. Hãy đi ra ngoài hang nào.


Rồi tôi dìu nó bước lần ra ngoài. Con Xà Niêng ngập ngừng bước theo tôi rồi lại liếc nhìn ông Chúp.


- Ông Chúp đấy mà. Ông Chúp thật là tử tế, không làm hại gì ai đâu.


Tuy nhiên tôi thấy khó khăn tìm một tiếng gọi con Xà Niêng này. Bây giờ tôi không thể dùng tiếng “nó”, và khi đối thoại, tôi cũng không thể dùng tiếng “mày, tao”. Ở trong đời sống hàng ngày, tôi cũng không quen dùng các tiếng ấy với bất kỳ ai, dù là ngang hàng hay là bé nhỏ hơn mình. Vậy gọi con Xà Niêng này bằng gì? Coi như súc vật là điều bất nhẫn, mà đối như người kể cũng khó khăn. Cuối cùng tôi bèn dùng lối cười cợt để vượt qua chướng ngại này. Tôi bảo con Xà Niêng rằng:


- Bây giờ thì… “cô” lành rồi và “cô” có thể tự do. Muốn đi, hay là muốn ở, đều tùy “cô” cả. Đây là hang hốc tối tăm, chật hẹp, và kia là núi, là rừng mênh mông. “Cô” có toàn quyền lựa chọn.


Ra tới miệng hang, con Xà Niêng hơi chóa mắt vì mấy tháng nay ở mãi trong bóng tối mờ chỉ được soi sáng bằng bếp than hồng. Nó ngước nhìn tôi, bỡ ngỡ. Tôi nói thêm một câu nữa:


- Bây giờ “cô” quyết định đi.


Và tôi đưa tay chỉ vào trong hang rồi lại chỉ ra ngoài rừng.


Con Xà Niêng lộ vẻ muốn tìm hiểu toi nói gì. Tôi bèn dắt nó đi thêm một quãng, rồi tôi buông tay, lặng lẽ quay lại hang đá.


Một lát, nhìn lại tôi thấy nó đang quay nhìn theo tôi, rồi đảo mắt nhìn chung quanh với vẻ e dè. Trông nó có vẻ lạc loài tội nghiệp. Nhiều lần tôi muốn hú gọi nó lại, nhưng tôi nghĩ nên để nó tự do là hơn. Nếu nó không thích, tôi sẽ không có cách nào giữ được khi tôi còn sống trong chốn rừng già.


Gần đến miệng hang, quay lại tôi thấy con Xà Niêng chạy như biến vào rừng. Tôi gọi ông Chúp:


- Nó đã bỏ chúng ta mà đi rồi.


Ông Chúp nheo mắt nhìn đám cây rừng lớp lớp ngoài xa:


- Nó phải về với bầy đàn, chứ ở với ta sao được.


- Nếu đã chịu cuộc, thì ông thắng rồi.


Ông Chúp cười bảo:


- Ấy chính vì thế mà tôi không chịu cuộc đấy.


Rồi ông chép miệng:


- Biết vậy, đừng cho nó mặc bộ áo quần tốt, phí của.


Chúng tôi nói chuyện vẩn vơ vài câu rồi cùng ngồi im. Sự cô độc dễ xảy ra với hai người. Khi một trong hai người không muốn nói, người kia không cách nào gợi chuyện được.


Chúng tôi còn ngồi khá lâu sau khi con Xà Niêng đã đi rồi mà không ai nói với ai lời nào. Dù sao, sự nó ra đi tạo một khoảng trống trong cuộc sống chúng tôi. Ở trong tâm tư mỗi người có mối suy tưởng khác nhau. Phần tôi, một nỗi lưu luyến âm thầm đối với con người rừng ấy đã được hình thành và tôi cảm thấy nỗi buồn thấm thía của sự thiệt thòi. Tôi không mong gì gặp lại con Xà Niêng lần thứ hai, và cái dịp tốt được cấp cứu nó thoát khỏi tai nạn ở chốn rừng sâu chẳng còn bao giờ có thể xảy ra. Phần ông già Chúp thì lại khác hẳn. Tôi nghĩ ông đang bắt đầu lo sợ mọi điều về sự ra đi của người rừng ấy. Ông sợ báo thù, sợ những xuất hiện kỳ quái khác nữa, sợ về những nỗi bất trắc khôn lường của một ngày mai.


Như để trả lời cho sự suy đoán của tôi, ông đột ngột nói:


- No đã biết rõ chúng ta, biết nhiều quá rồi, bọn nó có thể phá phách hơn trước.


- Trước kia chúng chỉ tò mò chứ có phá phách gì đâu?


- Bởi vậy bây giờ mới thật đáng sợ.


- Thôi đi, ông Chúp. Ông có quá nhiều những nỗi lo sợ vẫn vơ chỉ làm cho ông mệt lòng vô ích. Giống Xà Niêng này là một giống loại rất hiền. Có thể nó hơi đa nghi hơn loài khỉ vượn vì nó gần gũi với con người hơn, có những khả năng suy tính tương tự như người. Nhưng nhất định nó không phải là loại thú rừng hung bạo thèm ăn thịt sống hay thèm giết chóc.


Buổi tối, sau khi con Xà Niêng đã đi rồi, chúng tôi lại rơi vào trong tình trạng im lìm, cô độc. Chúng tôi đi ngủ thật sớm, nhưng cả hai nằm yên lặng bên lửa không buồn chuyện trò. Tôi cảm thấy rõ con người vốn thích săn sóc kẻ khác cũng như thích được kẻ khác săn sóc. Từ lâu chúng tôi bị giam hãm trong cằn cỗi, tất cả năng lực đều được chuyển thành khả năng đối phó với một thiên nhiên bất trắc, do đó những gì là nỗi khát vọng âm thầm ở nơi lòng mình đã được biến chất hoặc trở thành sự dồn nén mỗi ngày một lắng sâu thêm. Con Xà Niêng đã khơi dậy nơi lòng chúng tôi những nỗi khao khát tiềm tàng, và khi nó đã đi rồi tôi mới nhận rõ điều ấy.




 


Buổi sáng hôm sau, khi tôi thức giấc đã nghe có tiếng khua động bên ngoài. Ông Chúp đang nấu nước sáng cũng ngẩng đầu lên, có vẻ chăm chú. Rồi không ai bảo ai chúng tôi cùng chạy ra ngoài cửa hang. Nhìn quanh, không thấy gì hết, chúng tôi bước thêm ít bước ra ngoài. Ông Chúp bỗng kêu to lên:


- Coi kìa!


Theo hướng tay ông, tôi thấy con Xà Niêng ngồi ep mình trong một bụi cây, trần trụi như là hôm nào. Chỉ ở bên phải còn vướng một nửa tay áo, còn thì tất cả vải bô đã bị cởi bỏ, hay là xé nát, và thân hình mang đầy vết cào cấu. Con Xà Niêng lại bị cọp vồ sao?


Tôi bước đến gần, nó ngước nhìn tôi co ro như kẻ đói lạnh, cặp mắt trở nên hiền dịu đượm ý van lơn. Ở trên da thịt có nhiều vết máu, không phải vết sâu và mạnh như những vết cọp hôm nào. Tôi cúi xuống kéo nó lên, vừa chạm đến tay nó rụt người lại, cau có nhìn tôi một cách khó chịu đầy ý nghi ngờ, căm giận. Tôi vỗ về nó:


- Nào ngoan đi xem, chẳng ai làm gì hại tới cô đâu.


Hẳn con Xà Niêng không thể hiểu điều tôi nói. Nhưng tôi hy vọng bằng loại trực giác nào đó nó cảm thông được tôi không có ý hại nó mà chỉ muốn giúp đỡ thôi. Con Xà Niêng lại ngồi im, tôi lại dỗ dành:


- Đứng lên, vào trong hang đi.


Sau một đôi chút do dự, con Xà Niêng bèn đứng lên, dáng vẻ lúng túng. Tôi hỏi ông Chúp:


- Cô ta thấy ngượng ngùng sao?


- Không đâu. Nó bị cào cấu khắp mình, chắc là đau đớn.


- Nếu cuộc, bây giờ tôi thắng cuộc rồi. Tôi bảo nó trở lại mà.


Ông Chúp bật cười:


- Hai chúng ta đều thắng cả.


Đoạn ông chép miệng:


- Mất một bộ quần áo tốt.


Ông có vẻ muốn nói nữa nhưng giữ im lặng. Tôi đón trước ý nghĩ ấy:


- Mình phải mất thêm một bộ quần áo nữa rồi. Đừng lo, nay mai về chợ rồi sẽ mua sam.


Đưa con Xà Niêng vào hang tôi xem xét kỹ các vết thương trên mình nó. Những vết cào cấu khá dài như những móng tay sắc bén nhưng không phải là vuốt nhọn của loài thú dữ. Tôi băng bó lại cẩn thận rồi tiêm một mũi thuốc mê. Sau khi nó chìm sâu vào giấc ngủ, tôi lấy bộ quần áo khác mặc vào cho nó.


Mười giờ đêm, vừa đi nằm chúng tôi nghe tiếng xao xác bên ngoài. Ông Chúp nhổm dậy:


- Chúng đến!


Tôi cũng ngồi yên, yên lặng nghe ngóng.


- Này ông Chúp à, ông có nghĩ rằng đồng bọn con Xà Niêng này gây thương tích cho nó không?


Ông Chúp lộ vẻ suy nghĩ nhưng không trả lời. Mảnh áo còn sót lại trên tay con người rừng ấy và cái dấu vết cào cấu không phải là của cọp beo đã làm cho tôi ngờ vực… Họ hàng Xà Niêng có lẽ từ lâu đã chờ đợi cô gái ấy trở về, nhưng kẻ quay về đã thành xa lạ với bộ quần áo trên mình khiến chúng nghi hoặc và thành giận dữ. Thay vì mừng đon một sự sum họp bất ngờ, chúng đã xông vào xé cho tan nát dấu vết quá xa lạ kia. Và con Xà Niêng sợ hãi tìm đường trốn chạy. Nó tìm đến với chúng tôi, tìm sự che chở yên lành, và bởi chúng tôi không có móng vuốt cua loài dã thú.


Tôi đem sự suy luận này nói với ông Chúp, và ông gật đầu tỏ ý tán thành.


Tôi suy đoán tiếp:


- Có lẽ họ hàng Xà Niêng tưởng rằng nó sẽ trở lại sau cơn hành hạ, nào ngờ nó đã đi luôn. Chắc suốt đêm qua nó ở ngoài rừng chờ đợi chúng ta thức giấc. Và ngày hôm nay, khi nó vào đây thì đồng bọn nó vẫn còn chờ đợi. Mãi đến tối nay vẫn không thấy bóng dáng nó, bà con suốt ruột đi tìm. Chúng biết rõ con Xà Niêng quay lai nơi đây. Một điều lưu ý là nơi trú ẩn của chúng hẳn gần đây thôi. Rõ ràng ta đã tìm tới một miền đất lạ, thật là xa khuất, có lẽ ít người lui tới xưa nay. Miền của Mả Voi, của giống Xà Niêng, chắc còn bao nhiêu vật kỳ quái khác cũng chưa biết chừng.


Lúc ấy, ở ngoài cửa hang tiếng nói ríu rít tăng dần, những bước di chuyển dồn dập xem ra nóng nảy bồn chồn. Chúng tôi cùng ngồi cả dậy, cầm lấy vũ khí ra ngoài. Qua ánh lửa hồng nhiều khuôn mặt lạ nhốn nháo, tôi nhận ra dần gia đình Xà Niêng với đủ khuôn mặt già trẻ khác nhau. Khi thấy chúng tôi, cả đám bỗng im như đang chờ một phản ứng.


Hai bên nhìn nhau một lát, không nói năng gì. Lửa hồng cháy sang phần phật với những tiếng nổ lách tách giòn tan, bên ngoài là tiếng hú của gió ngàn qua những lá cành, tiếng thác đổ dồn từ xa, tiếng loài thú dữ tìm mồi lùng lội đây đó vọng lại như một đe dọa thường xuyên của chốn rừng đêm. Ông Chúp quay sang bảo tôi, giọng đầy xúc động:


- Nổ súng đi thôi.


Tôi khẽ lắc đầu, bảo nhỏ:


- Để xem bọn họ muốn gì. Nếu họ quả không có ý làm hại chúng ta thì đừng nên đe dọa họ.


Tôi làm thinh tiến bước tới, đi về phía đám Xà Niêng lố nhố bên ngoài. Vừa tới đống lửa, tôi đang lưỡng lự không biết có nên thử lách ra ngoài xem phản ứng chúng ra sao, bỗng chúng kêu lên một tiếng rồi biến trong đêm. Tôi đứng thật lâu chờ đợi, vẫn không thấy chúng thấp thoáng. Tôi bảo ông Chúp:


- Ông xem, chúng đã đi rôi. Rõ ràng chúng không muốn hại ta đâu.


Ông Chúp đáp lại:


- Ông hiểu bọn chúng hơn tôi.


Câu nhận xét ấy làm tôi suy nghĩ. Tôi có thật hiẻu giống Xà Niêng kia hơn ông Chúp không? Nếu tôi có vẻ như đoán được những ý nghĩ của chúng rõ hơn ông ta hẳn vì tôi có cái nhìn khác ông về giống loại này. Tôi vẫn xem chúng như một giống loại gần gũi của người, một hình ảnh người, dù là hình ảnh vụng về mờ nhạt, và chúng có thể phản ứng không quá khác xa với người. Ông Chúp quan niệm về chúng rất là đơn giản. Ông chỉ thấy đó là một loài vật như bao nhiêu loài vật khác trong chốn rừng xanh. Trong mọi suy luận, ông đều gạt chúng khỏi lãnh vực người, không muốn xem như những kẻ có thể gần gũi với mình. Phải chăng như thế ông đỡ cảm thấy khó chịu, bởi không thể nào chấp nhận một sự tự hạ qua so sánh ấy.


Khi chúng tôi trở vào hang, vừa nằm xuống bên đống lửa bỗng nghe một tiếng hú dài rền rĩ cất lên. Tôi không làm sao tả lại được tiếng hú ấy vì nó thật là lạ lùng. Ông Chúp nhận xét:


- Nghe sao buồn quá.


- Chúng thương nhớ con Xà Niêng này chăng?


Rồi tôi cố gắng giải thích:


- Có lẽ sau những hành động tàn bạo khiến con Xà Niêng bỏ đi, họ hàng nhà nó cảm thấy hối hận. Hối hận gây ra đau khổ…


Ông Chúp ngồi lên, kheu lại bếp lửa cho cháy sáng thêm, không nói năng gì. Hình như những lời dẫn giải của tôi thật quá xa vời, ông khó cảm thông, nên chẳng quan tâm.


Bên ngoài tiếng hú càng kéo dài ra, rền rĩ, xen lẫn với tiếng gió rít trong cây, thác đổ xuống ghềnh. Tôi nhìn về con Xà Niêng. Liều thuốc ngủ mạnh nên nó vẫn còn nằm im như chết.


- Ông Chúp, nếu nó tỉnh thức, sợ nó chạy theo tiếng hú kia thôi. Chỗ ngăn giữ này chỉ là tạm bợ. Nếu muốn vượt thoát, nó vẫn phá vỡ dễ dàng. Nhất là những ngày chúng ta đi khỏi, vào trong Mả Voi, ai mà cản nó trốn chạy vào rừng.


- Mình không cách gì giữ nó đựơc sao?


- Nó cũng như người, không thể giữ bằng trói buộc mà bằng tình cảm. Ông xem, chúng ta săn sóc như thế cũng là một cách giữ nó. Chẳng vậy mà nó không chạy tới chỗ nào khác, lại tìm đến ta trong lúc nguy nan.


Tôi bắt đầu thấy nơi con Xà Niêng có sự thay đổi. Ít nhiều, đối với chúng tôi, nó đã quyến luyến, vì đã tin cậy. Giữa cái đời sống rừng rú đầy sự cấu xé bạo tàn, con Xà Niêng chỉ trông chờ sự giúp đỡ của đồng bọn. Từ bao nhiêu đời trải qua, trong một cuộc sống âm thầm khắc nghiệt, con Xà Niêng thấy chung quanh chỉ có kẻ thù, chỉ có vô số khuôn mặt tàn bạo chờ để giết hại hoặc uy hiếp nó. Cái dáng mềm mại của một con trăn hay vẻ uyển chuyển của một con hổ đều ngầm chứa một tai họa lớn lao. Bởi vậy, khiếp sợ chung quanh, nghi ngờ kẻ khác, thành một bẩm tính ăn sâu vào trong máu tủy nó rồi.


Nhưng từ khi gặp chúng tôi, con Xà Niêng hẳn thấy khác. Giống vật đánh ngã được cọp, cứu nguy được nó, phải là một kẻ hung hãn khác thường. Thế mà ngược lại, chúng tôi đã săn sóc nó, đã nuôi dưỡng nó hơn cả đồng bọn, đồng loài của nó xưa nay.


Khi tiếng hú dài não nuột tắt trong đêm khuya của chốn rừng núi âm thầm, tôi còn nằm bên đống lửa đợi chờ giấc ngủ. Lúc tôi bắt đầu đi vào trong cơn mê thiếp, tôi nhớ mơ hồ như tiếng hú ấy lại văng vẳng lên trong chốn xa vời. Chẳng rõ đó là tiếng vang vọng lại từ những cổ họng buồn thương của đám Xà Niêng lang thang, hay là dư âm phảng phất của một hồi tưởng mơ hồ?


Qua ngày hôm sau, chúng tôi chuẩn bị thu xếp vài hôm rồi chuyển ngà voi về chợ. Vấn đề khó nghĩ đối với chúng tôi, là con xà niêng sẽ như thế nào? Để nó ở lại một mình là chuyện không thể. Hay là thả nó quay về lại với đồng bọn? Nhưng nó chịu quay về không? Và thả về trong trạng thái trần trụi hay cho mặc quần áo người để nó lại bị đồng bọn tấn công? Tôi vốn không muốn nó quay về lại cuộc sống hoang dã mà mong mỏi đưa nó ra khỏi những sinh hoạt sơ khai để vào cuộc sống loài người.


Tôi bày tỏ nỗi băn khoăn với ông già Chúp. Ông nói:


- Thật là khó nghĩ, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác. Đành cho nó quay về với bà con nó thôi.


- Thế đem nó theo được không?


- Tôi ngại nó chẳng chịu đi. Hơn nữa, ra các buôn ngoài sợ còn gặp những khó khăn.


- Tôi không muốn nó phải quay về rừng.


(Còn tiếp)


Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »